KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Kỹ thuật trồng đậu cove
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng đậu cove
KỸ THUẬT TRỒNG ĐẬU COVE Phaseolis vulgaris L. I. GIỐNG - Phân biệt theo dạng hình của cây có 2 loại: + Đậu cove lùn (sinh trưởng hữu hạn): Cây cao trung bình 50cm, năng suất thấp. Nhóm này không có giống địa phương, có một số giống nhập nội thích hợp với vùng ĐBSCL có thể canh tác để phục vụ cho công nghiệp đóng hộp trái tươi. Giống đậu rất thuận lợi cho việc canh tác bằng cơ giới (vì có thể thu hoạch một lần) và dễ trồng xen với hoa màu khác để tăng thu hoạch trên diện tích hoặc trồng ở những nơi khó khăn về cây làm giàn. + Đậu cove leo (sinh trưởng vô hạn): Thân dài 2,5–3 m, trong canh tác phải làm giàn, thời gian sinh trưởng 90-100 ngày, năng suất từ 15-20 tấn/ha. Đậu cove leo được trồng phổ biến ở ĐBSCL từ trước đến nay. Các giống hiện đang được ưa chuộng: * Giống đậu của công ty cây giống Miền Nam, chịu nóng tốt, kháng bệnh tốt, hạt to, đen, hoa màu tím, phát hoa dài, hoa nở 40 ngày sau khi gieo, hoa ít rụng và đậu trái tốt. Trái thẳng, dài trung bình 14-16cm, màu xanh nhạt, phẩm chất ngon, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Bắt đầu cho thu trái 50-55 ngày sau khi trồng. * Giống Sư Tử (Lion Seed) của công ty Trang Nông đang được trồng phổ biến ở Cần Thơ, hoa màu tím, trái màu xanh trung bình, chiều dài trái 14-16 cm, đường kính trái 0,7-0,8 cm, hạt già màu đen, trọng lượng trái 15-18 g, chất lượng trái ngon ngọt, có thể trồng quanh năm. - Phân biệt theo màu sắc hạt có 3 loại: + Giống hạt đen: có giống địa phương, Công ty giống Miền Nam, Hai Mũi Tên Đỏ, Trang Nông. Hoa màu tím, thân và cọng lá có vệt tím, lá xanh đậm, tăng trưởng mạnh, đâm chồi tốt, ra hoa nhiều, dễ đậu trái, trái dài màu xanh nhạt và đậm, hạt chậm to nên năng suất cao và phẩm chất tốt, tính chịu nóng cao và kháng bệnh tốt hơn, dễ dàng trồng trong mùa mưa. + Giống hạt trắng: Có giống địa phương, giống Đài Loan, hoa màu trắng, lá xanh trung bình, tăng trưởng yếu, ra hoa đậu trái kém và năng suất kém hơn giống hoa tím. + Giống hạt nâu vàng: Nhập từ Nhật của hãng Takii, hoa trắng, trái xanh nhạt, phẩm chất ngon và rất được ưa chuộng. II. KỸ THUẬT TRỒNG ĐẬU COVE LEO 1. CHỌN GIỐNG + Giống đậu cove của công ty cây giống Miền Nam + Giống Sư Tử (Lion Seed) của công ty Trang Nông 2. THỜI VỤ Vùng ĐBSCL có thể trồng đậu cove quanh năm trên đất chuyên rẫy, nhưng thời vụ chính là Đông Xuân, gieo vào tháng 11-12 dl. 3. CHUẨN BỊ ĐẤT - Chọn đất cao, thoát nước tốt, cày bừa kỹ, làm sạch cỏ, những nơi đất thấp phải lên liếp cao 15-20 cm, nếu trồng mùa mưa nên lên liếp cao 40-50 cm để dễ thoát nước, đất không bị úng. Nên trồng hàng đơn trên liếp, hàng cách hàng 1,2-1,4 m. Trồng hàng đơn, đậu cho thời gian thu hoạch trái kéo dài hơn so với trồng hàng đôi và dễ dàng chăm sóc. 4. GIEO TRỒNG Lượng hạt giống gieo 30-40 kg/ha, gieo khoảng cách trên hàng 20-30 cm, mỗi lỗ gieo 2-3 hạt. 5. CHĂM SÓC - Bóm phân: Lượng phân bón cho 1 ha Loại phân (kg/ha) Tổng số Bón lót Ngày sau khi gieo 5-10 20-25 45-55 Vôi 500 500 - - - Hữu cơ vi sinh 2000 2000 - - - 16-16-8 500 300 - 200 - Urea 100   20 - 80 DAP 100   30 - 70 KCl 100   - 50 50 - Có thể sử dụng phân bón lá Sapphire phun định kỳ 7-10 ngày/lần ở giai đoạn cây con giúp bộ rễ phát triển mạnh, sử dụng Ruby, Canxi bo phun định kỳ 7-10 ngày/lần vào giai đoạn chuẩn bị ra hoa và đậu trái giúp tăng khả năng đậu trái và dưỡng trái to, đẹp màu. - Tưới nước: Tưới mỗi ngày 1 lần vào buổi sáng hoặc buổi chiều lúc cây còn nhỏ. Tưới thấm khi cây lớn vì lúc này cây phát triển tối đa, bộ lá lớn, phiến lá to, cây yêu cầu nhiều nước. Thiếu nước cây phát triển kém, trái nhỏ, mau già nhiều xơ, giảm năng suất và phẩm chất trái tươi. - Làm giàn: Khi cây bỏ vòi thì bắt đầu làm giàn (sau khi bón thúc lần 2) có thể dùng tre, trúc để cắm giàn, thân đậu bò dài hơn 3m. 6. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH - Sâu hại + Dòi đục lòn (Liriomyza trifoli): Ấu trùng của ruồi nằm ở phần trên của vách tế bào và dưới lớp biểu bì của lá, chúng gây hại bằng cách đục những đường hầm kín màu trắng và nhỏ, những đường hầm này sẽ rộng ra khi ấu trùng lớn. Chúng có thể gây cho lá bị khô, làm giảm khả năng quang hợp, kết quả là ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của trái. Khi dịch hại nặng có thể gây chết dây, và mật số dòi thường phát triển mạnh theo sự tăng trưởng của dây và càng nghiêm trọng về cuối vụ. + Sâu đục trái (Maruca testulalis): Phá hại lúc trái non đang phát triển. Phòng trừ nên phun sớm thuốc Vua sâu ở giai đoạn trổ hoa. + Rầy mềm (Aphis spp.): Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ, dài khoảng 1-2 mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non, từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây đậu chùn đọt và lá bị vàng. Rầy truyền các loại bệnh do virus gây ra như khảm vàng. Phun thuốc trừ rầy Chet 555 để phòng trừ. - Bệnh hại + Bệnh héo cây con do nấm Rhizoctonia solani chủ yếu gây hại ở giai đoạn cây con. Gốc thân cây bệnh có sợi nấm màu trắng dễ nhận thấy vào buổi sáng, hạch nấm tròn đường kính 1-2 mm màu nâu. + Bệnh héo cây con do nấm Fusarium oxysporum f. sp. phaseoli gây ra, bệnh thường xuất hiện sớm khi cây mới mọc mầm. Rễ cái cây nhiễm bệnh bị mất màu, dần dần chuyển sang nâu, nứt nẽ, rễ nhánh mọc trên phần rễ bị mất màu và ăn lan trên mặt đất. Nấm tồn tại trong đất 5 năm, do đó nếu trồng liên tục đậu sẽ làm gia tăng mật số nấm mỗi năm. => Bón vôi trước khi gieo hạt. Phun Biorosamil khi vừa xuống giống cây con và 10 ngày sau phun lại lần nữa để phòng trừ 2 bệnh trên. + Bệnh đốm vi khuẩn (cammon blight) do vi khuẩn Xanthomonas phaseoli. Bệnh gây các đốm cháy rộng trên lá, trái đậu có những đốm nhỏ, xanh nhạt, nhũn nước, sau đó trở nên nâu và khô, trái có hình dạng bất thường. Trong điều kiện ẩm độ cao, đốm bệnh sinh sản nhiều bào tử. Sử dụng Pyramos 40SL hoặc Kasuduc 3SL phun khi cây vừa chớm bệnh, và vào đầu mùa mưa. + Bệnh đốm lá do nấm Cercospora canescens và C. cruenta. Đốm bệnh trên lá gây bởi C. canescens thì tròn đến hơi có góc cạnh với tâm màu nâu, viền xung quanh màu nâu đỏ. Đốm bệnh do C. cruenta gây trên thân trái chín, đốm có màu nâu đến màu rỉ sét, hình dạng kích thước không đều, nấm phát triển ở mặt dưới lá và nơi vết bệnh có thể rách. + Bệnh phấn trắng (Downy mildew) do nấm Erysiphe poligoli. Vết bệnh đầu tiên là đốm mất màu, dần biến thành trắng xám, lá non cuốn lại, chuyển sang vàng và rụng, trái còi cọc. Bệnh thường phát triển vào giai đoạn cuối thu hoạch. =>Phòng trị: Phun Aviando 50SC hoặc BioRosamil khi cây vừa chớm bệnh.  * Sử dụng Amity Top 500SC phun định kỳ 10 ngày 1 lần ở giai đoạn cây trưởng thành đến khi cho trái để phòng ngừa các dịch bệnh gây hại trên đậu cove. Ngưng sử dung thuốc trước khi thu hoạch từ 15-20 ngày. 7. THU HOẠCH Sau khi trồng 50-55 ngày bắt đầu thu hoạch, có thể thu hơn 10 lứa tùy theo cách chăm sóc. Nên thu đúng lúc, khi vỏ trái có màu xanh mượt và hạt mới tượng, nếu để trái già sẽ cứng, có nhiều xơ, phẩm chất kém. Công ty cổ phần BVTV Delta
Các dạng thuốc bảo vệ thực vật
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Các dạng thuốc bảo vệ thực vật
CÁC DẠNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT - Tùy vào đặc tính lý học của hoạt chất, hoặc tùy vào mục đích sử dụng, thuốc bảo vệ thực vật có nhiều dạng thành phẩm khác nhau. Dạng thuốc được thể hiện qua tên của sản phẩm dưới dạng viết tắt của từ tiếng Anh. - Ví dụ, dạng thuốc Kasuduc 100WP, được thể hiện bằng chữ WP, viết tắt của Wettable Powder, có nghĩa là bột thấm nước hay bột hòa nước. - Sau đây là một số dạng thuốc phổ biến và những lưu ý khi sử dụng: 1. THUỐC DẠNG HẠT HOẶC BỘT, KHI DÙNG KHÔNG HÒA VỚI NƯỚC: a/ THUỐC HẠT: - Ký hiệu: G hoặc GR (viết tắt của từ Granule). Ví dụ: Passport 200GR - Thuốc hạt được rải trực tiếp vào đất, không hòa với nước. Để lượng thuốc được rải đều trên ruộng, nên trộn thuốc với phân bón hoặc cát để rải. - Riêng đối với Passport 200GR, có thể trộn thuốc với giống hoặc phân bón để rải đều trên ruộng, đồng thời giúp bảo vệ hạt giống khỏi sự phá hại của ốc bươu vàng. b/ THUỐC BỘT RẮC: - Ký hiệu: D (viết tắt của từ Dust) - Thuốc bột rắc được dùng để rải lên mặt đất hoặc trộn với hạt giống. 2. THUỐC DẠNG HẠT HOẶC BỘT, KHI DÙNG PHẢI HÒA VỚI NƯỚC: a/ THUỐC HẠT PHÂN TÁN TRONG NƯỚC: - Ký hiệu: WDG (Water Dispersible Granule), DG (Dispersible Granule), WG (Wettable Granule). Ví dụ: Natiduc 800WG, Beamy-kasu 450WG      - Thuốc được hòa với nước để phun lên cây. b/ THUỐC BỘT HÒA NƯỚC: - Ký hiệu: WP (Wettable Powder), DF (Dry Flowable) Ví dụ: Kasuduc 100WP, Camel 860WP     - Khi hòa với nước, hạt thuốc mịn sẽ lơ lửng trong nước tạo thành dạng huyền phù. c/ THUỐC BỘT TAN TRONG NƯỚC: - Ký hiệu: SP (Soluble Powder), WSP (Water Soluble Powder) - Khi hòa với nước, thuốc tan hoàn toàn trong nước. Lưu ý: Đối với các dạng thuốc hạt và thuốc bột, khi pha thuốc vào nước cần phải khuấy kỹ để đảm bảo thuốc tan hết và phân tán đều mới bảo đảm hiệu quả khi phun thuốc. 3. CÁC DẠNG THUỐC NƯỚC: a/ THUỐC DẠNG NHŨ DẦU: - Ký hiệu: EC (Emulsifiable Concentrate), ME (Micro-Emulsion), EW (Water-based emulsion), OD (Oil Dispersion), OS (Oil Soluble), SE (Suspo-Emulsion). Ví dụ: Penalduc 145EC, Voiduc 42EC - Khi hòa thuốc vào nước, dung dịch nước thuốc có màu trắng như sữa (nhũ dầu). b/ THUỐC DẠNG DUNG DỊCH: - Ký hiệu: SL (Soluble Liquid), L (Liquid), AS (Aqueous Solution) Ví dụ: Pyramos 40SL, Kasuduc 3SL - Khi hòa thuốc vào nước, dung dịch nước thuốc là một chất lỏng đồng nhất và trong suốt. d/ THUỐC DẠNG HUYỀN PHÙ (CÒN GỌI LÀ THUỐC SỮA) - Ký hiệu: FL (Flowable Liquid), FC (Flowable Concentrate), SC(Suspensive Concentrate), F (Flowable), FS (Flowable Concentrate) Ví  dụ: Amity top 500SC, Aviando 50SC - Trước khi sử dụng phải lắc đều chai thuốc. * NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI PHỐI HỢP NHIỀU LOẠI THUỐC Khi cần phải phối hợp nhiều loại thuốc có dạng khác nhau, cần chú ý nguyên tắc: - Thuốc bột trước, thuốc nước sau - Thuốc nhũ dầu trước, thuốc dung dịch sau. Thuốc trừ sâu rầy Thuốc trừ bệnh Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Cơ chế tác động của thuốc bảo vệ thực vật
Cơ chế tác động của thuốc bảo vệ thực vật
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Cơ chế tác động của thuốc bảo vệ thực vật
CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT  - Tùy theo con đường mà các chất độc xâm nhập vào cơ thể dịch hại, có thể phân loại các loại thuốc trừ dịch hại theo các nhóm sau: + Thuốc vị độc (thuốc nội tác động): Là những thuốc xâm nhập vào cơ thể cùng với thức ăn qua con đường tiêu hóa, thường dùng để diệt các côn trùng nhai gậm, liếm hút, chuột,… + Thuốc tiếp xúc: Xâm nhập vào cơ thể qua da, biểu bì, thường dùng để diệt các côn trùng sống không ẩn náu, các vi sinh vật gây hại, trừ cỏ… + Thuốc xông hơi: Qua dạng hơi thuốc khuếch tán vào không khí chung quanh dịch hại và xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp. + Thuốc lưu dẫn: Là những thuốc khi được áp dụng trên bộ phận của thực vật (như lá hoặc rễ) thì nó có khả năng xâm nhập vào bên trong và dẫn truyền theo mạch nhựa đến các bộ phận khác làm cho cơ thể thực vật trở nên độc đối với dịch hại (thuốc trừ sâu, bệnh); hoặc toàn bộ cá thể thực vật đó bị gây hại (thuốc trừ cỏ). Các thuốc lưu dẫn thường được ưa chuộng hơn do ít bị rửa trôi, ít gây hại đến thiên địch. + Thuốc có tác động chọn lọc và không chọn lọc: Thuốc có tác động chọn lọc là những thuốc chỉ có tác dụng trên một số loài dịch hại và không ảnh hưởng xấu đến các loài thiên địch (côn trùng bắt mồi và ký sinh) hay những sinh vật có ích khác (gia súc, cá, thú rừng,...). Đối với thuốc trừ cỏ, tính chọn lọc của thuốc biểu hiện ở khả năng không gây hại đối với thực vật. Công ty cổ phần BVTV Delta Thuốc trừ sâu rầy Thuốc trừ bệnh    
Các giai đoạn tăng trưởng của cây lúa
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Các giai đoạn tăng trưởng của cây lúa
CÁC GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín. Có thể chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín. 1. Giai đoạn tăng trưởng - Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng. Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới (nở bụi). Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau. Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6. - Thông thường, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu) thấp hơn số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được số chồi tối đa. Các chồi ra sau đó, thường sẽ tự rụi đi không cho bông được do chồi nhỏ, yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu. trong canh tác, người ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sản sinh ra số chồi vô hiệu này bằng cách tạo điều kiện cho lúa nở bụi càng sớm càng tốt và khống chế sự mọc thêm chồi từ khoảng 7 ngày trước khi phân hóa đòng trở đi, để tập trung dinh dưỡng cho những chồi hữu hiệu. 2. Giai đoạn sinh sản - Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông. Giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày, trung bình 30 ngày. Lúc này, số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ bông. Trong suốt thời gian này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này. 3. Giai đoạn chín - Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch. Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại. Giai đoạn này của cây lúa trải qua các thời kỳ sau: + Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt. Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là do quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ. Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa. Kích thước và trọng lượng hạt gạo tăng dần làm đầy vỏ trấu. Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là lúa “cong trái me”. Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ lúa ngậm sữa. + Thời kỳ chín sáp: hạt mất nước từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn xanh. + Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần. + Thời kỳ chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20% hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần. Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của giống. Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Giáo trình cây lúa_ Nguyễn Ngọc Đệ Bài viết liên quan Đặc tính sinh trưởng của rễ lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/106/dac-tinh-sinh-truong-cua-re-lua Dinh dưỡng lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/68/dinh-duong-lua Quy trình cây lúa khỏe: https://congtydelta.com/bai-viet/105/quy-trinh-cay-lua-khoe        
Đặc tính sinh trưởng của rễ lúa
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Đặc tính sinh trưởng của rễ lúa
  RỄ LÚA Cây lúa thuộc loại Hòa thảo (Graminae), tộc Oryzae, loài Oryza. Trong đó, Oryza sativa L. là tên của lúa trồng phổ biến nhất hiện nay. Hiểu rõ cấu tạo và đặc tính sinh trưởng của các bộ phận cây lúa ta mới có thể có những biện pháp kỹ thuật thích hợp, điều khiển sự sinh trưởng của cây lúa trong từng giai đoạn để đạt năng suất cao nhất. 1. RỄ LÚA Rễ lúa có 2 loại: rễ mầm và rễ phụ Các loại rễ lúa a. Rễ mầm Rễ mầm (radicle) là rễ mọc ra đầu tiên khi hạt lúa nảy mầm. Thường mỗi hạt lúa chỉ có một rễ mầm. Rễ mầm không ăn sâu, ít phân nhánh, chỉ có lông ngắn, thường dài khoảng 10-15 cm. Rễ mầm giữ nhiệm vụ chủ yếu là hút nước cung cấp cho phôi phát triển và sẽ chết sau 10-15 ngày, lúc cây mạ được 3-4 lá. Các rễ thứ cấp có thể mọc ra khi rễ mầm bị thiệt hại. Rễ mầm còn có nhiệm vụ giúp hạt lúa bám vào đất khi gieo sạ trên đồng. b. Rễ phụ (còn gọi là rễ bất định) - Rễ phụ mọc ra từ các mắt (đốt) trên thân lúa. Mỗi mắt có từ 5-25 rễ phụ, rễ phụ mọc dài, có nhiều nhánh và lông hút. Tại mỗi mắt có 2 vòng rễ: vòng rễ trên to và khỏe, vòng rễ dưới nhỏ và kém quan trọng hơn. Trong giai đoạn tăng trưởng, các mắt này thường rất khít nhau và nằm ở dưới mặt đất, nên rễ lúa tạo thành một chùm, do đó, rễ lúa còn gọi là rễ chùm. Tầng rễ phụ đầu tiên mọc ra ở mắt đầu tiên ngay trên trục trung diệp. - Ở đất khô rễ mọc thành chùm to, số rễ nhiều hơn, mọc rộng ra và ăn sâu xuống đất có thể đến 1m hay hơn nữa để tăng khả năng hút nước. - Ở đất ngập nước, bộ rễ ăn sâu 40cm. Bên trong rễ có nhiều khoảng trống ăn thông với thân và lá. Nhờ có cấu tạo đặc biệt này mà rễ lúa có thể sống được trong điều kiện thiếu oxy do ngập nước. - Rễ có nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng nuôi cây, giúp cây bám chặt vào đất, cho nên bộ rễ có khỏe mạnh thì cây lúa mới tốt được. Trong điều kiện bình thường rễ non có màu trắng sữa, rễ già sẽ chuyển sang màu vàng, nâu nhạt rồi nâu đậm và phần chóp rễ vẫn còn màu trắng. Bộ rễ không phát triển, rễ bị thối đen biểu hiện tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng trong đất, cây lúa không hấp thu được dinh dưỡng nên còi cọc, lá vàng, dễ bị bệnh và rụi dần nếu không có biện pháp xử lý kịp thời. - Sự phát triển của bộ rễ tốt hay xấu tùy loại đất, điều kiện nước ruộng, tình trạng dinh dưỡng của cây và giống lúa. - Trong điều kiện canh tác lúa 3 vụ hiện nay, trên ruộng rất dễ gặp tình trạng ngộ độc phèn và ngộ độc hữu cơ làm suy yếu bộ rễ lúa. Để khắc phục tình trạng ngộ độc này và giúp bộ rễ lúa phát triển tốt bà con nông dân có thể bổ sung thêm phân vi lượng Sapphire/ Bio Delta pha 50ml/bình 25 lít phun ở 2 giai đoạn: 7-10 ngày và 17-22 ngày sau khi sạ. Với thành phần trung vi lượng như: axit humic, chất hữu cơ, kẽm, sắt, kali hữu hiệu..., giúp kích thích phát triển bộ rễ, tạo rễ mới cho cây trồng, giúp giải độc phèn, ngộ độc hữu cơ, tổng hợp dinh dưỡng cho cây lúa nảy chồi mạnh. Sản phẩm có thể phối trộn với thuốc diệt cỏ mầm và thuốc trừ sâu. Nếu bà con chuẩn bị bón thúc cho lúa, có thể sử dụng Humic 9999 hoặc Bio One trộn chung với phân bón gốc vừa giúp kích thích rễ phát triển, giúp tăng hiệu quả hấp thụ phân bón của cây lúa vừa tiết kiệm công lao động.        Phân bón: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Giáo trình Cây lúa_Nguyễn Ngọc Đệ
Nguyên nhân gây hiện tượng xơ đen trên mít Thái siêu sớm và cách khắc phục
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Nguyên nhân gây hiện tượng xơ đen trên mít Thái siêu sớm và cách khắc phục
NGUYÊN NHÂN GÂY HIỆN TƯỢNG XƠ ĐEN TRÊN MÍT THÁI SIÊU SỚM VÀ CÁCH KHẮC PHỤC - Mít Thái siêu sớm hay còn gọi là mít Chiang Rai, mít Thái có nguồn gốc từ tỉnh Chiang Rai, thuộc Miền Bắc Thái lan. Giống mít này được du nhập về Việt Nam và được trồng phổ biến từ Bắc tới Nam. Mít Thái siêu sớm có thể cho trái rất sớm chỉ sau 1 năm trồng, cây tầm thấp 6 – 8m, trái to 8-12 kg, đặc biệt có trái lên đến 25kg, năng suất dao động từ 35-40 tấn/ha. Cây sinh trưởng mạnh và cho trái quanh năm. Chất lượng trái ngon, múi mọng có màu vàng, giòn ngọt, hạt nhỏ hơn giống mít nghệ. - Với những đặc điểm nổi bật trên, Mít Thái siêu sớm đang được bà con nông dân trồng với diện tích khá lớn. Tuy nhiên, hiện tại bà con nông dân trồng mít ở ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung đang gặp những vấn đề khó khăn về sâu bệnh hại như bệnh nứt thân chảy nhựa do nấm Phytophthora spp. gây ra, bệnh xì mũ thối mạch dẫn (do vi khuẩn) hay còn gọi là bệnh chết nhanh làm cho cây giảm năng suất, giảm chất lượng trái, cây suy kiệt và chết rất nhanh. Đặc biệt, trên cây mít Thái siêu sớm còn thấy xuất hiện hiện tượng xơ đen làm cho múi mít và xơ bị đen ảnh hưởng đến phẩm chất trái mít. 1. NGUYÊN NHÂN GÂY HIỆN TƯỢNG XƠ ĐEN - Theo các khảo sát cho thấy trái bị xơ đen thông thường là dạng trái bị méo mó, đầu trái nhỏ. Phần xơ bên trong bị đen, múi bị lép, hột không phát triển, vết đen trên xơ không có hình dạng nhất định. - Có 2 nguyên nhân gây nên hiện tượng xơ đen trên mít: + Do thiếu dinh dưỡng. + Do vi khuẩn xâm nhập.    Trái mít bị xơ đen - Theo như công bố mới nhất cho thấy hiện tượng Mít biểu hiện triệu chứng xuất hiện những đốm vàng nâu bên trong trái được xác định là do vi khuẩn Pantoea stewartii subsp. Stewartii gây ra lần đầu tiên được công bố tại Malaysia (Zulperio et al.2017). Theo một nghiên cứu bệnh trên Mít tại Mexico đã chứng minh hiện tượng xơ đen là do vi khuẩn Pantoea stewartii subsp. Stewartii gây ra (2017). - Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Nhân (2018) cũng cho rằng hiện tượng mít bị xơ đen có thể là do vi khuẩn tấn công vào trái trong quá trình thụ phấn bằng 2 con đường: (1): qua vòi nhị cái đi vào bên trong trái, (2): qua khe hở giữa các múi lúc trái còn non (hình: A, B). 2. CÁCH KHẮC PHỤC - Theo một nghiên cứu cho rằng, hiện tượng xơ đen xuất hiện nhiều vào mùa mưa và bổ sung Bo giúp giảm tỷ lệ xơ đen. Bà con nên sử dụng Canxi Bo bổ sung dạng vi lượng phun cho cây định kỳ 7-10 ngày/ lần, giai đoạn trước khi có bông và giai đoạn trái non. Phân bón: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon - Bà con cần che mưa cho trái để hạn chế nước mưa mang vi khuẩn xâm nhập vào trái gây hại. Phun ngừa vi khuẩn bằng Pyramos 40SL hoặc Kasuduc 3SL vào giai đoạn trước có bông và giai đoạn trái non. Thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng mít Thái: https://congtydelta.com/bai-viet/70/ky-thuat-trong-mit-thai      
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dưa leo
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dưa leo
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DƯA LEO 1. Chọn giống Giống dưa leo TN123, TN456, HS636, CN527, Galaxy…sinh trưởng khá, ra nhánh mạnh, bắt đầu cho thu hoạch 33 – 35 ngày sau khi gieo, trái suông đẹp, trung bình dài 14 – 18 cm, nặng 80 – 100 g, vỏ màu xanh trung bình, thịt chắc, phẩm chất ngon, dòn và năng suất trung bình 3 – 5 tấn/ 1000m2. 2. Thời vụ - Có thể trồng quanh năm, tốt nhất là trồng vào vụ Đông Xuân (từ cuối tháng 10-2 dl) hoặc đầu mùa mưa (tháng 5-7 dl). Tuy nhiên, ở ĐBSCL hình thành 3 mùa như sau: + Vụ Hè Thu: Gieo tháng 5-6, thu hoạch tháng 7-8 dl. + Vụ Đông Xuân: Gieo tháng 10-11, thu hoạch tháng 12-1 dl. + Vụ Xuân Hè: Gieo tháng 1-2, thu hoạch tháng 3-4 dl. 3. Chuẩn bị đất - Liếp cao trung bình 15-25 cm, rộng 1m và lối đi 0,5 m, mùa mưa lên liếp cao hơn mùa nắng, sử dụng màng phủ nông nghiệp khổ rộng 1,4 m, phủ kín chân liếp. Bón phân lót và tưới thật ướt mặt liếp trước khi đậy màn phủ. - Rãi phân lót rộng khoảng 50 cm tập trung ở giữa liếp. 4. Gieo trồng a/ Chuẩn bị cây con - Hạt dưa leo nảy mầm rất nhanh, mùa nắng có thể gieo hạt thẳng ngoài đồng, mùa mưa nên gieo cây con trong bầu 5 – 7 ngày đem trồng để hạn chế hao hụt cây con. - Khoảng cách cây trên hàng 0,3-0,4 m, mật độ khoảng 1800 – 2500 cây/ 1000 m2, lượng giống 80-100 g. b/ Trồng cây - Rải một ít đất mịn hoặc tro trấu hoặc trấu mục vào trong lỗ (Không nên dùng nhiều tro trấu, nhất là trong mùa nắng vì sức nóng của màng phủ và của tro làm cây con sinh trưởng yếu). - Xử lý côn trùng (dế, sâu ăn tạp…) bằng thuốc hạt có mùi hôi xung quanh gốc sau khi trồng cây. Phun Unizebando (hoạt chất Mancozeb và Metalaxyl) ngừa bệnh chết gục cây con. c/ Chăm sóc - Bón phân: Tổng lượng phân bón cho 1 ha dưa leo là: 800 kg hỗn hợp (16-16-8), 50kg Urê, 50kg Kali, 1000-2000 kg phân hữu cơ vi sinh và 500 kg vôi. Bảng: Lượng phân bón và thời điểm bón cho dưa leo vùng ĐBSCL. Loại phân (kg/1000m2) Tổng lượng bón Bón lót Bón thúc (18-20 NSKG) Bón nuôi trái (35-40 NSKG) Vôi 50 50 - - Phân hữu cơ vi sinh 200 200 - - 16-16-8 80 30 20 30 KCl 5 - 2 3 Urê 5 - Chia nhiều lần tưới NSKG: Ngày sau khi gieo - Bón lót: Rãi vôi bột trước khi lên liếp 5-7 ngày, sau đó rãi toàn bộ phân hữu cơ vi sinh hoặc trộn Humic 9999 với 300kg NPK 16-16-8 rãi đều lên liếp theo hàng, nơi đặt cây con. Humic giúp đất tơi xốp, giảm thất thoát phân. - Lượng phân còn lại (ngoài 2 lần bón thúc) chia ra làm nhiều lần tưới, số lượng tăng dần theo nhu cầu của cây. - Phân Urea tưới trước và sau khi bón thúc lần I, kích thích sinh trưởng thân lá. - Phun phân vi lượng Sapphire hoặc Bio Delta trước bón thúc lần 1 kích thích phát triển bộ rễ khỏe, tăng khả năng hút nước và chất dinh dưỡng. Phun phân vi lượng Ruby sau khi bón thúc nuôi trái lần 2 dưỡng trái đẹp màu, tăng năng suất. - Tỉa chồi, lá: Tỉa bỏ chồi yếu, bỏ lá chân, lá già và lá bị sâu bệnh cách ly khỏi ruộng sản xuất. - Làm giàn: khi cây bắt đầu có tua cuốn (15-20 ngày sau khi gieo) cắm giàn hình chữ A, hoặc giàn bằng cao khoảng 2m, giăng lưới hoặc dây gân cho tua cuống của dưa leo dễ bám. 5. Phòng trừ sâu bệnh chính - Bọ dưa, bù lạch, rầy mềm, rầy phấn trắng, dòi đục lòn: Nên trồng đồng loạt, kiểm tra ruộng dưa thường xuyên để phát hiện sớm, luân phiên thay đổi thuốc trừ sâu thế hệ mới nhóm Abamectin, Emamectin như Rồng việt kết hợp Penalduc 145EC, Anh hung diệt sâu,... - Bệnh héo cây con, thán thư bệnh bã trầu, nứt thân chảy nhựa héo rũ: Phun Nhóm Mancozeb, Metalaxyl như: BioRosamil, Mancozeb, Manco Nhật, …   - Bệnh đốm do vi khuẩn trên lá và trái dùng Pyramos 40SL, Kasuduc 3SL. Thuốc trừ nấm bệnh, vi khuẩn: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 6. Thu hoạch Dưa leo ăn trái tươi, thu hoạch lúc trái trông ngon nhất. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Đặc điểm thực vật của cây dưa leo: https://congtydelta.com/bai-viet/101/dac-diem-thuc-vat-cua-cay-dua-leo Kỹ thuật trồng dưa hấu: https://congtydelta.com/bai-viet/61/ky-thuat-trong-dua-hau    
Đặc điểm thực vật của cây dưa leo
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Đặc điểm thực vật của cây dưa leo
CÂY DƯA LEO Tên tiếng Anh: Cucumber Tên khoa học: Cucumis sativus L. Họ bầu bí: Cucurbitaceae 1. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT - Dưa leo là cây thân thảo hằng niên. Bộ rễ phát triển yếu nhất so với các cây trong họ bầu bí, rễ chỉ phân bố ở tầng đất mặt 30-40cm. Thân dài trung bình 1-3 m, có nhiều tua cuốn để bám khi bò. Thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít hay nhiều tùy giống. Thân chính thường phân nhánh, cũng có nhiều dạng dưa leo hoàn toàn không thành lập nhánh ngang. Chiều dài thân tùy điều kiện canh tác và giống. Các giống canh tác ngoài đồng thường dài từ 0,5-2 m, giống trong nhà kính có thể dài 5m. Sự phân nhánh của dưa còn tùy thuộc nhiệt độ ban đêm. Thân trên lá mầm và lóng thân trong điều kiện ẩm độ cao có thể thành lập nhiều rễ bất định. - Lá đơn to, mọc cách trên thân, dạng lá hơi tam giác với cuốn lá rất dài 5 -15cm, rìa lá nguyên hay có răng cưa. Lá trên cùng cũng có kích thước và hình dáng thay đổi. - Hoa đơn tính đồng chu hay biệt chu. Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt, hoa đực mọc thành cụm từ 5 – 7 hoa, dưa leo cũng có hoa lưỡng tính. Có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây. Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở. Các giống dưa leo trồng ở vùng ĐBSCL thường ra hoa sớm, bắt đầu ở nách lá thứ 4-5 trên thân chính, sau đó sẽ nở liên tục trên thân chính và nhánh. Hoa đực và hoa cái - Trái lúc còn non có gai xù xì, khi trái lớn gai từ từ mất đi. Trái từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa văn (sọc, vệt, chấm) khi chín trái chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh. Trái tăng trưởng rất nhanh, tùy theo giống, có thể thu trái từ 8 – 10 ngày sau khi hoa nở. Phẩm chất trái không chỉ tùy thuộc vào thành phần cấc chất dinh dưỡng trong trái mà còn tùy thuộc vào độ chặt của thịt trái, chiều dày vỏ, thịt trái và hương vị trái. - Hạt có màu trắng ngà, trọng lượng 1000 hạt từ 20-30g , trung bình có từ 200-500 hạt trên trái. 2. ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH a/ Nhiệt độ - Dưa leo cũng giống như hầu hết các loại cây khác trong họ dưa bầu bí rất mẫn cảm với sương giá và đặc biệt là nhiệt độ thấp dưới 0oC. Dưa leo thích hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng là 30oC vào ban ngày và 18-21oC vào ban đêm. Nhiệt độ cao hơn sẽ làm cây ngừng sinh trưởng và nếu kéo dài nhiệt độ 35-40oC cây sẽ chết. Khi nhiệt độ dưới 15 oC cây mất cân bằng giữa quá trình đồng hóa và dị hóa. Do nhiệt độ quá thấp phá vỡ quá trình trao đổi chất thông thường và một số quá trình sinh hóa bị ngừng trệ, toàn bộ chu trình sống bị đảo lộn dẫn đến cây tích lũy độc tố. Nhiệt độ thấp kéo dài số lượng độc tố sẽ tăng lên làm chết các tế bào. - Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng, ra hoa của cây dưa leo mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như quá trình thụ phấn, thụ tinh. Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt phấn là 17-24oC. b/ Ánh sáng - Dưa leo là cây ưa sáng ngày ngắn, cây thích hợp cho sinh trưởng và phát dục ở thời gian chiếu sáng từ 10-12 giờ/ ngày. Thời gian chiếu sáng dài, nhiệt độ cao sẽ thúc đẩy sự sinh trưởng thân lá, hoa cái xuất hiện muộn hơn. Ánh sáng thiếu và yếu cây sinh trưởng, phát triển kém, năng suất thấp và chất lượng giảm. c/ Nước - Dưa leo là cây chịu úng kém. Tuy nhiên, do có lá to, diện tích lá lớn thoát nhiều hơi nước đồng thời trái chứa nhiều nước nên cần lượng nước rất lớn đặc biệt trong giai đoạn ra trái và thu hoạch. Hàm lượng trong thân lá tươi của dưa leo là 93,1%, trong trái là 96,8% do đó, không thể xem nhẹ việc cung cấp nước cho loại cây trồng này vì nó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng cũng như năng suất sau này. Đất khô hạn, hạt nảy mầm chậm, thân lá sinh trưởng kém. Đặc biệt thiếu nước nghiêm trọng sẽ xuất hiện trái di dạng, trái bị đắng. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng dưa hấu: https://congtydelta.com/bai-viet/61/ky-thuat-trong-dua-hau      
Nhện gié hại lúa
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Nhện gié hại lúa
NHỆN GIÉ Steneotarsonemus spinki - Nhên gié S. spinki được coi là một loài dịch hại khá nguy hiểm trên lúa. Ngay từ những năm 1930 nhện gié đã là loài gây hại nguy hiểm ở Châu Á. Nhện gié có thể phát sinh thành dịch trong thời gian ngắn, lan truyền trong khoảng không gian hẹp nhờ gió, nước và côn trùng, có thể truyền từ vụ trước sang vụ sau, từ vùng này sang vùng khác và từ quốc gia này sang quốc gia khác qua hạt giống. - Nhện gié xuất hiện và gây hại khá nặng trong những năm gần đây, đặc biệt là vụ lúa hè thu. Điều kiện nóng khô thích hợp cho nhện gié phát triển và gây hại. Trong vụ Đông Xuân, nhện thường phát sinh và gây hại vào lúc lúa có đòng đến trổ. 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - Nhên gié có kích thước rất nhỏ rất khó nhìn thấy được bằng mắt thường. - Các giai đoạn phát triển gồm: Trứng, nhện non tuổi 1, tuổi 2 và nhện trưởng thành. Nhện gié nhìn trên kính hiển vi + Trứng có màu trắng trong, hình oval dài, kích thước của trứng 110x74µm. Trứng được đẻ rải rác trong một quần thể nhện phía trong bẹ lá. + Nhện non cơ thể nhọn, dài, chỉ có 3 cặp chân, cơ thể màu trắng sáng và trưởng thành có màu vàng nhạt. -  Nhện trưởng thành có 4 cặp chân, cơ thể không phân đốt rõ ràng. +  Con đực trưởng thành có cặp chân thứ IV phát triển to khỏe giống như gọng kìm, có thể kẹp con cái hay ấu trùng mang đi. Cơ thể con đực có chiều dài ngắn hơn con cái (trung bình 220µm), chiều ngang thì rộng hơn (trung bình 120µm). + Con cái trưởng thành có chiều dài dài hơn con đực, nhưng chiều ngang nhỏ hơn. (A): Nhện đực, (B): Nhện cái, (C): Trứng - Vòng đời chúng kéo dài từ 10-17 ngày. Nhện sống tập trung trong bẹ lá phần trên mặt nước, khi mật độ cao mới bò lên bông lúa. Một nhện trưởng thành cái đẻ khoảng 50-70 trứng, những trứng không thụ tinh trở thành con đực. Nhện phát triển thích hợp trong điều kiện thời tiết nóng và khô. 2. TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI - Nhện chích hút nhựa ở bẹ lá, cuống bông, cuống gié và vỏ bông lúa trước khi trổ. Triệu chứng điển hình sau khi cây lúa bị nhiễm nhện gié là lá lúa bị vàng, cuốn lại, hạt lem, lép, cây còi cọc. - Trên bẹ lá tạo thành những sọc nâu bầm giống như vết cạo gió (nám bẹ).   Triệu chứng trên bẹ lúa (nám bẹ) - Khi lúa có đòng nhện hút nhựa đòng làm bông lúa bị nghẹn đòng, đòng bị cong queo, bông bạc. Khi lúa trổ, nhện gây hại nhị và nhụy hoa làm hạt bị hại lép hoàn toàn, từng hạt lúa hoặc gié lúa tại thời điểm trổ bông có màu đen hoặc đen xỉn. Triệu chứng trên hạt - Nếu gây hại vào giai đoạn chín sữa, chín sáp làm hạt bị lững có màu vàng nâu, vỏ lụa màu vàng nâu và mất sức nảy mầm. Triệu chứng trên bông BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Vệ sinh đồng ruộng máy móc thiết bị nông nghiệp giữa các mùa vụ. - Sử dụng giống chất lượng và rõ nguồn gốc - Sạ thưa, sạ đồng loạt. - Bón phân đạm thích hợp. - Tăng thời gian cách ly giữa 2 vụ, ít nhất là 3 tuần. - Cần thăm đồng thường xuyên đặc biệt vào thời gian từ làm đòng đến trổ để phát hiện nhện gié gây hại kịp thời. Nếu phát hiện có triệu chứng vết cạo gió, bà con sử dụng các loại thuốc có hoạt chất nội hấp như: Rồng Việt 100WG hoặc Penalduc 145EC để phòng trị.      Công ty cổ phần BVTV Delta   Bài viết liên quan Rầy lưng trắng: https://congtydelta.com/bai-viet/51/ray-lung-trang Rầy nâu hại lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/49/ray-nau-hai-lua Sâu cuốn lá nhỏ hại lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/95/phong-tri-sau-cuon-la-nho-hai-lua      
Phòng trị sâu cuốn lá nhỏ hại lúa
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Phòng trị sâu cuốn lá nhỏ hại lúa
PHÒNG TRỊ SÂU CUỐN LÁ NHỎ TRÊN LÚA Tên khoa học: Cnaphalocrosis medinalis - Ở Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều loài sâu cuốn lá nhỏ gây hại lúa, nhưng gặp phổ biến nhất là loài Cnaphalocrosis medinalis. 1. Ký chủ Ngoài lúa, sâu còn có thể phá hại trên cây bắp, mía, lúa hoang, lúa mì, cây lau,… 2. Đặc điểm hình thái và sinh học - Bướm có chiều dài thân từ 8 – 12 mm, sải cánh rộng từ 19 – 23 mm, nền cánh màu vàng rơm, bìa cánh có 1 đường viền màu nâu đậm, giữa cánh có 3 sọc màu nâu, 2 sọc bìa dài và sọc giữa ngắn. - Bướm sốc từ 5 – 10 ngày. Một bướm cái có thể đẻ đến 300 trứng. - Trứng được đẻ rải rác hay thành từng nhóm dọc gân chính của lá, mỗi nhóm từ 10 – 12 trứng ở cả hai mặt lá, nhưng mặt trên có nhiều trứng hơn. - Trứng hình bầu dục dài khoảng 0,5 mm, màu trắng, chuyển sang màu vàng nhạt khi sắp nở. Giai đoạn trứng từ 3 – 7 ngày. - Sâu non mới nở màu trắng sữa, có lông màu nâu phủ khắp mình. Sâu lớn đủ sức dài khoảng 19 – 22 mm, màu xanh lá mạ, thân chia đốt rất rõ rang. Sâu có từ 5 – 6 tuổi, phát triển trong thời gian từ 15 – 28 ngày. - Nhộng dài từ 7 – 10 mm màu nâu, thời gian nhộng từ 6 – 10 ngày. Vòng đời sâu cuốn lá nhỏ hại lúa từ 25 – 36 ngày. 3. Tập quán sinh sống - Bướm thường vũ hóa về ban đêm, từ 9 giờ tối đến sáng hôm sau. Ban ngày bướm trốn trong khóm lúa hoặc cỏ dại, khi bị động thì bay một đoạn ngắn trên lá lúa. - Tất cả hoạt động như bắt cặp, đẻ trứng đều xảy ra ban đêm. Bướm bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn, nhất là bướm cái. - Bướm cái thích đẻ trứng ở các ruộng lúa hoặc mạ có màu xanh đậm, rậm rạp và thích tập trung nhiều ở những ruộng gần bờ mương, gần nhà ở, gần vườn hoặc đường đi có bóng mát. Trứng sâu cuốn lá nhỏ - Sâu non mới nở rất nhanh nhẹn, bò khắp trên lá, thân cây và chui vào lá non, mặt trong của bẹ lá ăn phần xanh, chừa lại lớp màng trắng mỏng trên lá lúa. Sang tuổi 2, sâu bò đến các lá già nhả tơ ở 2 bìa lá lúa khoảng giữa lá, làm lá cuộn lại thành một cái bao theo chiều dọc lá lúa, sâu ẩn trong đó và gây hại. Sâu cuốn lá nhỏ - Sâu tuổi lớn có thể ăn 1 -2 lá trong một ngày. Sâu nằm trong bao có thể ăn phá suốt ngày đêm. Sâu còn có thể di chuyển hẳn ra khỏi bao cũ để gây hại các lá mới. - Lá lúa bị sâu gây hại sẽ khô, cây héo, giảm năng suất, nhất là khi sâu tấn công lá cờ. Lá bị sâu cuốn lá gây hại 4. Điều kiện thuận lợi cho sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện và gây hại - Do tập quán trồng lúa nhiều vụ trên một năm nên trên đồng ruộng luôn có thức ăn cho sâu. - Sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện nhiều ở vụ Đông Xuân vì thời tiết thuận lợi để cây lúa phát triển tốt. 5. Biện pháp phòng trị - Làm cỏ trong và xung quanh ruộng lúa. - Khi mật số bướm cao có thể dùng bẩy đèn để thu hút. - Sử dụng các sản phẩm đặc trị sâu cuốn lá như: Rồng Việt, B52 Duc, Penalduc 145 EC…        Thuốc trừ sâu, rầy: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray - Đặc biệt là giai đoạn trước trổ để bảo vệ lá đòng. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Rầy lưng trắng: https://congtydelta.com/bai-viet/51/ray-lung-trang Rầy nâu hại lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/49/ray-nau-hai-lua    
Bệnh vàng lá chín sớm
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh vàng lá chín sớm
BỆNH VÀNG LÁ CHÍN SỚM Red stripe disease Tác nhân: do nấm Gonatophragmium sp. 1. Triệu chứng - Bệnh gây hại trên lá lúa và trên bất kỳ lá nào trên bụi lúa. Bệnh thường xảy ra khi cây đến giai đoạn sinh sản, bắt đầu từ khi trổ bông. - Vết bệnh ban đầu, trên lá xuất hiện những đốm nhỏ màu vàng nhạt đến cam nhạt, có hình tròn hoặc hình bầu dục. Vết bệnh phát triển kéo dài dọc theo gân lá về phía chóp lá tạo thành các vệt sọc màu vàng cam. Vết bệnh lan dần trên cả lá. Bệnh nặng hơn làm vết bệnh trên lá bị cháy khô. - Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh: màu vàng trên lá lúa là do nấm bệnh tiết ra, tan trong nước, nên lan theo nhựa nguyên của lá lúa làm lá lúa bị nhuộm màu vàng cam. Trong khi đó, diệp lục tố nơi vết vàng vẫn tiếp tục quang hợp.  - Từ giả thiết trên, nếu lúa bị mắc bệnh sớm ngay trong giai đoạn đòng trổ, thì bệnh phát triển nhanh cho đến lúc sắp thu hoạch làm cháy khô lá lúa. Trong tình huống nhiễm bệnh sớm này, sẽ làm giảm năng suất. Nếu lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn, từ giai đoạn trổ trở về sau, bệnh chỉ làm lá lúa bị vàng và không cháy khô, trường hợp này bệnh không làm giảm năng suất. 2. Điều kiên phát sinh bệnh - Bệnh vàng lá chín sớm phát triển mạnh trong vụ Đông Xuân hơn là hai vụ hè thu và thu đông. Trên ruộng nhiễm bệnh, thường phát triển nặng ở chỗ có bóng râm. - Bệnh phát triển nặng trên vùng đất phèn hơn vùng đất phù sa ngọt. - Bón phân đạm cao tạo điều kiện cho bệnh xuất hiện sớm và phát triển nặng. 3. Biện pháp quản lý - Sử dụng giống lúa khỏe (giống xác nhận). - Sạ với mật độ vừa phải, để lúa mọc thưa, đâm chồi nhiều và chồi khỏe. - Bón phân đạm theo nhu cầu của cây lúa. - Sử dụng thuốc trừ bệnh: BioRosamil 72WP, Manco Nhật, Nofacon        Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Phòng trị bệnh lem lép hạt trên lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/91/phong-tri-benh-lem-lep-hat-tren-lua Bệnh đốm vằn: https://congtydelta.com/bai-viet/88/benh-dom-van Bệnh đạo ôn: https://congtydelta.com/bai-viet/87/benh-dao-on Bệnh cháy bìa lá: https://congtydelta.com/bai-viet/89/benh-chay-bia-la-lua Cách khắc phục ngộ độc hữu cơ trên lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/92/cach-khac-phuc-ngo-doc-huu-co-tren-lua    
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA