KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

KỸ THUẬT TRỒNG CẦN TÂY
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG KỸ THUẬT TRỒNG CẦN TÂY
KỸ THUẬT TRỒNG CẦN TÂY 1. Sơ lược về Cần Tây Cần Tây được trồng lâu đời tại các nước Châu Âu để làm thức ăn và làm thuốc. Cần tây có thể thu hoạch quanh năm, thường dùng để ăn sống, ép nước hoặc chế biến kèm các món ăn khác. Cần tây chứa nhiều loại vitamin và các chất quan trọng như: Vitamin A, B và C, các acid amin, tinh dầu và nguyên tố vi lượng. Cần tây thường được dùng trong chữa các chứng bệnh liên quan đến suy nhược cơ thể, thiếu chất, thần kinh yếu. Ngoài ra, Cần tây dùng bên ngoài trị vết thương, mụn nhọt, nứt, nẻ. Tinh dầu quả cần tây được dùng trong công nghiệm là thơm cao thịt chế thành viên. 2. Trồng Cần Tây Gieo mầm Trước khi gieo, ngâm hạt giống trong nước ấm. Điều này giúp hạt nảy mầm nhanh hơn. Đổ hỗn hợp đất trồng tơi xốp, giàu chất hữu cơ, thoát nước tốt với độ pH từ 5.8 đến 6.8. vào khay hoặc chậu ươm, sau đó nhẹ nhàng nén chặt cho bằng phẳng. Ấn nhẹ hạt giống đã ngâm vào đất trồng; để hạt nảy mầm tốt, không nên phủ đất lên trên. Cách dễ nhất để gieo hạt là nhẹ nhàng gõ gói hạt giống lên bề mặt đất và quan sát kỹ khi hạt rơi xuống. Lý tưởng nhất là các hạt rơi cách nhau khoảng 2,5cm. Sau khi gieo xong, nén chặt hạt xuống đất. Đậy kín khay/chậu ươm bằng màng bọc thực phẩm để giữ ẩm. Hạt sẽ nảy mầm trong khoảng 1 đến 2 tuần. Ngay sau khi cây con xuất hiện, hãy đặt đèn huỳnh quang chuyên dụng cách chúng 7,5cm và chiếu sáng 16 tiếng mỗi ngày (cây cũng cần có thời gian tối). Duy trì nhiệt độ môi trường xung quanh ở mức 15° đến 25°C. Phun sương thường xuyên. Khi cây con cao khoảng 5cm, hãy chuyển chúng sang các khay sâu hơn với đất trồng mới. Trong khay, hãy trồng các cây cách nhau ít nhất 5cm. Trước khi trồng ra ngoài trời, hãy làm quen dần với điều kiện ngoài trời cho cây con bằng cách giảm lượng nước tưới và đặt chúng ngoài trời (ở nơi có mái che, tránh ánh nắng trực tiếp). Trồng cây ngoài trời Trồng cần tây ngoài trời khi nhiệt độ đất đạt ít nhất 15°C và nhiệt độ ban đêm không xuống dưới 10°C. (Thời tiết lạnh sau khi trồng có thể khiến cây ra hoa sớm.) Trồng cây con cách nhau từ 20 đến 25cm. Tưới nước kỹ. 3. Chăm sóc Để phát triển tốt, Cần Tây cần ba yếu tố quan trọng: - Thời tiết mát mẻ: cần tây không chịu được nhiệt độ cao. - Tưới nước thường xuyên: nếu thiếu nước, thân cây sẽ nhỏ, xơ, dai và/hoặc rỗng ruột. - Đất giàu chất hữu cơ và dinh dưỡng vì rễ cây mọc nông. Sử dụng màng che phủ luống trong 4 đến 5 tuần đầu tiên để bảo vệ cây khỏi sâu bệnh. Khi cây cao khoảng 15cm, hãy phủ lớp mùn xung quanh gốc để giữ ẩm cho đất và làm mát rễ. Bón phân hữu cơ xung quanh gốc cây. Trong tháng thứ hai và thứ ba của giai đoạn sinh trưởng, bón thúc 1 muỗng canh phân bón/cây loại NPK 5 - 10 - 10 cách gốc từ 7-10cm. Giữ cho cây cần tây không bị cỏ dại mọc xung quanh, hãy cẩn thận khi làm cỏ, vì rễ cần tây nằm nông và rất dễ bị xáo trộn. Buộc các thân cần tây đang phát triển lại với nhau để chúng không bị lan rộng. Bắt đầu vun đất cho các giống cây trồng theo rãnh khi thân cây đạt chiều cao khoảng 30 cm, vun đất lên khoảng 7,5cm mỗi lần cho đến khi không thể vun cao hơn nữa. 4. Thu hoạch   Sau khoảng 90 - 140 ngày khi cây cao 30 - 45cm. Có thể thu hoạch toàn bộ cây, hoặc có thể cắt từng cành riêng lẻ khi cần thiết sẽ giúp cây tiếp tục cho thu hoạch trong thời gian dài hơn.   Phần được thu hoạch chủ yếu của cần tây là phần thân, nằm trên mặt đất. Thu hoạch thân cây từ ngoài vào trong.   Mẹo: Thân cây càng sẫm màu thì càng chứa nhiều chất dinh dưỡng. Độ dai của thân cây cũng thay đổi theo màu sắc; thân cây màu xanh đậm sẽ cứng hơn.    SIÊU DƯỠNG chuyên dùng cho RAU MÀU là kết hợp hài hòa và đầy đủ tất cả các loại dinh dưỡng cần thiết cho cây từ giai đoạn mới trồng cho đến thu hoạch. Cần Thơ, 09/10/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (37)
KỸ THUẬT TRỒNG CẢI THÌA
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG KỸ THUẬT TRỒNG CẢI THÌA
  KỸ THUẬT TRỒNG CẢI THÌA 1. Sơ lược về Cải Thìa    Cải thìa (cải Chíp) là một loại rau thuộc họ cải. Cây cải thìa không tạo thành búp; chúng mọc thân từ gốc tròn, tương tự như cần tây. Thân và lá đều ăn được và là nguyên liệu phổ biến trong ẩm thực châu Á.    Cải thìa thường được bán ở các siêu thị hoặc chợ nông sản dưới dạng cải thìa trưởng thành hoặc cải thìa non. Cải thìa non được thu hoạch khi cây còn nhỏ, nên có vị mềm và ngọt hơn. Sử dụng cải thìa non trong súp và salad, còn loại cải thìa lớn hơn, cứng cáp hơn thì dùng trong các món xào cần thời gian nấu lâu hơn.   Cải thìa có nhiều tác dụng nổi bật cho sức khỏe con người như: Tốt cho hệ tiêu hóa, tăng cường sức khỏe xương (Chứa canxi, phốt pho, kẽm và vitamin K), bảo vệ tim mạch, tăng sức đề kháng (Vitamin C và chất chống oxy hóa), tốt cho mắt: (Lượng beta carotene phong phú), hỗ trợ giảm cân (Ít calo nhưng nhiều nước và chất xơ). 2. Trồng Cải Thìa   Cải thìa mặc dù phát triển tốt dưới ánh nắng mặt trời đầy đủ, nhưng chúng cũng có thể phát triển tốt dưới ánh nắng một phần, khoảng 3-5 giờ mỗi ngày.   Ở những vùng khí hậu nóng, trồng cây ở nơi có nắng buổi sáng và bóng râm buổi chiều sẽ giúp trì hoãn hiện tượng ra hoa sớm.   Đất màu mỡ, giàu dinh dưỡng và có độ pH trung tính là lý tưởng cho loại cây cần nhiều chất dinh dưỡng này. Trộn một lượng lớn phân hữu cơ vào đất trước khi trồng.   Cải thìa không thích thời tiết nóng, nên mùa trồng cải thìa có thể kéo dài quanh năm chỉ tránh thời điểm nhiệt độ cao xuất hiện.   Cải thìa thường được trồng từ hạt Cách trồng cải thìa trong nhà: Gieo 1-2 hạt mỗi ô trong khay tiêu chuẩn hoặc sử dụng viên đất nén. Gieo hạt ở độ sâu khoảng 0,6–1,2 cm. Sau khi nảy mầm, tỉa bớt chỉ để lại một cây con trong mỗi ô. Cắt bỏ phần thừa; đừng nhổ chúng, nếu không có thể làm hỏng rễ của những cây còn lại. Hãy cho chúng thích nghi dần với điều kiện ngoài trời trước khi trồng ra luống vườn. Gieo hạt trực tiếp: Chuẩn bị luống đất bằng phân hữu cơ. Gieo hạt sâu 1,2cm, cách nhau khoảng 6cm, trong các hàng cách nhau 40cm. Khi cây cao khoảng 10cm, tỉa thưa để khoảng cách giữa các cây là 15 - 20cm. 3. Chăm sóc  Cải thìa thích đất màu mỡ, giàu nitơ. Hãy bổ sung nhiều phân hữu cơ và dinh dưỡng cân đối.  Giữ độ ẩm cho đất đều và hơi ẩm. Cố gắng tránh những chu kỳ quá khô và quá ướt.  Cải thìa có thể ra hoa sớm nếu tiếp xúc với nhiệt độ chênh lệch ngày đêm quá lớn.  Cải thìa cần khoảng 2,5cm nước mỗi tuần hoặc hơn. Cố gắng tưới nước vào buổi sáng. Cây sẽ có đủ nước trong thời gian nóng nhất trong ngày và sẽ ít bị căng thẳng hơn.  Sau khi tỉa thưa, hãy phủ lớp mùn giữa các cây để hạn chế cỏ dại và điều tiết độ ẩm của đất. 4. Thu hoạch  Hãy bắt đầu thu hoạch cải thìa khi cây cao từ 30 đến 45cm. Dùng dao sắc cắt bỏ phần thân cây cách mặt đất khoảng 2-5cm. Phần cây còn lại có thể sẽ nảy mầm và mọc thành cây cải thìa mới, mặc dù nhỏ hơn. Bạn cũng có thể dùng dao cắt riêng từng lá bên ngoài. Các lá bên trong sẽ tiếp tục phát triển và cây sẽ tiếp tục mọc chồi mới.  Nếu muốn, có thể thu hoạch sớm một vài cây cải thìa non (khi cao từ 15 đến 20cm). Khoảng cách giữa các cây sẽ giúp những cây còn lại tiếp tục phát triển lớn hơn. Cải thìa non có thể thu hoạch sau 30 ngày trồng.  Trồng và thu hoạch luân phiên các cây có kích thước khác nhau có thể kéo dài thời gian thu hoạch cải thìa. 5. Các loại Cải Thìa phổ biến -  Giống Black Summer có lá màu xanh đậm và thân màu xanh nhạt. Giống này phát triển chậm và rất tốt cho thu hoạch khi cây đạt kích thước tối đa. -  Giống Joi Choi là một loại cây đẹp, tươi tốt với tán lá xanh mướt và thân cây màu trắng tinh. -  Giống Mei Qing Choi là một giống lai có khả năng chịu nhiệt tốt và ra hoa chậm. -  Giống Win-Win Choi có kích thước nhỏ hơn, cao khoảng 30 cm. Rất thích hợp để trồng cải thìa non hoặc cho những người làm vườn không muốn trồng cây kích thước lớn.  SIÊU DƯỠNG chuyên dùng cho RAU MÀU là kết hợp hài hòa và đầy đủ tất cả các loại dinh dưỡng cần thiết cho cây từ giai đoạn mới trồng cho đến thu hoạch. Cần Thơ, 18/9/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (36)
BÓN PHÂN CHO DỪA THU HOẠCH QUANH NĂM
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG BÓN PHÂN CHO DỪA THU HOẠCH QUANH NĂM
DINH DƯỠNG CẦN THIẾT ĐỂ TRỒNG DỪA CÓ TRÁI QUANH NĂM     Dừa là cây trồng thương mại quan trọng. Bên cạnh việc chọn giống dừa tốt, thì việc quản lý dinh dưỡng và bón phân đúng cách là rất quan trọng để có những cây dừa khỏe mạnh, cho năng suất cao, đáp ứng nhu cầu thị trường. Điều này cũng giúp cây chống chịu được bệnh tật, sâu hại và điều kiện thời tiết thất thường.     Để cây dừa sinh trưởng và cho năng suất tốt, cần phải cung cấp đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng chính (NPK):     - Nitơ (N): Cung cấp dưỡng chất cho cây và lá, giúp chúng luôn xanh tươi và thúc đẩy quá trình quang hợp hiệu quả.     - Phốt pho (P): Giúp phát triển rễ, ra hoa và đậu quả.     - Kali (K): Quan trọng nhất đối với cây dừa. Nó giúp hình thành cùi dừa và nước dừa, tạo ra những quả dừa to, chất lượng cao, chịu hạn tốt và kháng bệnh. Các chất dinh dưỡng trung và vi lượng:    - Canxi (Ca) và magiê (Mg): Giúp tăng cường thân và lá, hỗ trợ quá trình quang hợp, và thường bị thiếu hụt trong đất ở nhiều khu vực.    - Clo (Cl): Cực kỳ quan trọng, nó giúp tăng năng suất và làm cho cây trồng chịu hạn tốt hơn. Nguồn chính là muối ăn (natri clorua).    - Boron (B): Hỗ trợ thụ phấn và đậu quả, ngăn ngừa rụng quả.    - Lưu huỳnh (S), sắt (Fe), kẽm (Zn), mangan (Mn): Đây là những chất cần thiết cho sự phát triển, mặc dù chỉ cần với lượng nhỏ. + Lưu ý: Mỗi lần thu hoạch, một lượng lớn chất dinh dưỡng bị lấy đi khỏi vườn, đặc biệt là kali (K), canxi (Ca) và nitơ (N). Do đó, việc bổ sung phân bón là rất cần thiết để ngăn ngừa sự suy thoái đất và giảm năng suất. Kỹ thuật trồng và bón phân:   Tuổi lý tưởng để trồng cây con là khoảng 5 tháng tuổi. Trước khi trồng dừa, bước đầu tiên là chuẩn bị khu vực trồng bằng cách tạo rãnh. Những rãnh này nên rộng 4 mét và sâu khoảng 2 mét, và phải được giữ đầy nước quanh năm vì dừa là loại cây cần nhiều nước.   Sau khi chuẩn bị xong khu vực trồng, hãy lấp đầy đáy hố bằng đất bùn và phân hữu cơ. Sau đó trồng cây, che phủ hoàn toàn quả để quả không bị nhô lên khỏi mặt đất. Nếu gốc cây bị lộ ra, có thể khiến cây đổ. Khoảng cách lý tưởng giữa các cây là 6 x 6 mét. Tuổi cây Phân hữu cơ Kg/cây/năm Phân hóa học Kg/cây/năm Muối ăn Kg/cây/năm Ghi chú Chưa có quả 0,5 – 2,5 tuổi 5 – 7 Năm bón 2 lần 1 – 2. (chia ra bón mỗi tháng/lần) NPK (25:7:7) 0,3 – 0,7 (chia ra bón mỗi tháng/lần) Khi cây ở tháng thứ 7 Đã có quả > 2,5 tuổi 7 – 15 Năm bón 2 lần 5 – 6 (chia ra bón mỗi tháng/lần) Tháng 1 – tháng 6 (NPK 25:7:7) Tháng 7 – 12 (NPK 14:7:35) 1 – 1,5 (chia ra bón mỗi tháng/lần) Bổ sung 1-2 kg đá dolomit để tăng hàm lượng canxi và magiê Thực hiện theo cách bón phân trên hàng năm sẽ đảm bảo năng suất ổn định. Có thể thu hoạch dừa cứ sau 20 ngày, hoặc 18 lần một năm. Chú ý khi bón phân:    Rải phân xung quanh tán cây. Đây là phương pháp phổ biến nhất. Rải phân bón xung quanh chu vi tán cây (nơi tập trung hầu hết các rễ nhỏ), cách gốc cây khoảng 1-2 mét. Sau đó, xới nhẹ đất để trộn đều phân bón.    Sau khi bón phân hóa học, hãy tưới nước ngay lập tức (nếu trời không mưa) để giúp phân bón tan và được cây hấp thụ nhanh chóng.    Khi dừa có trái non nên phun thêm Phân bón Ruby liều lượng 50 – 70ml/20L định kỳ 10 ngày/lần để hạn chế rụng trái non, trái to, tròn đều, nhiều nước, ngọt nước, dày cơm. Cần Thơ, 4/9/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (35)
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI TRỒNG LÚA
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI TRỒNG LÚA
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI TRỒNG LÚA Để lúa phát triển mạnh, đẻ nhánh tốt, bông to, hạt chắc, nặng ký, cần chú ý đến các vấn đề quan trọng sau: 1.    Làm đất, bón lót: -    Sau khi thu hoạch tiến hành bơm nước ngập ruộng để làm mềm gốc rạ. Tiếp theo, tiến hành cày xới nhiều lần để băm nhuyễn rơm thừa và gốc rạ, tạo bề mặt đất bằng phẳng và đều. Tiếp tục giữ nước ngập ruộng trong 4 ngày. Sau đó, bón chế phẩm sinh học Tryco delta liều lượng 1kg/ha tiếp tục ủ thêm 4 ngày. Sau đó, xả nước ra xâm xấp mặt ruộng bón phân hữu cơ liều 150 – 200kg/ha. Có thể bón thêm phân Lân nung chảy nếu đất có pH thấp (đất phèn) liều lượng 100 – 150kg/ha. Sau 3 ngày có thể sạ hoặc cấy lúa giống. -     Bước này rất quan trọng vì nó giúp kiểm soát sự phát triển của cỏ dại, lúa rài, lúa cỏ, giúp lúa không bị ngộ độc phèn, ngộ độc từ việc phân hủy chất hữu cơ, tuyến trùng, ngăn chặn tuyến trùng, chặn sự lây lan của mầm bệnh. Giúp đất tơi xốp tạo điều kiện tốt nhất cho rễ lúa phát triển, giữ phân bón ít bị thất thoát trong suốt vụ canh tác. 2.    Chọn giống: Chọn giống để canh tác cần ưu tiên các vấn đề sau: -    Giống phù hợp với đặc điểm thổ nhưỡng vùng đất đang canh tác. -    Giống có giá trị kinh tế cao, đáp ứng như cầu thị trường (dễ bán, giá cao). -    Giống kháng bệnh, rầy, sâu. -    Giống nguyên chủng, xác nhận. 3.    Bón phân: Cần bón phân phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, từ cây mạ, đẻ nhánh, trổ bông và chín. Tùy vào đặc điểm của đất như: đất thịt pha sét, thịt pha cát, thịt nhiễm phèn, thịt nhiễm mặn…và tùy vào đặc điểm riêng của từng giống lúa mà chọn công thức phân bón phù hợp nhất. Không có một công thức chung nào phù hợp cho tất cả. Sau đây là gợi ý chung, tùy vào đặc điểm cụ thể mà có sự tăng hoặc giảm (cả về liều lượng và số lần bón) cho phù hợp: 3.1    Giai đoạn mạ (7-12 NSS):  Đây là giai đoạn giúp cây lúa ra rễ, đẻ nhánh ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa. Nên bón khi ruộng đủ ẩm, tránh bón lúc nước sâu vì dễ thất thoát đạm. Liều lượng như sau: •    Phân đạm Urea (nếu đất nhiều phèn có thể sử dụng DAP thay thế): 70 - 100 kg Urea/ha; •    NPK cân đối (NPK 16-16-8): 40 - 60kg NPK/ha Để cây lúa phát triển nhanh hơn, mạnh hơn có thể sử dụng sản phẩm BIO ONE liều lượng 1,2kg/ha trộn chung với phân bón rễ hoặc chai KÍCH RỄ DELTA phun với liều lượng 0,5 – 1L/ha. 3.2    Giai đoạn đẻ nhánh (18 – 25 NSS) Giai đoạn này lúa đẻ nhánh tích cực, nuôi nhánh khỏe và chọn lọc chồi hữu hiệu liều lượng phân bón cần sử dụng là NPK cân đối (NPK 16-16-8): 140 - 200kg NPK/ha. Có thể phun thêm KÍCH RỄ DELTA phun với liều lượng 0,5 – 1L/ha. 3.3 Giai đoạn đón đòng (40 – 55 NSS) Giai đoạn này rất quan trọng, quyết định năng suất cuối vụ. Việc bón phân đón đòng đúng cách sẽ giúp hình thành bông to, tăng số hạt trên bông. Loại phân 3 số là ưu tiên cho giai đoạn này như: NPK: 15 – 15 – 15 liều lượng 80 – 120 kg/ha, kết hợp phun TRỔ THOÁT DELTA liều lượng 500ml/ha để có hiệu quả cao nhất. 3.4 Giai đoạn tạo tinh bột, dưỡng hạt (sau khi trổ đều) Giai đoạn này rất quan trọng cuối cùng quyết định năng suất cả vụ. Phương pháp bón phân hữu hiệu giai đoạn này là qua lá và loại phân bón cần ưu tiên sử dụng là VÔ GẠO DELTA liều lượng 500 – 750ml/ha giúp dưỡng lá đài xanh, tăng cường khả năng quang hợp của lá, lúa vô gạo nhanh, chắc hạt nặng ký, năng suất cao. 4.    Chế độ nước Việc quản lý lượng nước trong ruộng lúa là cực kỳ quan trọng, nó quyết định đến thành bại cả vụ mùa: -    Giai đoạn đầu sạ/mạ (0 - 10 NSS): Giữ mặt ruộng ngập xâm xấp hoặc lớp nước mỏng 1–3 cm giúp hạt nảy mầm và bén rễ nhanh.  -    Giai đoạn đẻ nhánh (11 - 40 NSS): Duy trì mực nước 5–7 cm để cây đẻ nhánh rộ. Nên cho ruộng lúa khô khoảng 5 ngày (25 – 30 NSS) (cho mặt ruộng khô nứt chân chim nhẹ để rễ lúa ăn sâu, chống đổ ngã) sau đó cấp nước lại. -    Giai đoạn làm đòng – trổ bông (40–70 ngày): Đây là thời kỳ nhạy cảm nhất, cần giữ ổn định mực nước 3–5 cm, tuyệt đối không để ruộng bị khô hạn hoặc ngập úng. -    Lúa chín và thu hoạch: tiếp tục ổn định mực nước 3–5 cm cho đến khi lúa chín nữa bông (còn khoảng 10 ngày trước khi thu hoạch) xả cạn hoàn toàn nước trên mặt ruộng để đất cứng, giúp lúa chín đều, dễ thu hoạch bằng máy và hạn chế đổ ngã. Cần Thơ, 25/8/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (34)
KỸ THUẬT Ủ PHÂN HỮU CƠ BÓN CHO HOA, RAU, CÂY ĂN QUẢ
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG KỸ THUẬT Ủ PHÂN HỮU CƠ BÓN CHO HOA, RAU, CÂY ĂN QUẢ
KỸ THUẬT Ủ PHÂN HỮU CƠ BÓN CHO HOA, RAU, CÂY ĂN QUẢ    Công thức này rất dễ làm và hoàn hảo vì chỉ cần một hỗn hợp duy nhất có thể nuôi dưỡng nhiều loại cây khác nhau, bao gồm các loại thảo mộc, cây ăn quả, hoa, cây cảnh và thậm chí cả cây trồng trong chậu trong nhà... Quy trình sản xuất phân bón hữu cơ như sau: 1. Các vật liệu và thiết bị bao gồm: trộn cho 100kg phân hữu cơ    - Phân động vật khô xay mịn: 20kg.    - Cám gạo mịn: 20kg.    - Các nguyên liệu hữu cơ khác như: vỏ trấu, bã mía, mùn cưa, vỏ đậu phộng, vỏ đậu xanh và xơ dừa, v.v., có thể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp: 60kg.    - Trộn 1kg Tryco Delta, 1kg mật rỉ đường (hoặc 5 lít nước mía) và 20 lít nước. Trộn chung, khuấy đều cho đến khi tan hoàn toàn. (Vi sinh)    -  Bao tải bố cũ dùng để che phủ hỗn hợp phân bón.    - Cái cuốc, xẻng    - Bình (thùng) tưới cây 2. Các bước thực hiện như sau:    - Chuẩn bị khu vực trộn phân bón trên bề mặt xi măng, hoặc nếu là bề mặt đất, hãy trải bạt để ngăn phân bón thấm vào đất.    - Xếp các nguyên liệu thành từng lớp và trộn đều.    - Đổ hỗn hợp Vi sinh vào bình tưới và tưới lên đống phân ủ. Trộn đều cho đến khi hỗn hợp ẩm nhưng không quá khô hoặc quá ướt. (bóp mạnh nắm tay nhận thấy nước vừa rỉ ra kẻ tay là đủ độ ẩm).    - Trải đều đống phân ủ trên nền xi măng với độ dày khoảng 1-2 gang tay. Phủ lên bằng bao tải và để trong 4-5 ngày. Kiểm tra nhiệt độ vào ngày thứ - Nếu quá nóng, bạn có thể cần phải bỏ bao tải và đảo đống phân ủ để giải phóng nhiệt. Sau đó, đống phân ủ sẽ dần nguội đi. Cuối cùng, đóng gói vào bao để bảo quản và sử dụng sau này.    - Cho hỗn hợp phân hữu cơ đã trộn đều vào các bao phân bón, không buộc miệng bao. Đặt các bao lên các khúc gỗ hoặc tấm ván gỗ sao cho không khí có thể lưu thông bên dưới và để yên trong 5-7 ngày.    - Phân hữu cơ chất lượng tốt sẽ có mùi giống nấm và các sợi nấm màu trắng sẽ kết tụ lại với nhau trong quá trình lên men. Nếu không sinh nhiệt, quá trình lên men sẽ không thành công. Nhiệt độ lên men lý tưởng là từ 40-50 độ C. Nếu độ ẩm quá cao, sẽ sinh nhiệt quá mức; do đó, độ ẩm nên ở mức vừa phải, khoảng 30%. Sau khi được làm khô hoàn toàn, phân hữu cơ có thể được bảo quản trong vài tháng ở nơi khô ráo, thoáng mát. 3. Cách sử dụng:    - Trộn phân hữu cơ với đất trồng trong tất cả các loại luống rau với tỷ lệ 1 kg/m².    - Đối với các loại rau có thời gian trồng hơn 2 tháng tuổi, chẳng hạn như bắp cải, đậu xanh, dưa chuột và bí ngô, hãy trộn khoảng một nắm phân hữu cơ với đất ở đáy hố trồng trước khi trồng cây con.    - Đối với cây ăn quả, lót hố trồng 1-2 kg phân hữu cơ với 3kg chất hữu cơ. Đối với cây đã trồng bổ sung hàng năm 2kg phân hữu cơ + 3kg chất hữu cơ rãi đều quanh tán cây, tưới ẩm.    - Các loại cây ra hoa, cây cảnh và cây trồng trong chậu nên được bón phân hữu cơ mỗi tháng một lần, mỗi lần một nắm nhỏ....   Cần Thơ, 10/8/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (33)  
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI TRỒNG CÂY CÓ MÚI
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI TRỒNG CÂY CÓ MÚI
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI TRỒNG CÂY CÓ MÚI 1. Đào hố và bón lót Đào các hố có kích thước ít nhất 0,3 x 0,3 x 0,3 mét (chiều rộng x chiều dài x chiều sâu). Khoảng cách trồng là 1,5 x 1,5 mét (chiều rộng x chiều dài). Tạo các luống đất nông giữa các hàng trồng. Rắc phân lân và vôi để chuẩn bị hố trồng. Thêm 7kg phân chuồng hoai mục vào đáy mỗi hố. 2. Cải tạo đất Thường xuyên quan sát đất hoặc đo độ pH của đất. Nếu phát hiện bất thường, có thể cải tạo đất bằng cách sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng... Nhìn chung, đất ở khu vực ĐBSCL, nơi trồng cam, có độ pH khoảng 5,1 - 6,5. Hàm lượng chất hữu cơ thấp đến trung bình. Có thể cải thiện đất đơn giản bằng cách thêm phân hữu cơ hoặc các chất hữu cơ khác. Đối với đất chua, nếu độ pH dưới 5,5, bón vôi hoặc dolomit với liều lượng 1 - 2 kg/cây, 1 - 2 lần/năm trong mùa khô. Điều này giúp cải thiện khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, đặc biệt là canxi và magiê, thúc đẩy sự sinh trưởng khỏe mạnh và năng suất cao cho cây ăn quả. Không nên bón vôi đồng thời với bất kỳ loại phân bón nào. 3. Bón phân Tất cả các lần bón phân đều cần phân tích đất trước khi trồng và sau mỗi vụ thu hoạch để xác định loại và liều lượng phân bón phù hợp với nhu cầu cụ thể của cây trồng. Ví dụ: bón phân từ khi trồng cho đến khi cây được một năm tuổi. Khoảng một tháng sau khi trồng, bón phân urê với liều lượng 30 gram cho mỗi cây. Đối với phân bón hóa học, sử dụng công thức cân bằng như 15-15-15, bón 100gram cho mỗi cây khoảng 3 tháng một lần. Đối với phân chuồng, bón khoảng 4-5 kg phân chuồng hai lần một năm. Tưới Phân bón bio hữu cơ Lộc Phát giai đoạn mới trồng, kích rễ, kích chồi (tạo cơi) tưới (phun) liều lượng 5ml/cây định kỳ 10 - 15 ngày/lần. Năm thứ hai, bón phân chuồng hai lần một năm với liều lượng 4-5 kg và 300-500 gram (phân bón 15-15-15) cho mỗi cây khoảng 3 tháng một lần. Tưới Phân bón bio hữu cơ Lộc Phát giai đoạn kích rễ, kích chồi (tạo cơi) tưới (phun) liều lượng 10ml/cây định kỳ 10 - 15 ngày/lần. Khi cây cam được 3 - 4 tuổi trở lên, hãy bón phân như sau: Trước khi ra hoa, bón phân 15- 15 -15 với liều lượng 1 kg/cây và phun phân bón lá để cung cấp vi chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng. Tưới Phân bón bio hữu cơ Lộc Phát giai đoạn kích rễ, kích chồi (tạo cơi) tưới (phun) liều lượng 10 - 15ml/cây định kỳ 10 - 15 ngày/lần. Giai đoạn cây tạo mầm sử dụng các loại phân có Lân và Kali cao. Trong giai đoạn đậu quả, cung cấp các nguyên tố trung vi lượng như canxi, magie, sắt, kẽm, đồng, Bo và mangan bằng cách phun phân bón lá. Giai đoạn dưỡng trái non Phun phân bón TÀI PHÁT liều lượng 50ml/25 lít nước. Gần thời điểm thu hoạch, bón phân NPK (tỷ lệ 1-1-2) với liều lượng 1-2 kg/cây. 4. Quản lý nước Tưới nước rất quan trọng đối với việc trồng Cam. Thiếu nước sẽ làm suy yếu cây, khiến chúng dễ bị bệnh và sâu hại. Ban đầu, tưới nước hàng ngày sau khi trồng. Sau khoảng hai tuần, khi cây đã bén rễ, nên giảm tần suất tưới xuống còn cách ngày. Khi cây trưởng thành, cần kiểm soát và duy trì lượng nước tưới đều đặn, tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng, loại đất và điều kiện thời tiết. Ví dụ, cây cần ít nước hơn trước khi ra hoa vì đang tích lũy chất dinh dưỡng. Khi cây đậu quả, nhu cầu nước tăng lên cho đến khi quả chín. Đối với phương pháp trồng trên luống, mực nước trong mương nên thấp hơn mặt luống ít nhất 30 cm, nước thừa phải được bơm ra ngoài. Khi mới trồng cây họ cây có múi, hãy tưới nước hàng ngày. Thời gian tưới lý tưởng là từ 8:00-10:00 sáng và 2:00-4:00 chiều. Tưới kỹ xung quanh gốc cây và trong bán kính 0,3 mét, sử dụng khoảng 3-5 lít nước mỗi cây, trong 3-4 tuần. Khi cây đã bén rễ và bắt đầu mọc lá mới, hãy giảm tần suất tưới nước. Tưới nước 3 ngày một lần, sau đó bỏ qua 2 ngày, hoặc nếu trời mưa liên tục 3-4 ngày, thì không tưới nước. Quan sát cây xem lá có bị héo không. Chỉ tưới nước khi lá héo hoặc cong lại dưới ánh nắng mặt trời giữa trưa. Tiếp tục tưới nước đều đặn khi cây cam ra hoa và đậu quả. Lượng nước tưới tăng dần theo tuổi cây. 5. Chống đỡ thân cây, tỉa cành và loại bỏ lá   Việc chống đỡ thân cây phải bắt đầu ngay từ khi trồng cây con bằng cách sử dụng cọc để đỡ và buộc cây con lại. Khi cây cam lớn lên và cành lá mọc ra, hãy tỉa cành bằng cách chọn lọc loại bỏ những cành rậm rạp, mọc quá um tùm bên trong và giữa thân cây để ánh nắng mặt trời có thể chiếu đến gốc cây. Đồng thời, loại bỏ các cành rủ xuống, cành yếu, cành nhỏ giọt nước, cành cong hoặc chồng chéo, và các cành bị bệnh hoặc bị côn trùng phá hoại. Cần Thơ, 03/08/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (32)
PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG CÂY CÓ MÚI
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG CÂY CÓ MÚI
PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG CÂY CÓ MÚI 1.    Nguồn gốc và lịch sử  - Tên khoa học:  Citrus spp. - Chi Cam có nguồn gốc từ Đông Nam Á và phát triển mạnh ở các vùng nhiệt đới đến cận nhiệt đới, các vùng khô hạn và ẩm ướt. Chúng là một loại cây trồng quan trọng với diện tích sản xuất đáng kể trên toàn thế giới.  - Các loài thuộc chi này có thể được phân loại thành bốn nhóm là: Cam, Quýt, Bưởi và Bưởi chùm. Ngoài ra, còn có các chi có liên quan gần gũi có giá trị kinh tế khác như: Hạnh (tắc, quất) (Fortunella sp.) và nhóm Cam ba lá (Poncirus trifoliate).  2.    Phương pháp nhân giống Phương pháp phổ biến nhất là: ghép và chiết cành. Ngoài ra, còn có các phương pháp nhân giống khác như: Gieo hạt, giâm cành. 2.1.    Gieo hạt    - Sau khi tách hạt khỏi trái, cần gieo ngay lập tức. Không nên để hạt trong vài ngày vì điều này sẽ cản trở quá trình nảy mầm hoặc dẫn đến tỷ lệ nảy mầm kém và cây con yếu. Rửa sạch hạt với nước để loại bỏ các chất ức chế nảy mầm. Để tăng tỷ lệ nảy mầm, sử dụng GA3 ở nồng độ 150-250 ppm. Môi trường gieo trồng thích hợp cho hạt cam là tro trấu trộn với đất theo tỷ lệ 1:1, hoặc tro trấu trộn với cát theo tỷ lệ 1:1. Có thể gieo trong túi ni lông hoặc ngoài đồng.  - Sau khoảng 15 ngày, hạt cam sẽ bắt đầu nảy mầm; thông thường, một hạt sẽ cho ra nhiều cây con, ngoại trừ bưởi. 2.2.    Giâm cành  - Phương pháp này không được sử dụng phổ biến vì nó tạo ra những cây cam nhỏ với hệ rễ yếu. Tuy nhiên, các thí nghiệm sử dụng hormone kích thích ra rễ như IBA hoặc NAA đã cho thấy điều này cũng có thể thúc đẩy sự phát triển của rễ ở cành giâm. Đối với cành giâm, hãy chọn những cành cam bán trưởng thành dài khoảng 15 - 20 cm, loại bỏ một số lá và trồng chúng trong luống phun sương có chứa hỗn hợp đất cát và tro trấu. Rễ sẽ bắt đầu mọc sau khoảng 30 - 45 ngày. 2.3.    Chiết cành Các bước chiết cành cây cam như sau:    - Chọn những cây cam cho năng suất cao, không bị bệnh và sâu hại. Việc ghép cành nên được thực hiện trên những cây cam từ 4 - 6 năm tuổi, và cành ghép không nên quá non cũng không nên quá già.    - Các cành cây nên có đường kính khoảng 1,0 – 2,0 cm và chiều dài khoảng 75 cm.    - Rạch hai đường trên cành, cách nhau khoảng 2,5 cm. Bóc lớp vỏ ngoài và dùng dao cạo sạch lớp mô phân sinh.    - Để đẩy nhanh quá trình hình thành rễ, hãy sử dụng dung dịch IBA ở nồng độ 5.000 ppm bôi lên trên vết cắt.    - Bọc nó bằng vỏ dừa hoặc xơ dừa, và buộc chặt hai đầu của bầu.    - Mùa tốt nhất để ghép cây cam là mùa mưa. Cây cam thường phát triển rễ khoảng một tháng sau khi bó bầu. Khi lấy cành chiết, hãy quan sát rễ đã mọc. Cắt khi rễ chuyển sang màu nâu và rễ trắng bắt đầu phân nhánh. Cắt cành vào buổi tối mát mẻ, vì lá sẽ ít bị mất nước hơn. Loại bỏ một số lá và cành để giảm thiểu sự thoát hơi nước. Ngâm cành chiết trong nước, che phủ phần vết cắt, trong 1-2 giờ trước khi trồng vào túi. 2.4.    Ghép    - Có một số phương pháp ghép cây như: ghép nêm, ghép bên và ghép mắt. Các thí nghiệm ghép cây có múi đã cho thấy tỷ lệ thành công đạt 90-100%. Phương pháp ghép phổ biến nhất hiện nay là ghép nêm. 2.4.1 Chèn nêm    - Gốc ghép nên có đường kính từ 0,5 – 2,5 cm.  Cắt gốc ghép cách mặt đất khoảng 7 - 15 cm. Dùng dao rạch một đường dài khoảng 2,5 cm làm đôi. Cành ghép nên có khoảng hai chồi. Cắt phần gốc của cành ghép thành hình nêm dài khoảng 2,5 cm. Cắm phần gốc của cành ghép vào vết cắt trên gốc ghép, căn chỉnh các lớp mô phân sinh, và bọc bằng màng nhựa. Che phủ vết ghép bằng một túi nhựa trong suốt kích thước 12 x 18 cm rồi bọc thêm bằng giấy bạc để bảo vệ khỏi nhiệt. Sau khoảng 20 ngày, gỡ bỏ giấy bạc. Khi cành ghép bắt đầu nảy mầm, bạn có thể gỡ bỏ túi nhựa. 2.4.2 Ghép mắt    - Việc ghép cây họ cam quýt có thể được thực hiện cả trong vườn ươm và ngoài đồng ruộng.       + Gốc ghép nên có đường kính từ 0,5 – 2,5 cm. Dùng dao rạch một đường hình chữ T trên vỏ gốc ghép, dài khoảng 2,5 và cách mặt đất 7 – 15 cm. Bóc lớp vỏ để dễ dàng đưa mắt ghép vào. Để chuẩn bị mắt ghép, hãy cắt nó thành hình khiên, cẩn thận không làm hỏng chồi. Giữ nguyên cuống lá để dễ thao tác. Loại bỏ mô gỗ khỏi mắt ghép, sau đó đưa nó vào vết rạch đã chuẩn bị trên gốc ghép. Nếu bất kỳ phần nào của mắt ghép nhô ra sau khi đưa vào, hãy cắt bỏ phần đó và bọc lại bằng màng bọc thực phẩm. Sau khoảng 30 ngày, tháo màng bọc thực phẩm. Bạn sẽ thấy chồi của cành ghép chuyển sang màu xanh và bắt đầu nảy mầm, cho thấy việc ghép đã thành công. Bọc lại bằng màng bọc thực phẩm, chừa một khoảng trống giữa các chồi.    - Ép buộc mắt ghép nhô ra.      + Sau khi ghép xong, khoảng 30 ngày sau, rạch hoặc cắt một đường ngắn khoảng 5-7 cm phía trên vết ghép để kích thích chồi ghép nảy mầm. Khi chồi phát triển thành cành, cắt bỏ phần ngọn của gốc ghép. PHÂN BÓN LỘC PHÁT:  KÍCH RỄ MẠNH – LÁ XANH DÀY – PHÁT LỘC NHANH. Cần Thơ, 18/07/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (31)
KỸ THUẬT TRỒNG ỚT CHUÔNG
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG KỸ THUẬT TRỒNG ỚT CHUÔNG
KỸ THUẬT TRỒNG ỚT CHUÔNG 1.    Sơ lược về Ớt Chuông    - Ớt chuông mang đến vị ngọt ngào và có nhiều màu sắc từ xanh lá cây, đỏ đến vàng óng. Loại rau ưa nắng này lại dễ trồng và thích thời tiết ấm áp. Ớt có thời gian sinh trưởng dài (60 đến 90 ngày).    - Ớt chuông là nguồn cung cấp dồi dào vitamin C, K, E, một lượng nhỏ vitamin A và một số khoáng chất khác. Đặc biệt ớt chuông đỏ khá phong phú với các hợp chất như: Phytochemical, caroteinoid, beta caroten đều có tác dụng tốt để chống oxy hoá và chống viêm.    - Ớt chuông có thể hỗ trợ chữa rất nhiều bệnh như; ung thư, tiểu đường, giảm cholesterol trong máu,…và là đẹp tóc, đẹp da.    - Chúng rất ngon khi ăn sống trong salad hoặc dùng làm món xào. 2.    Trồng Ớt Chuông    - Trồng ớt ở nơi có nhiều ánh nắng mặt trời và đất thoát nước tốt, ẩm (nhưng không quá ướt). Trồng ớt ở vị trí nhận được ít nhất 6 giờ nắng trực tiếp mỗi ngày. Sự cân bằng giữa đất cát và đất thịt sẽ đảm bảo đất thoát nước tốt và nhanh ẩm. Khi trồng nên trộn nhiều chất hữu cơ vào đất.    - Tránh trồng ớt ở những nơi vừa trồng hay trồng xen với các loại cây khác thuộc họ Cà (như cà chua, khoai tây hoặc cà tím), vì điều này có thể khiến ớt dễ nhiễm bệnh.    - Thời điểm tốt nhất để trồng là vụ Đông Xuân (gieo hạt hoặc trồng cây giống từ tháng 9-10) để tránh thời tiết quá nóng hoặc quá nhiều mưa làm thối hoặc rám trái.    - Mua cây giống ớt, hãy chọn những cây có thân thẳng, chắc khỏe, có từ 4 đến 6 lá, và không có hoa hoặc quả. Để cho cây ớt thích nghi dần với điều kiện ngoài trời, hãy đặt cây ra ngoài trời một tuần trước khi trồng.    - Trước khi trồng cây ra vườn, hãy trộn phân chuồng hoai mục và/hoặc phân hữu cơ vào đất với độ sâu khoảng 20 đến 25 cm.    - Đào các hố trồng sâu từ 7 đến 10 cm và cách nhau từ 30 đến 45 cm trong hàng. Khoảng cách giữa các hàng là từ 60 đến 90 cm. Trước khi trồng, nêm làm ẩm đất hố trồng. Cho vào mỗi hố trồng hai hoặc ba que diêm gỗ (để cung cấp lưu huỳnh) và 1 thìa cà phê phân bón có hàm lượng nitơ thấp, phốt pho cao.    - Khi lấy cây con ra khỏi khay hoặc bầu, hãy nhẹ nhàng và để lại càng nhiều đất xung quanh rễ càng tốt. Đặt cây con sâu hơn khoảng 2,5 cm so với vị trí ban đầu trong bầu. Lấp đầy hố bằng đất và nén nhẹ xung quanh cây. Để lại một vùng trũng nhẹ xung quanh mỗi cây để giữ nước.     - Tưới nước cho cây sau khi trồng.    - Việc sử dụng phân bón dạng lỏng thường có lợi vào thời điểm này.    - Cắm cọc ngay lúc này để tránh làm tổn thương rễ sau này. Hãy dùng lồng hoặc cọc để đỡ cây nhằm tránh bị cong. 3.    Chăm sóc    - Tưới nước thường xuyên với lượng nước từ 2,5 đến 5 cm mỗi tuần. Điều này không có nghĩa là tưới nông; cây ớt thích được tưới đẫm nhưng nên để đất gần như khô giữa các lần tưới; chúng cần khoảng thời gian khô ráo tương đối đó. Tưới nước chậm và sâu giúp hệ rễ phát triển mạnh.    - Không để cây ớt bị héo vì điều này sẽ làm giảm năng suất và chất lượng quả. Tưới nước không đều cũng khiến cây ớt dễ bị thối cuống.    - Khi cây đạt chiều cao khoảng 20 cm, hãy ngắt bỏ các chồi non ở ngọn. Điều này giúp cây phát triển rậm hơn, cho nhiều quả hơn.    - Khi cây bắt đầu ra nụ hoa, hãy bón phân thường xuyên. Sử dụng loại phân bón lỏng khác có hàm lượng kali cao.    - Ở vùng khí hậu ấm áp hoặc vào giữa mùa hè, có thể cần tưới nước hàng ngày.    - Ớt rất nhạy cảm với nhiệt độ. Hoa có thể rụng nếu cây bị căng thẳng – nếu trời quá nóng (trên 35 vào ban ngày) hoặc quá lạnh (dưới 15 vào ban đêm) hoặc nếu không đủ nước. Sử dụng lưới che nắng hoặc màng phủ luống để tránh căng thẳng do nhiệt hoặc cháy nắng (tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời trong thời tiết nóng, sẽ khiến ớt bị khô, phồng rộp hoặc trở nên sần sùi).    - Nhổ cỏ cẩn thận xung quanh cây để tránh làm xáo trộn rễ. 4.    Thu hoạch    - Hãy thu hoạch quả khi chúng đạt kích thước và màu sắc tối đa. Việc hái thường xuyên sẽ khuyến khích cây ra nhiều hoa hơn và ra nhiều quả hơn.    - Tuy nhiên, ớt chuông càng để lâu trên cây thì càng ngọt và hàm lượng vitamin C càng cao.    - Dùng kéo cắt cành, kéo tỉa cành hoặc dao sắc bén để cắt bỏ cuống của các loại quả. 5.    Cách bảo quản    - Ớt chuông có thể được bảo quản trong tủ lạnh trong túi nhựa tối đa 10 ngày sau khi thu hoạch.    - Ớt chuông có thể được đông lạnh để sử dụng lâu hơn.    - Chúng cũng có thể được sấy khô. Làm nóng lò nướng khoảng 60°C. Rửa sạch, bỏ lõi và hạt. Cắt thành từng dải rộng khoảng 1,25 cm. Hấp khoảng 10 phút, sau đó trải đều lên khay nướng. Sấy khô trong lò nướng từ 4 đến 6 tiếng; thỉnh thoảng đảo đều và đổi vị trí khay. Để nguội, sau đó bảo quản trong túi hoặc hộp kín trong tủ lạnh. 6.    Các loại Ớt Chuông phổ biến    - Các giống ớt xanh chuyển sang màu đỏ:       + Lady Bell      + Gypsy        + Bell Boy        + Lipstick      - Các giống ớt Màu cam:      + Milena:        + Orange Sun      - Giống ớt Màu vàng:       + Golden California Wonder:  SIÊU DƯỠNG chuyên dùng cho RAU MÀU là kết hợp hài hòa và đầy đủ tất cả các loại dinh dưỡng cần thiết cho cây từ giai đoạn mới trồng cho đến thu hoạch.  Cần Thơ, 22/6/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (30)  
KỸ THUẬT TRỒNG HÀNH TÂY
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG KỸ THUẬT TRỒNG HÀNH TÂY
KỸ THUẬT TRỒNG HÀNH TÂY 1.    Sơ lược về Hành Tây    - Hành tây có nguồn gốc từ châu Á và đã được nông dân trồng trọt hơn 7.000 năm, khiến chúng trở thành một trong những loại cây trồng được thuần hóa lâu đời nhất. Ngày nay, có thể tìm thấy nhiều loại hành tây với hương vị, màu sắc và khả năng chịu nhiệt khác nhau, nhưng tất cả các giống đều phát triển tốt nhất khi được cung cấp đủ ánh nắng mặt trời, đất giàu dinh dưỡng và nước.    - So với nhiều loại rau khác, hành tây không chiếm nhiều diện tích, có thể bảo quản được nhiều tháng và khả năng kháng sâu bệnh tự nhiên khiến chúng trở thành cây trồng phụ hữu ích cho hầu hết các loại cây trồng khác.    - Hành tây chứa nhiều vitamin C, vitamin B, folate, pyridoxine, Kali, lưu huỳnh hữu cơ, quercetin, chất xơ và có lượng calo thấp. Vì thế chúng rất tốt cho sức khỏe con người như: ngăn ngừa ung thư, tốt cho sức khỏe tim mạch, góp phần trị bệnh tiểu đường, tăng cường sức khỏe hệ tiêu hóa, tăng cường miễn dịch. 2.    Trồng cây    - Hành tây là loài cây ưa khí hậu lạnh, cây đã sinh trưởng và phát triển tốt vào khoảng 18 - 270C, biên độ nhiệt ngày và đêm lớn, cây sẽ sinh trưởng rất nhanh.    - Thời điểm thích hợp để Trồng củ hành giống trực tiếp xuống đất vào đầu tháng 10 đến tháng 12.    - Hành tây cũng là một cây ưa sáng, nên trồng ở vị trí được chiếu sáng trong từ 12-15 giờ/ngày.    - Để có kết quả tốt nhất, hãy đảm bảo đất trồng tơi xốp, thoát nước tốt và có độ pH từ hơi axit đến trung tính, đồng thời trộn thêm phân chuồng hoặc phân hữu cơ đã ủ hoai vào đất trước khi trồng hành tây giống.    - Trồng củ hành giống (ngoài trời): trồng củ hành giống – đầu nhọn hướng lên trên – sâu từ 2,5 đến 5 cm. Trồng các củ cách nhau từ 7 đến 10 cm trong các hàng cách nhau từ 30 đến 45 cm, và phủ một lớp rơm rạ giữa các hàng để ngăn cỏ dại. Không nên phủ thêm đất lên củ hành khi chúng đang phát triển vì điều này có thể ảnh hưởng đến quá trình hình thành củ. 3.    Phát triển    - Tưới nước        Hãy tưới cho hành tây khoảng 2,5 cm nước mỗi tuần để chúng phát triển mạnh. Nếu muốn hành tây ngọt hơn, hãy tưới nước thường xuyên hơn. Cần tăng lượng nước tưới trong những đợt nắng nóng để tránh bị ra hoa sớm, trong khi những cây được phủ lớp mùn tốt có thể cần tưới ít nước hơn.    - Bón phân        + Hành tây cần nhiều chất dinh dưỡng và đòi hỏi sự chăm sóc liên tục để cho ra củ to. Khi trồng, cần trộn phân hữu cơ vào đất trước trồng hành tây giống. Sau đó, bón phân cho cây một tuần một lần bằng phân bón lỏng hoặc dạng hạt hữu cơ cân bằng và chỉ ngừng bón phân khi hành tây bắt đầu hình thành củ và nhô lên khỏi mặt đất.       + Cây hành tây không cần tỉa cành, nhưng nên chú ý đến sâu bệnh và phủ lớp mùn khi cần thiết để hạn chế cỏ dại. 4.    Thu hoạch    - Thời gian để thu hoạch hành tây sẽ phụ thuộc vào loại giống, cách chăm sóc và mục đích sử dụng.    - Thông thường, sau khi trồng hành tây từ 60-70 ngày, có thể thu hoạch củ non. Tuy vậy, nên đợi khi củ già để có thể thu được năng suất cao nhất. Củ già khi ngọn hành bắt đầu chuyển sang màu vàng và rủ xuống.     - Cách thu hoạch        + Hãy thu hoạch hành tây khi thời tiết khô ráo.        + Hãy cẩn thận để không làm hỏng củ hành trong quá trình làm việc. Sau đó, nắm lấy phần ngọn hành và kéo chúng lên khỏi mặt đất một cách cẩn thận để tránh làm dập nát.       + Bất kỳ củ hành nào mọc cuống hoa đều nên được thu hoạch càng sớm càng tốt. Việc ra hoa có nghĩa là củ đã ngừng phát triển.    - Lưu trữ và bảo quản       + Để giữ cho hành tây tươi, hãy cắt bỏ phần rễ và tỉa phần ngọn sao cho chiều dài chỉ còn 2,5 đến 5 cm. Có thể để nguyên phần ngọn nếu định tết hành tây sau này.       + Sau khi làm xong các bước trên, hãy đặt những củ hành đã cắt tỉa lên nền đất khô trong vài ngày để chúng khô hoàn toàn.       + Sau khi phơi khô, hãy treo hành tây trong túi lưới hoặc tất nylon, xếp chúng thành hai lớp trong hộp, hoặc tết lại và treo ở nơi thoáng mát, khô ráo và thông gió tốt. 5.    Các vấn đề thường gặp     - Việc trồng hành tây quá sát nhau hoặc không cung cấp đủ chất dinh dưỡng có thể dẫn đến hiện tượng củ phát triển kém. Ngoài ra, nếu chọn giống hành tây không phù hợp với điều kiện trồng trọt, cây cũng có thể không ra củ.    - Lá hành chuyển sang màu vàng có thể là dấu hiệu của sự thiếu hụt chất dinh dưỡng hoặc vấn đề về tưới nước; tuy nhiên, lá hành cũng tự nhiên chuyển sang màu vàng khi gần đến thời điểm thu hoạch.    - Sâu bệnh vẫn có thể tấn công hành tây trong một số điều kiện nhất định, nhưng chúng ít có khả năng nhắm vào loại cây trồng này hơn so với các loại rau khác.    - Bệnh thối rữa có thể làm củ hành bị nhũn và phá hủy toàn bộ vụ trồng nếu hành được trồng ở những nơi ẩm ướt. 6.    Các loại Hành Tây phổ biến    - Hành tây được chia thành các loại “ngày ngắn”, “ngày dài” và “trung tính”, và điều quan trọng là phải chọn đúng giống hành tây phù hợp với địa điểm trồng trọt cụ thể.    - Các giống cây trồng ngày dài: -    Yellow Sweet Spanish: Là giống hành tây ưa ngày dài, loại hành này được ưa chuộng nhờ củ to, tròn, màu trắng vàng.  -    Ailsa Craig: Một giống hành tây cổ truyền với vỏ màu vàng nhạt và củ có vị ngọt dịu, hành tây 'Alisa Craig' được đặt tên theo một hòn đảo của Scotland và có đường kính lên đến 20cm.   Các giống cây trồng ngày ngắn: -    Stuttgarter: giống này chín sớm và cho củ màu vàng, hình dạng hơi dẹt. -    Red Burgundy: Đây là loại hành tây thích hợp để thái lát, có phần ruột màu trắng, vị ngọt nhẹ, nhưng thời hạn sử dụng tương đối ngắn.   Các giống trung tính về độ dài ngày: -    Candy: Củ hành 'Candy' to, vàng óng với thịt dày là điểm khác biệt so với các loại hành khác. Chúng cũng bảo quản được rất tốt!  -    Purplette: Là một giống hành tây mini, củ 'Purplette' có kích thước tối đa khoảng 3,8 cm và có phần thịt màu đỏ tía bóng khi còn sống, chuyển sang màu hồng nhạt xinh xắn khi được nấu chín hoặc ngâm chua.   SIÊU DƯỠNG chuyên dùng cho RAU MÀU là kết hợp hài hòa và đầy đủ tất cả các loại dinh dưỡng cần thiết cho cây từ giai đoạn mới trồng cho đến thu hoạch.  Cần Thơ, 09/6/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (29)  
SÂU ĐỤC THÂN LÚA
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG SÂU ĐỤC THÂN LÚA
SÂU ĐỤC THÂN LÚA Scirpophaga incertulas    - Hiện nay, sâu đục thân lúa xuất hiện phổ biến ở hầu hết các vùng trồng lúa và có xu hướng phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, gieo sạ dày hoặc sử dụng phân đạm không cân đối. Đây là nhóm dịch hại nguy hiểm vì chúng tấn công trực tiếp vào thân cây, làm giảm khả năng sinh trưởng và gây thất thu đáng kể nếu không được quản lý kịp thời.    - Sâu đục thân lúa là nhóm ấu trùng thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), ký sinh và gây hại đặc biệt nghiêm trọng trên cây lúa (Oryza sativa). Tại Việt Nam, nhóm đối tượng này bao gồm bốn loài chủ chốt: sâu đục thân bướm hai chấm (Scirpophaga incertulas), sâu đục thân năm vạch đầu nâu (Chilo suppressalis), sâu đục thân năm vạch đầu dọc (Chilo polychrysus), và sâu đục thân bướm cú mèo (Sesamia inferens).    - Trong đó, sâu đục thân bướm hai chấm (Scirpophaga incertulas) được ghi nhận là loài gây thiệt hại kinh tế cao nhất do đặc tính chuyên tính (chỉ gây hại trên cây lúa). 1. Đặc điểm sinh học và Vòng đời    - Vòng đời của sâu đục thân lúa thuộc kiểu biến thái hoàn toàn, trải qua 4 giai đoạn phát triển rõ rệt. Tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ môi trường và loài cụ thể, chu kỳ này thường kéo dài từ 35 đến 50 ngày.      + Giai đoạn trứng (6-7 ngày): Trứng được đẻ thành ổ trên lá lúa, phủ một lớp lông tơ mịn màu nâu vàng từ bụng bướm cái để bảo vệ khỏi các tác nhân ngoại cảnh và thiên địch.      + Giai đoạn ấu trùng (Sâu non) (25-30 ngày): Gồm 5 đến 6 tuổi. Đây là giai đoạn duy nhất gây hại trực tiếp lên cây lúa.      + Giai đoạn nhộng (8-10 ngày): Sau khi tích lũy đủ dinh dưỡng, ấu trùng tuổi cuối di chuyển xuống phần gốc thân lúa, cắn một lỗ biểu bì (để chuẩn bị cho bướm thoát ra sau này) rồi hóa nhộng bên trong thân.      + Giai đoạn trưởng thành (Bướm) (3-5 ngày): Bị thu hút bởi ánh sáng. Bướm trưởng thành không gây hại trực tiếp, chức năng sinh học chính là giao phối và tìm kiếm ký chủ thích hợp để đẻ trứng. 2. Cơ chế gây hại và Triệu chứng    - Cơ chế phá hoại của sâu đục thân lúa dựa trên tập tính ăn ngầm. Ngay sau khi nở, ấu trùng di chuyển xuống nách lá, cắn thủng vách thân để xâm nhập vào khoang rỗng bên trong.    - Sâu gây hại mạnh ở 2 giai đoạn sinh trưởng quan trọng của cây lúa:       + Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (Dưới 60 ngày sau sạ): Ấu trùng cắn đứt mạch dẫn (libe và xylem) tại phần gốc thân. Do nước và chất dinh dưỡng không thể dịch chuyển lên phía trên, lá non tâm bị héo rũ, chuyển vàng và chết khô. Hiện tượng này được gọi là "dảnh héo" (dead hearts). Ở giai đoạn này, nếu mật độ hại thấp, cây lúa có khả năng bù đắp sinh học bằng cách phát triển các nhánh phụ (chồi vô hiệu).       + Giai đoạn sinh trưởng sinh sản (trổ bông): Nếu ấu trùng tấn công vào giai đoạn làm đòng hoặc bắt đầu trổ, chúng sẽ cắt đứt hoàn toàn nguồn dinh dưỡng nuôi bông lúa. Hệ quả là bông lúa non không thể thụ phấn, các hạt bị lép hạt hoàn toàn và toàn bộ bông lúa chuyển sang màu trắng bợt, đứng thẳng. Triệu chứng đặc trưng này được gọi là "bông bạc" (whiteheads), trực tiếp làm giảm năng suất lúa. 3. Biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại    a. Biện pháp canh tác      + Vệ sinh đồng ruộng: Cày lật gốc rạ sau thu hoạch và cho ngập nước để tiêu diệt nguồn nhộng và ấu trùng lưu tồn.      + Điều chỉnh thời vụ: Sạ/cấy tập trung, đồng loạt trên từng cánh đồng nhằm ngắt quãng nguồn thức ăn liên tục của sâu.      + Quản lý dinh dưỡng: Bón phân cân đối tỷ lệ N-P-K. Tránh bón thừa phân đạm (N), vì thừa đạm làm tăng hàm lượng axit amin tự do và làm mềm vách tế bào thân lúa, kích thích bướm đến đẻ trứng và tạo điều kiện cho ấu trùng xâm nhập dễ dàng.    b. Biện pháp sinh học      + Bảo vệ hệ sinh thái thiên địch tự nhiên trên đồng ruộng, đặc biệt là các loài ong ký sinh trứng thuộc họ Trichogrammatidae (ong mắt đỏ) và họ Telenominae.      + Sử dụng các chế phẩm sinh học từ vi nấm ký sinh côn trùng như Beauveria bassiana (nấm trắng) hoặc vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) ở các giai đoạn sâu non tuổi nhỏ.    c. Biện pháp hóa học      + Sử dụng thuốc BVTV khi mật độ ổ trứng đạt trên 0.5 - 1 ổ/m2 vào giai đoạn lúa làm đòng.      + Hoạt chất khuyến cáo: Ưu tiên các nhóm thuốc có tác dụng nội hấp (lưu dẫn) hoặc thấm sâu cao để tác động đến ấu trùng nằm sâu bên trong thân cây, ví dụ như các hoạt chất thuộc nhóm Chlorantraniliprole, Cartap, Spinetoram, Indoxacarb, Emamectin benzoate, Profenofos + Thiamethoxam. Thời điểm phun tối ưu là từ 5 đến 7 ngày sau khi bướm rộ (tương ứng với thời điểm ấu trùng vừa nở, chưa kịp chui vào trong thân lúa). Công ty cổ phần Bảo Vệ Thực Vật Delta
SÂU ĐỤC TRÁI MÍT
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG SÂU ĐỤC TRÁI MÍT
SÂU ĐỤC TRÁI MÍT Conogethes punctiferalis      - Sâu đục trái mít là một trong những đối tượng dịch hại nguy hiểm nhất trên các vùng trồng mít. Chúng tấn công trực tiếp vào tất cả các giai đoạn phát triển của trái (cơ quan kinh tế của cây), làm giảm nghiêm trọng cả năng suất lẫn giá trị thương phẩm.      - Dưới đây là tổng quan khoa học về đặc điểm sinh học, hình thái, tập tính gây hại và các biện pháp quản lý tổng hợp (IPM) đối với loài dịch hại này. 1. Phân loại khoa học và Tên khoa học      - Tên khoa học: Conogethes punctiferalis (Guenée)      - Họ: Pyralidae (Họ ngài sáng)      - Bộ: Lepidoptera (Bộ cánh vẩy)      - Loài côn trùng này là đối tượng đa thực, ngoài mít chúng còn gây hại trên nhiều loại cây ăn trái khác như sầu riêng, chôm chôm, ổi và nhãn. 2. Đặc điểm hình thái và Vòng đời Sâu đục trái mít phát triển qua 4 giai đoạn biến thái hoàn toàn:      - Trứng: Kích thước rất nhỏ (khoảng 0.5 mm), hình bầu dục, lúc mới đẻ có màu trắng sữa, sau chuyển sang màu vàng nhạt hoặc hồng trước khi nở. Trứng thường được đẻ đơn lẻ trên bề mặt trái, gần cuống hoặc ở các khe nứt giữa các gai mít.      - Ấu trùng (Sâu non): Đây là giai đoạn gây hại duy nhất. Sâu non có 5 tuổi. Sâu mới nở có màu trắng đục, đầu đen. Khi lớn, thân chuyển sang màu hồng cam hoặc xám hồng, trên mỗi đốt thân có các chấm đen nhỏ xếp đối xứng đặc trưng. Sâu trưởng thành có thể đạt chiều dài 20–25 mm.      - Nhộng: Khi ăn đủ sức, sâu chui ra gần bề mặt vỏ hoặc bên trong đường đục để hóa nhộng trong một kén bằng tơ mỏng bao phủ bởi phân và mùn cây. Nhộng ban đầu có màu vàng nâu, sau chuyển sang nâu đậm.      - Trưởng thành (Thành trùng): Là một loài ngài (bướm đêm) có kích thước trung bình, sải cánh rộng khoảng 20–25 mm. Toàn thân và cánh có màu vàng cam nhạt, trên cả cánh trước và cánh sau đều dày đặc các chấm đen nhỏ. Thành trùng chủ yếu hoạt động, bắt cặp và đẻ trứng vào ban đêm. 3. Đặc điểm gây hại Sâu đục trái có thể tấn công từ khi trái mít còn rất non (giai đoạn sau đậu trái) cho đến khi trái già, chín.      - Vị trí tấn công phổ biến: Sâu thường chọn những vị trí khuất như phần cuống trái, nơi hai trái sát nhau hoặc mặt dưới của trái tiếp xúc với thân cây để đục vào.      - Cơ chế gây hại: Sâu non sau khi nở sẽ cắn phá lớp vỏ gai bên ngoài, sau đó đục sâu dần vào bên trong vỏ, ăn xơ mít và có thể ăn sâu vào tận hạt hoặc lõi trái. Dấu hiệu nhận biết:      - Tại lỗ đục, sâu đùn phân và mạt cưa (mùn gỗ) ra ngoài tạo thành các cục màu nâu đen dính lại thành chùm.      - Vết đục mở đường cho các loại nấm bệnh (như Phytophthora spp.) và vi khuẩn xâm nhiễm, gây ra hiện tượng thối trái, chảy mủ (mủ đen), làm trái bị biến dạng, chín héo sớm hoặc rụng hàng loạt. 4. Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) Để quản lý sâu đục trái hiệu quả và bền vững, nhà vườn cần áp dụng đồng bộ các giải pháp sinh học, canh tác và hóa học: a. Biện pháp canh tác (Biện pháp kỹ thuật)      - Vệ sinh vườn cây: Thường xuyên cắt tỉa các cành già, cành sâu bệnh để vườn thông thoáng, giảm độ ẩm, hạn chế nơi ẩn nấp của thành trùng.      - Tiêu hủy tàn dư: Thu gom toàn bộ những trái bị hại rụng dưới đất hoặc còn trên cây đem tiêu hủy (chôn sâu hoặc đốt) để ngắt nguồn dòng đời của sâu, không cho nhộng nở thành bướm.      - Tỉa trái: Chỉ để lại số lượng trái hợp lý trên cây. Tránh để các trái nằm sát nhau tạo khe hở cho sâu dễ trú ẩn và đục khoét.      - Bao trái (Biện pháp cốt lõi): Sử dụng túi lưới chuyên dụng (kích thước lớn) để bao trái sau khi thụ phấn khoảng 15–20 ngày (khi trái to bằng cổ tay). Đây là biện pháp cơ học cực kỳ hiệu quả, ngăn chặn tuyệt đối ngài đẻ trứng mà không cần lạm dụng thuốc. b. Biện pháp sinh học      - Bảo vệ thiên địch: Hạn chế phun thuốc hóa học phổ rộng để bảo vệ các loài thiên địch tự nhiên như kiến vàng (Oecophylla smaragdina), bọ đuôi kìm, nhện và các loài ong ký sinh trứng/nhộng.      - Sử dụng chế phẩm sinh học: Khi sâu mới xuất hiện ở tuổi 1 - tuổi 2, có thể phun các chế phẩm chứa vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) hoặc nấm ký sinh để diệt sâu non một cách an toàn. c. Biện pháp hóa học Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi mật độ sâu cao và các biện pháp trên không đủ kiểm soát, ưu tiên các loại thuốc có nguồn gốc sinh học hoặc điều hòa sinh trưởng côn trùng.      - Thời điểm phun hiệu quả: Phun vào giai đoạn cây vừa đậu trái non hoặc khi phát hiện ngài bắt đầu rộ lên đẻ trứng. Khi sâu đã đục sâu vào trong ruột trái, việc phun thuốc hóa học hầu như không còn hiệu quả vì thuốc khó tiếp xúc với sâu.      - Hoạt chất khuyến cáo: Có thể sử dụng các thuốc có hoạt chất như Emamectin benzoate, Spinetoram, Chlorantraniliprole. Lưu ý an toàn: Tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc "4 đúng" và đảm bảo thời gian cách ly (PHI) ghi trên nhãn thuốc để tránh tồn dư hóa chất trên trái mít khi thu hoạch. Công ty cổ phần Bảo Vệ Thực Vật Delta
KỸ THUẬT TRỒNG MĂNG TÂY
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG KỸ THUẬT TRỒNG MĂNG TÂY
KỸ THUẬT TRỒNG MĂNG TÂY 1.    Sơ lược về Măng Tây      - Măng Tây là loại rau tuyệt vời, chúng có chứa rất nhiều vitamin, axit amin, sắt, canxi, kẽm, chất xơ,… Bên cạnh đó, măng tây cũng có thể hỗ trợ chữa rất nhiều bệnh như; ung thư, tiểu đường, tim mạch, đường ruột,…      - Măng tây có thể được trồng ở hầu hết các vùng ôn đới và cân nhiệt đới. Phần ăn được của cây măng tây là chồi non.       - Cây Măng Tây mới trồng có thể mất từ 2 đến 3 năm mới bắt đầu cho thu hoạch, vì một khi đã phát triển ổn định, măng tây có thể cho năng suất trong nhiều thập kỷ.      - Cây măng tây phát triển khá nhanh. Cây cho năng suất khoảng 1,25 kg măng mỗi 30cm hàng vào mùa xuân và đầu mùa hè.      - Điều quan trọng nhất cần biết về măng tây là bạn không nên thu hoạch trong vài mùa đầu tiên. Cây cần thời gian để phát triển ổn định trước khi bạn có thể thu hoạch bền vững. 2.    Trồng cây      - Măng tây là loại cây ưa khí hậu mát, ưa sáng và cần cung cấp nhiều nước, tuy nhiên cũng cần thoát nước tốt cho măng tây, tránh ngập úng. Ở nhiệt độ 10 – 250C là điều kiện thích hợp nhất để trồng loại cây này.      - Măng tây phát triển tốt trong đất trung tính đến hơi chua (độ pH khoảng 6,5).      - Xới đất và trộn thêm một lớp phân hữu cơ, phân chuồng hoai mục với hỗn hợp đất dày từ 5 đến 10cm.      - Đất cần được xới tơi ở độ sâu từ 30 đến 35cm để măng tây có thể bén rễ tốt.      - Măng tây thường được trồng từ cây con một năm tuổi gọi là "củ mầm", được trồng thời điểm ít mưa khoảng tháng 11 đến tháng 4 năm sau. 3.    Cách trồng măng tây      - Trồng rễ cây sâu xuống đất để bảo vệ chúng khỏi việc đứt rễ khi xới đất cần thiết cho việc diệt cỏ hàng năm.      - Đào một rãnh giữa 2 hàng rộng khoảng 35 đến 45cm và sâu từ 15 đến 20cm.       - Trồng các gốc măng tây cách nhau từ 30 đến 45cm (tính từ đầu rễ này đến đầu rễ kia) trong rãnh.      - Trồng cây con từ 4 đến 6 tuần tuổi (và có 4 hoặc 5 lá) ngoài trời, cách nhau 30 đến 50cm.      - Tưới nước kỹ khi trồng cây.      - Vấn đề lớn nhất khi trồng măng tây trong 2 năm đầu tiên là kiểm soát cỏ dại. Cẩn thận không làm tổn thương rễ măng tây.      - Trong 2 năm đầu sau khi trồng, cây măng tây cần từ 2,5 đến 5cm nước mỗi mét vuông mỗi tuần. Nếu lượng mưa không đủ, bạn có thể cần tưới nước. Nên sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt.      - Không nên thu hoạch măng tây trong năm đầu tiên hoặc năm thứ hai (cây cần thời gian để phát triển hệ rễ), thường xuyên cắt bỏ phần lá khô và bón phân hữu cơ xung quanh gốc.      - Trong năm thứ ba, luống măng tây sẽ cho năng suất tối đa, vì vậy có thể bắt đầu thu hoạch một cách từ từ trong suốt mùa vụ. 4.    Thu hoạch      - Kiểm tra cây măng tây hai ngày một lần để xem có ngọn nào sẵn sàng thu hoạch. Măng tây phát triển rất nhanh và có thể trở nên quá cứng trước khi kịp nhận ra! Một khi ngọn măng tây bắt đầu mở ra và có lá, nó sẽ quá dai để ăn.      - Thu hoạch măng tây khi chúng đạt chiều cao từ 20 đến 25 cm và đường kính từ 1,2 đến 1.7 cm. (Lưu ý: măng tây non và mỏng hơn sẽ mềm hơn, vì vậy hãy thu hoạch theo sở thích)      - Để thu hoạch măng tây, chỉ cần dùng dao sắc hoặc kéo cắt thân măng tây sát gốc.      - Sau khi thu hoạch, hãy bón phân cho luống măng tây vào đầu mùa hè. Bạn có thể bón một lớp phân hữu cơ cân bằng hoặc rắc thêm một lớp phân hữu cơ giàu dinh dưỡng, không có cỏ dại dày khoảng 2,5 cm lên trên lớp mùn đang phân hủy.      - Luôn luôn để lại ít nhất hai hoặc ba ngọn măng trên cây trong suốt mùa sinh trưởng. 5.    Cách bảo quản măng tây      - Ngay lập tức, nhúng những ngọn măng tây vừa cắt vào nước lạnh để giữ lại lượng đường.      - Măng tây không để được lâu sau khi thu hoạch, sử dụng tốt trong vòng 2 hoặc 3 ngày sau khi thu hoạch.      - Để bảo quản, bó các ngọn măng tây lại với nhau, dùng khăn giấy ẩm bọc phần cuống, rồi cho bó măng tây vào túi ni lông. Bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh.      - Cũng có thể bảo quản măng tây bằng cách đặt các ngọn măng tây vào một cốc nước. Giữ mực nước sạch trong cốc khoảng 2,5 cm. 6.    Các loại Măng Tây phổ biến      - Cây măng tây có thể là cây đực hoặc cây cái. Cây cái cho quả; cây đực không tiêu tốn năng lượng cho việc tạo quả, vì vậy chúng có thể cho năng suất cao gấp ba lần cây cái. Vì lý do này, người ta thường ưa chuộng trồng cây măng tây đực hơn.       - Giống Guelph Millennium: thích hợp ở những vùng khí hậu lạnh (khoảng 10- 180C)        - Giống măng Tây Apollo: thích hợp vùng khí hậu ấm áp (khoảng 13 – 200C), cho năng suất cao      - Măng Tây UC 157: cho năng suất cao, phù hợp ở vùng khí hậu 20 – 300C        - Giống Măng tây Purple Passion: được lai tạo để có màu tím nhưng chuyển sang màu xanh khi nấu chín. Các giống măng tây tím thường có ngọn dày hơn nhưng số lượng ít hơn. Nhiệt độ thích hợp từ 15 – 250C SIÊU DƯỠNG chuyên dùng cho RAU MÀU là kết hợp hài hòa và đầy đủ tất cả các loại dinh dưỡng cần thiết cho cây từ giai đoạn mới trồng cho đến thu hoạch.    Cần Thơ, 15/5/2026. PHÒNG KỸ THUẬT (28)  
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA