KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Cách tỉa cành - tạo tán cho Cây Na
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Cách tỉa cành - tạo tán cho Cây Na
CÁCH TỈA CÀNH - TẠO TÁN CHO CÂY NA 1. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC TỈA CÀNH - TẠO TÁN - Cây Na trồng sau 3 năm cho quả, năm thứ 4, thứ 5 trở đi quả ngày một nhiều. Nếu được chăm tốt năng suất ngày càng cao và sẽ kéo dài được thời gian cho quả. Cùng với việc bón phân tưới nước đầy đủ, cắt tỉa cành là biện pháp kỹ thuật để góp phần khắc phục hiện tượng chóng tàn của cây: Làm cho cây khỏe, trẻ, hạn chế sâu, bệnh hại, sai quả, quả to và phẩm chất thơm ngon, cây không cao dễ chăm sóc thu hoạch. Do đặc điểm của cây Na là sau khi rụng lá, gặp mưa hoặc tưới nước cành sẽ ra lá mới đồng thời kèm theo nụ hoa. Đặc biệt là các cành mọc trong thân sẽ cho trái to và nhanh thu hoach. Tỉa cành kết hợp tuốt lá là một trong những biện pháp điều khiển cho cây Na ra hoa trái vụ, rải vụ thu hoạch (Na gối). 2. CÁCH TỈA CÀNH TẠO TÁN - Cây Na là cây có cành đa cấp, chúng nên được tạo tán để có dáng thích hợp như tán hình phễu, hình nón ngược. Người trồng sẽ có lợi nếu làm theo hệ thống này dễ dàng chăm sóc cây kể cả phun thuốc và thu hái quả, các cây trẻ cho tán mọc nhanh và ra quả sớm. + Chon 3 - 4 cành khỏe, thẳng mọc từ thân chính và phát triển theo 3 - 4 hướng tương đối đồng đều nhau làm cành cấp 1. Cành cấp 1 cùng với thân chính tạo thành 1 góc 35 - 40o. Từ cành cấp 1 sẽ phát triển các cành cấp 2 và chỉ giữ lại 2 - 3 cành. + Cành cấp 2 phải để cách thân chính 15 - 30 cm và cành này cách cành khác 20 - 25 cm và cùng cành cấp 1 tạo thành một góc 30 - 35o. Từ cành cấp 2 sẽ hình thành những cành cấp 3. + Cành cấp 3 không hạn chế về số lượng và chiều dài nhưng cần loại bỏ các chỗ cành mọc quá dày hoặc quá yếu. Sau 3 năm cây sẽ có bộ tán, thuận lợi trong chăm sóc, phòng ngừa sâu bệnh và thu hoạch.           Tỉa cành - tạo tán cho Cây Na 3. TỈA CÀNH SAU THU HOẠCH Trong kỹ thuật đốn (tỉa), có “kỹ thuật đốn phớt”, “kỹ thuật đốn lửng”, “kỹ thuật đốn đau”. - Đốn phớt: Với những cây đang thời kỳ sung sức nhưng phát triển quá rậm, ít quả thì cắt bỏ toàn bộ những cành nhỏ mọc trong tán, chừa lại những cành to bằng ngón tay út trở lên và trên những cành ấy cắt bỏ tất cả ngọn ở nơi tiếp giáp giữa cành bánh tẻ và cành non. Sau khi cắt, ta có một bộ tán trụi lá toàn cành hữu hiệu, sẵn sang đâm chồi mới và ra hoa. * Tỉa cành: Hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những đoạn cành sau đây:  + Cành đã mang quả (thường rất ngắn khoảng 10 - 15cm). + Cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu (cành tăm), cành nằm bên trong tán không có khả năng mang quả.  + Cành đan chéo nhau, những cành vượt trong thời gian cây đang mang quả nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng với quả. - Đốn lửng: Khi cây có chiều cao quá tầm hái, mật độ cành trên tán quá dầy cành và cho quả nhỏ, năng suất giảm thì đốn lửng. Dùng dao hoặc kéo để đốn, tạo mặt tán chè bằng. - Đốn đau: những cây được đốn lửng nhiều lần, cây phát triển kém, năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 - 45 cm nhằm tạo một bộ khung tán mới cho cây Na. ** Lưu ý: Dùng dao, kéo sắc để tạo vết cắt gọn, tránh làm xước cành sẽ làm ảnh hưởng đến cấc mầm phía dưới vừa dễ nhiễm bệnh. Vết cắt, đốn vát 45o. - Sau khi cắt tỉa cành xong dùng dung dịch Bordeaux (booc đô) 3% hoặc các thuốc có hoạt chất Mancozeb bôi lên vết cắt vừa để hạn chế cây bốc hơi nước, vừa để chống nhiễm khuẩn cho cây nhanh liền sẹo. - Ngay sau khi tạo tán xong bón 25 kg phân hữu cơ + 1 - 2 kg NPK 16-16-8 + 0,4 kg vôi/cây hoặc 25 kg phân hữu cơ + 1,5 kg đạm urea + 0,8 kg super lân + 0,7 kg KCl/cây. Cuốc xới đất, vùi đất kỹ, tủ hốc, tưới nước giữ ẩm cho cây để chuẩn bị phân hóa mầm hoa và ra hoa tốt. - Sau khi cắt tỉa 10 ngày, trên mỗi cành sẽ mọc ra nhiều chồi, nên tỉa bớt chỉ chừa lại 4 - 6 chồi khỏe mạnh được phân đều về các hướng.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Đặc điểm thực vật của Cây Na
Cây Na
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Cây Na
CÂY NA (Sugar Apple) 1. PHÂN LOẠI, NGUỒN GỐC - Cây Na có tên khoa học: Annona squamosa thuộc chi Annona, loài Annonasceae. Chi Annona xuất phát từ chữ Latin “anon” – “sản xuất hàng năm” do thuộc tính cho quả hàng năm của các loài khác nhau trong chi này. - Na còn có tên thường gọi khác là Mãng cầu ta, Mãng cầu dai, Sa Lê, Phan Lệ Chi. - Cây Na được xác định có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới. Kể từ thế kỷ 16, cây Na đã được nhập vào nhiều nước nhiệt đới. Do tính thích nghi rộng nên Na được trồng phổ biến ở các vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. - Na được nhập vào nước ta từ lâu và được trồng khắp cả nước chỉ trừ một vài vùng có nhiệt độ xuống quá thấp vào mùa đông. Na sinh trưởng thuận lợi ở nhiệt độ trung bình hàng năm 25 - 30oC, lượng mưa trung bình khoảng 1000mm/năm. Na là cây có tính thích nghi rất rộng. Na chịu được đất xấu, đất trồng đồi trọc, đất chua mặn, chịu hạn tốt nhưng không chịu úng ngập, độ pH thích hợp 5,5 - 6,5. 2. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT - Có hàng chục loại Mãng cầu có quả ăn được nhưng trên thế giới có 2 loài được trồng phổ biến nhất đó là Na (Annona squamosa) và Mãng cầu xiêm (Annona muricata). - Cây Na là cây thân gỗ thường rụng lá vào mùa đông, cao từ 5 - 10 m, phân cành thường tạo thành hình nón. Hệ thống rễ ăn sâu và có thể lan rộng hơn đường kính tán. Lúc cây còn nhỏ có tồn tại rễ cọc tuy nhiên rễ sau đó bị tiêu biến. - Lá đơn, hình elip, có mùi hăng. - Hoa lưỡng tính, đài dưới màu trắng xanh hoặc vàng xanh gồm 2 vòng xoắn 3 cánh ngoài lớn hơn. - Quả hình trứng là quả phức do nhiều nhụy hoa sau khi thụ phấn thụ tinh kết hợp lại, quả nhiều thịt màu trắng, hạt màu đen bóng, mỗi quả có nhiều hạt. Trong hạt Na có chất độc. - Cây Na có thể được nhân giống vô tính, đặc biệt thông qua các kỹ thuật ghép. Tuy nhiên Na thường được nhân giống hữu tính bằng hạt. Việc nhân giống bằng hạt vừa tạo được sự đồng đều của cây con, hệ số nhân cao. Hạt giống có thể gieo trực tiếp vào các hố trồng hoặc trong vườn ươm. Sau 20-30 ngày hạt nảy mầm đạt 85-90% và 6-8 tháng sau cây có thể được đem vào hố trồng. Cây na sau 3 năm cho quả, năm thứ 4, thứ 5 trở đi quả ngày một nhiều. - Quả na ngon, ngọt, có mùi thơm thanh khiết nên được nhiều người ưa thích. Quả na nặng khoảng 130g - 370g, số hạt 1 quả từ 14 - 66 hạt, phần ăn được từ 34,4% - 60,6%, độ chua từ 0,2% đến 0,8%, lượng đường chiếm khoảng 68% của tổng chất rắn. Quả Na còn chứa nhiều vitamin nhóm B (0,07mg/100g) và C (20mg/100g), một lượng nhỏ canxi và phốt pho. Ở CuBa còn có giống na không hạt nhưng quả hơi nhỏ. Trồng na chủ yếu để lấy quả ăn tươi, ngoài ra ở một số nước, quả na được chế thành mứt, nước giải khát, hoặc thuốc chữa bệnh. - Các bộ phận khác của cây cũng có thể được sử dụng vào việc hữu ích, như bột tán lá cây na có thể dụng diệt chấy rận. Các lá cũng có thể được nghiền ra chữa ap-xe, chữa chứng bụng khó tiêu, ghẻ và bệnh ngoài da,…   Công ty cổ phần BVTV Delta
Rầy phấn trắng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Rầy phấn trắng
RẦY PHẤN TRẮNG - Tên khoa học: Bemisia tabaci - Rầy phấn trắng gây hại trên dưa bầu bí, ớt, cà chua và nhiều cây trồng khác. 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - Vòng đời rầy phấn trắng trung bình 15-30 ngày. Tùy theo điều kiện nhiệt độ môi trường. Vòng đời rầy phấn trắng - Trứng rầy phấn trắng rất nhỏ, hình bầu dục, có cuống dài khoảng 0,18-0,2 mm, trứng mới đẻ màu trắng trong, những ngày sau chuyển sang màu nâu nhạt rồi thành nâu xám. Trứng rầy phấn trắng - Ấu trùng tuổi 1 non màu nhạt, hình ovan dài khoảng 0,7-0,9 mm, chiều rộng 0,5-0,6 mm. Khi mới nở có chân bò dưới mặt lá tìm được chỗ sống thích hợp rồi ở cố định một chỗ ở mặt dưới lá. Ấu trùng rầy phấn trắng - Nhộng giả hình bầu dục, màu trắng, miệng thoái hóa, râu và chân hơi ngắn. Cả hai mặt của nhộng ở giai đoạn đầu đều có điểm màu cam và sẽ biến mất khi sắp vũ hóa, xác nhộng màu trắng, không có các tua sáp xung quanh nhộng nhưng có lông 2 bên sườn. - Rầy trưởng thành có kích thước nhỏ, trên cơ thể phủ một lớp phấn bằng sáp. Cơ thể thành trùng có màu trắng nhạt hay vàng nhạt, chân dài và mảnh. Con đực dài khoảng 1mm, cánh trải rộng khoảng 1,5 mm, con cái dài khoảng 1,4 mm, cánh trải rộng khoảng 2mm. Khi đậu cánh xếp lại phía sau bụng như mái lều che cơ thể. 2. ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI - Rầy phấn trắng tập trung gây hại ở mặt dưới lá, thường hoạt động vào sáng sớm hoặc chiều mát. - Gây hại trực tiếp: cả thành trùng và ấu trùng sử dụng kim để chích hút nhựa lá, làm cho lá rụng. Tuy nhiên, việc gây hại trực tiếp, ngay cả khi mật số cao vẫn không gây chết cây. Rầy phấn trắng gây hại trên cây lúa - Gây hại gián tiếp: Do sự bài tiết chất mật ngọt và lớp sáp trắng tạo môi trường thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển làm đen bề mặt lá, giảm khả năng quang hợp và giá trị thương phẩm của sản phẩm. - Truyền bệnh virus: Rầy chích hút ở cây bị khảm, do virus sau đó bay sang chích hút ở cây khỏe thì sẽ truyền virus qua cây làm cho cây bị bệnh khảm với các triệu chứng như: chùn đọt, ngừng sinh trưởng, cây yếu, thất thu năng suất trầm trọng. Cà chua bị virus 3. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Thường xuyên quan sát mặt dưới lá xem có rầy phấn trắng đang gây hại, do khi mật số ít thì cây không biểu hiện triệu chứng. - Sử dụng các loại thuốc như: Rồng Việt, Penalduc 145EC, Super King 500SL, Voiduc, …. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Quản lý sâu hại trên cây ớt Đặc điểm gây hại của Bọ dưa    
Nguyên nhân gây vàng lá trên rau Húng quế
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Nguyên nhân gây vàng lá trên rau Húng quế
NGUYÊN NHÂN GÂY VÀNG LÁ TRÊN RAU HÚNG QUẾ - Cây hung quế (Ocimum bacilicum L.) hay còn gọi là Húng chó, Húng giồi, Rau é, É tía, É quế. Là loại rau có mùi thơm đặc biệt, nên được dùng làm rau gia vị, sử dụng để ăn sống hoặc nêm vào các món nấu. - Cây Húng quế rất dễ trồng, phát triển tốt trên đất mùn, tơi xốp có thể trồng bằng hạt và giâm cành. Việc chăm sóc cũng khá đơn giản, chỉ cần tưới nước cho cây đủ ẩm (đối với hộ gia đình) và bổ sung dinh dưỡng nếu canh tác với quy mô kinh doanh. - Tuy nhiên, trong quá trình chăm sóc cây Húng quế thường bị vàng lá và chết cả cây gây thất thu năng suất cho vườn trồng. Dưới đây là một số nguyên nhân gây nên vàng lá cây Húng quế và cách khắc phục hiện tượng này. 1. Bệnh sương mai - Do nấm: Peronospora belbahrii - Triệu chứng: Lá úa vàng, đốm bệnh bắt đầu ở xung quanh gân lá và sau đó lan rộng ra, các tơ nấm màu xám phát triển ở mặt dưới lá, hình thành các mảng hoại tử có góc cạnh từ nâu đến đen. - Cách phòng trị + Không tưới nước kiểu phun sương lên tán lá, tránh làm lây lan bệnh. + Sử dụng các loại thuốc để phòng trị bệnh có hoạt chất như: Hexaconazol (Aviando 50SC), Defenconazole, Azoxystrobin (Amity Top 500SC),… 2. Bệnh héo rũ - Do nấm Fusarium oxysporum f. sp. basilica - Triệu chứng: Lá bị héo úa, lá bị hoại tử từ chóp lá vào, cây chậm phát triển, tăng trưởng không đối xứng, trên thân và cuống lá xuất hiện vệt nâu sau đó gây hoại tử thân, mạch dẫn bị hóa nâu, thối rễ và chết cây. + Nguyên nhân: Do nấm xâm nhập vào mô dẫn nước (xylem) trong thân cây làm ngăn cản quá trình vận chuyển nước và dinh dưỡng đến tán lá. Khi mật số cao, mạch dẫn bị ngăn chặn hoàn toàn, cây sẽ bị héo đột ngột và chết. - Cách phòng trị + Bón phân hữu cơ hàng năm, rải vôi xử lý đất trước khi trồng cây. + Khi phát hiện cây bệnh, nhổ bỏ và xử lý vôi tại vùng đất cây trồng bị bệnh. + Sử dụng các loại thuốc để phòng trị bệnh có hoạt chất như: Hexaconazol (Aviando 50SC), Defenconazole, Azoxystrobin (Amity Top 500SC),…    Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Bệnh chết gục cây con Bệnh héo rũ trên cà chua Bệnh thán thư trên cây ớt Bệnh héo xanh trên cây ớt
Nhện hại cam, quýt
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Nhện hại cam, quýt
NHỆN HẠI CAM, QUÝT 1. NHỆN VÀNG (Phyllocoptruta oleivora) - Ký chủ Gây hại chủ yếu trên cam, chanh, quýt. - Đặc điểm gây hại: + Nhên gây hại từ khi trái vừa mới tượng cho đến khi thu hoạch. Tuy nhiên, nhện tập trung mật số rất cao trên trái non. Gây hại bằng cách cạp và hút dịch của vỏ trái, tập trung nhiều trên phần vỏ trái hướng ra phía ngoài tán lá. + Sự ăn phá của nhện trên vỏ trái làm trái bị nám và có hiện tượng da lu và da cám. + Khi mật số nhện cao, vỏ trái và lá như bị phủ một lớp lông sần sùi. Trái bị gây hại thường có vỏ dày hơn bình thường và có kích thước nhỏ hơn các trái không bị gây hại. Khi mật số cao, nhện vàng cũng gây hại trên lá và cành non. Do chu kì sinh trưởng ngắn nên nhện vàng có khả năng bộc phát rất nhanh. + Triệu chứng hại điển hình khi trái đủ lớn, vỏ trái có màu xám bạc, mất màu xanh hoặc vàng đặc trưng, toàn bộ vỏ trái hay dưới trái có màu thâm hơi nâu hoặc thâm đen. Làm giảm đáng kể giá trị thương phẩm. Nếu bị hại từ lúc trái nhỏ, trái không lớn được, có khi bị khô và rụng. - Đặc điểm hình thái: Thành trùng màu vàng tươi, cơ thể dẹp, thon dài có hình dạng củ cà rốt, có kích thước rất nhỏ, con cái dài khoảng 0,1 mm. Nhện vàng chỉ có 2 cặp chân. Phần đuôi nhọn có 2 lông dài. Trứng rất nhỏ, tròn, màu trắng. Ấu trùng nhện vàng cũng rất nhỏ, màu vàng nhạt, có dạng củ cà rốt với 2 cặp chân ngắn đưa ra phía trước. 2. NHỆN ĐỎ (Panonychus citri) - Ký chủ Gây hại trên khế, đu đủ, quýt, chanh, cam mật, dâu, táo, khoai mì, lê…, thuộc loài đa ký chủ. - Đặc điểm gây hại: + Nhện đỏ tấn công trên lá và trái, chích cạp hút nhựa lá và trái. + Trên lá, vết cạp và hút tạo thành những chấm nhỏ li ti trên mặt lá, khi bị nặng, vết chấm lan rộng ra, lá có màu ánh bạc, lá sau đó có thể bị khô và rụng. Khi mật số nhện cao, cả cành non cũng bị nhện tấn công. Lá bị nhện (bên trái), lá không bị nhện (bên phải) + Trên trái, nhện thường sống tập trung ở phần cuốn trái, đáy trái và trong các phần lõm của trái. Khi trái còn non, nhện chích và hút dịch ở lớp biểu bì và làm vỡ tuyến tinh dầu trên vỏ trái, vỏ trái sau đó bị biến màu và các vết thương khô dần tạo những đốm sần sùi trên vỏ trái (da cám). Nếu mật số cao trái non có thể bị rụng sớm. - Đặc điểm hình thái + Trứng rất nhỏ, tròn, màu đỏ, phía trên có 1 cái cuống, từ đỉnh cuống có trên 10 sợi tơ kéo dài thành hình đồng tâm đến bề mặt của lá, rất đặc trưng. + Ấu trùng mới nở có màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt với 3 cặp chân, các tuổi sau, ấu trùng có 4 cặp chân, cơ thể tròn, màu đỏ tương tự thành trùng. + Thành trùng đực dài khoảng 0,3 mm, màu cam hay đỏ sậm, hình bầu dục tròn. Thành trùng cái có cơ thể thon dần về cuối bụng. Trên cơ thể thành trùng có khoảng 20 sợi lông trắng, dài, mọc trên những ống lồi nhỏ. Thành trùng cái có râu 3 đốt, 4 cặp chân. + Nhiệt độ thích hợp cho nhện phát triển và gây hại là 25oC. 3. NHỆN TRẮNG (Polyphagotarsonemus latus) - Ký chủ Nhện trắng thuộc nhóm đa ký chủ, được ghi nhận trên 60 họ thực vật khác nhau gồm: bông vải, cam, quýt, cà, ớt, trà, đu đủ, dưa leo, nho, chanh. - Đặc điểm gây hại: Nhện trắng thường thích tấn công phần vỏ (trái non, đường kính khoảng 2,5 cm) nằm trong tán lá. Khi bị gây hại, bề mặt vỏ trái mất màu, phát triển không đều, gần giống như triệu chứng da cám. Trái có thể bị biến dạng, ngưng phát triển và rụng sau đó. Khi mật số cao, nhện trắng tấn công cả phần lá non, làm lá biến màu và có thể phát triển cong queo. - Đặc điểm hình thái + Trứng rất nhỏ, trong suốt, hình bầu dục, mặt dưới dẹp, mặt trên 5-6 hàng ống nhỏ dạng u lồi. Trứng được đẻ ở mặt dưới lá non, trên cành non, trên trái non, cuống bông hay bông. Thời gian ủ trứng 2-3 ngày. Ấu trùng cũng rất nhỏ, hình trái lê, thường tập trung gần vỏ trái nơi nhện được nở ra từ trứng. Trứng nhện trắng + Giai đoạn ấu trùng kéo dài khoảng 2-3 ngày. Thành trùng có chiều dài 0,16 mm, chiều ngang 0,96 mm. Chu kỳ sinh trưởng rất ngắn, 4-5 ngày (từ trứng đến thành trùng). Thành trùng cái sống khoảng 11-12 ngày, thành trùng đực sống khoảng 15-16 ngày. Vào giai đoạn trưởng thành, con đực mạng con cái trên cuối lưng bụng, ở tư thế nằm ngang, tạo nên dạng chữ T rất đặc trưng. 4. Biện pháp phòng trị - Thường xuyên quan sát đồng ruộng để phát hiện các ổ nhện gây hại. - Sử dụng các loại thuốc có hoạt chất Abamectin như: Rồng Việt, Penalduc 145EC và dầu khoáng phun vào giai đoạn cây vừa nhú đọt non và đọt non ra rộ. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Côn trùng hại cam, quýt Bệnh hại cam, quýt              
Bệnh hại cam, quýt
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh hại cam, quýt
BỆNH HẠI CAM, QUÝT 1. BỆNH LOÉT - Do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. citri - Triệu chứng: xuất hiện trên lá, trái, cành, nhất là trên lá. Cành, trái non bị thiệt hại, chủ yếu ở trong vườn ươm. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sủng ướt, màu xanh tối, sau đó biến thành màu nâu nhạt, mọc nhô trên mặt lá hay vỏ trái. + Trên cành non có các đốm nâu sần sùi, nếu nặng sẽ làm khô chết cành. Chung quanh vết bệnh trên lá có thể có quầng màu vàng. Trái có thể bị chai. + Vi khuẩn có thể xâm nhiễm qua vết thương hay khí khổng, lây lan qua gió, nước mưa, côn trùng (sâu vẽ bùa). - Phòng trị: + Loại bỏ cành, lá, trái bị bệnh. Phun các loại thuốc như: Kasuduc 3Sl, Pyramos 40SL hoặc BioRosamil Ở giai đoạn vừa đậu trái đến thời gian cách ly trước thu hoạch. + Khi có bệnh, tránh tưới quá đẫm toàn cây, tránh phun thuốc dưỡng. 2. BỆNH THỐI GỐC CHẢY MỦ - Do nấm Phytophthora nicotianae - Triệu chứng: nhận biết ở phần vỏ thân gần gốc, lúc đầu giống như bị sũng nước, sau đó khô, nứt bong ra dọc theo thân, vỏ thân bị thối nâu, chảy nhựa. + Bệnh phát triển vòng quanh thân chính và rễ cái, có thể lan đến các cành bên trên. + Rễ nhỏ, ngắn và thối vỏ, nhất là ở các rễ lông. Lá bị vàng dọc theo gân chính do bị thiếu dinh dưỡng, sau đó các chồi non và nhánh lớn bị chết. + Bệnh cũng làm thối trái, vùng thối hơi tròn, có màu nâu tối lan rộng ra khắp trái, có thể thấy khuẩn ty phát triển dày đặc trên vùng bệnh. Bệnh phát sinh ở môi trường ẩm độ, nhiệt độ cao, vườn quá ẩm, trồng quá dày, sự chống chịu của gốc ghép kém. - Phòng trị Cạo bỏ phần vỏ bị bệnh, bôi vào gỗ thân bằng dung dịch thuốc như BioRosamil, Mancozeb và tưới gốc. 3. BỆNH VÀNG LÁ GÂN XANH (Greening) - Do vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây ra. - Bệnh được lây truyền bởi rầy Chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayama). - Triệu chứng: Đầu tiên trên cây có một số nhánh có lá non chuyển sang màu vàng, trong khi các gân lá vẫn còn xanh và nổi rõ lên, trong khi đó các nhánh còn lại vẫn phát triển bình thường. + Lá bị bệnh nhỏ, mọc đứng, dày. Nhánh non bị chết khô, số nhánh bị bệnh trên cây tăng dần đến toàn cây. Các rễ nhánh và rễ lông bị thối. Trái nhỏ biến dạng, nhạt màu, múi bên trong bị chai, hột không nảy mầm. + Cây có thể ra hoa trái mùa nhưng hầu hết bị rụng. Cây bị bệnh có thể sống một vài năm mới chết. - Phòng trị + Áp dụng biện pháp canh tác tổng hợp để phòng trị. + Tiêu hủy cành bệnh, nhánh bệnh, không lấy giống từ các cây mẹ bị bệnh. + Những dụng cụ chăm sóc, chiết, tháp phải khử trùng. + Phòng trừ rầy Chổng Cánh, ngăn chặn môi giới truyền và làm lây lan bệnh. 4. GHẺ NHAM - Do nấm Sphaeceloma fawcettii Jenkins (Elsinoe fawcettii). - Triệu chứng: Xuất hiện vết bệnh nhỏ tròn, màu nâu nhạt, có thể nối thành mảng lớn. Lá bệnh thường bị biến dạng, xoắn. Cành non, trái cũng có vết tương tự. - Phòng trị + Loại bỏ các cành lá trái bị bệnh. + Sử dụng thuốc BioRosamil hoặc Aviando 50SC phun định kỳ 15 ngày/lần khi vừa đậu trái. 5. MỐC HỒNG (Pink disease) - Do nấm Corticium Salmonicolor - Triệu chứng: Những sợi khuẩn ty nấm trắng bò lan tạo thành những mảng màu hồng, tròn hay bất định trên vỏ cây. Đôi khi thấy các mụt màu hồng phát triển từ các vết nứt trên vỏ thân hay nhánh. Nhánh bị bệnh sẽ bị khô chết. Bệnh phát triển nặng trên vườn trồng dày. - Phòng trị + Cắt bỏ và tiêu hủy cành bệnh + Hằng năm có thể phun hoặc quét dung dịch thuốc BioRosamil, Mancozeb vào gốc, thân cây. 6. THÁN THƯ - Do nấm Colletotrichum gloeosporioides - Triệu chứng: Trên lá có vết úng nước, từ màu đỏ sậm chuyển sang màu nâu sáng và mang các ổ nấm màu hồng nhạt hay màu nâu ở tâm, viền màu đỏ sậm. Cành non cũng bị nhiễm và bị héo. + Trên hoa, có những vết úng nước ở cánh hoa, sau đó bị thối. Trái non bị rụng để lại cuống và lá đài. Trái lớn cũng bị nhiễm bệnh, đốm bệnh tròn, màu nâu, lõm vào vỏ trái. - Phòng trị + Cắt bỏ và tiêu hủy cành bệnh + Sử dụng thuốc BioRosamil hoặc Aviando 50SC phun ngừa trước khi ra hoa và định kỳ 15 ngày/lần đến khi đậu trái. 7. Bệnh vàng lá thối rễ Sản phẩm liên quan Công ty cổ phần BVTV Delta Bệnh ghẻ nhám - Elsinoe fawcettii Bài viết liên quan Quản lý bệnh hại xoài Bệnh hại khóm  
Côn trùng hại cam, quýt
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Côn trùng hại cam, quýt
CÔN TRÙNG HẠI CÂY CÓ MÚI (CAM, CHANH, QUÝT, BƯỞI) 1. SÂU VẼ BÙA (Phyllocnistis citrella stainton) Sâu vẽ bùa Thành trùng của sâu vẽ bùa - Hầu như trong vườn cây có múi nào ở ĐBSCL cũng có sự hiện diện của sâu vẽ bùa. - Sâu gây hại tập trung ở các vườn ươm và các vườn cây tơ ở giai đoạn lá non, lá bị biến dạng, khô và rụng đi. - Sâu non dài 3,5 – 4 mm màu xanh lợt phá hại lá bằng cách đào những đường ngoằn nghèo, ăn lớp biểu bì của lá, làm lá biến dạng, mặt trên lá bị khô đi, lá bị rụng. Trứng dẹp được đẻ trên lá, làm nhộng trong những đường hầm ở lá. - Thường sâu chỉ tấn công ở lá non, cành non. Vào thời điểm lá ra đọt non là thời kỳ sâu vẽ bùa tấn công mạnh nhất. * Phòng trị - Phun vào giai đoạn cây bắt đầu ra lá mới - Sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng việt, B52 Duc, Penalduc 145EC kết hợp với dầu khoáng để tăng hiệu lực phòng trị. 2. RẦY MỀM Rầy mềm - Có 2 loại Toxoptera citricidus da màu xanh và Toxoptera aurantii màu đen. - Có kích thước rất nhỏ, thường tập trung ở mặt dưới lá, tấn công phần non của cây để hút nhựa của lá non và cành non, làm giảm khả năng tăng trưởng của cây. Lá non bị cong và biến dạng. - Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh virus Tristeza lên cây cam quýt. - Một số rầy mềm có màu đen bóng, nhưng đa số có màu xanh lá cây và không có cánh. Ở vùng nhiệt đới thường là con cái, đẻ con, khi con còn nhỏ vẫn sinh sản được (sinh sản đơn tính), do đó mật số tăng rất nhanh. Rầy tiết ra mật hấp dẫn kiến, kiến mang đi khắp vườn và bảo vệ rầy. Mật do rầy tiết ra còn là môi trường tốt cho nấm bồ hóng phát triển, làm giảm quang hợp của lá. * Phòng trị Sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng việt, B52 Duc, Penalduc 145EC kết hợp với dầu khoáng để tăng hiệu lực phòng trị. 3. RẦY CHỔNG CÁNH Dấu hiệu nhận biết rầy chổng cánh Thành trùng rầy chổng cánh - Rầy chổng cánh xuất hiện khi cây có chồi non. Chúng tạo mật độ cao vào đầu mùa mưa là lúc cây ra đọt non và trổ hoa. Là loài côn trùng gây hại đặc biệt nghiêm trọng ở ĐBSCL. - Ấu trùng và thành trùng chích hút dinh dưỡng lá, đọt non làm phiến lá nhỏ và xoăn, đọt non lụi dần, sần sùi. - Chất thải của rầy thu hút nấm bồ hóng ảnh hưởng đến quang hợp. - Rầy chổng cánh là môi giới truyền bệnh vàng lá gân xanh do vi khuẩn Liberobacter asiatium gây ra (Greening). - Trứng màu vàng, hình quả lê, dài khoảng 0,3 mm, thường được đẻ thành từng chùm ở nách lá hoặc trên lá các chồi non. Ấu trùng rất nhỏ, hình bầu dục dẹp, mới nở thường có màu vàng tươi, có màu xanh lục ở tuổi 2, tuổi 3, màu nâu ở tuổi 4, tuổi 5. Thành trùng có kích thước rất nhỏ, thân dài 2,5 – 3,0 mm, màu nâu xám, cánh màu nâu vàng, chân màu xấm nâu. Khi đậu, phần bụng của thành trùng nhổng cao một góc 30o, nên gọi là rầy Chổng Cánh. * Phòng trị Sử dụng thuốc trừ sâu rầy như Chet 700, Penalduc 145EC. 4. RỆP SÁP Rệp sáp - Kích thước nhỏ, thân mềm phủ đầy phấn hoặc sáp trắng. - Chân ngắn ít di chuyển, gây hại trên bề mặt lá hay cành non bằng cách hút nhựa làm rụng lá. Rệp sáp phát triển nhiều trong những tháng khô và giảm trong mùa mưa. Rầy tiết ra mật hấp dẫn kiến và được kiến mang chúng đi nơi này sang nơi khác. Chất mật này thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển gây cản trở quang hợp của lá. * Phòng trị - Rệp sẽ rất dễ trị khi mất lớp sáp bảo vệ. Trước khi phun thuốc có thể sử dụng máy bơm nước tia mạnh vòi nước vào những chỗ có nhiều rệp tập trung để rửa trôi bớt rệp cũng như rửa trôi bớt lớp sáp bảo vệ bám trên mình rệp giúp thuốc dễ dàng tiếp xúc với rệp hơn. - Sau đó sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng việt, B52 Duc, Penalduc 145EC kết hợp với dầu khoáng. 5. RỆP DÍNH Rệp dính - Rệp dính có kích thước nhỏ hơn rệp sáp. Gồm 2 nhóm: có lớp vỏ cứng bao bọc và không có vỏ cứng bao bọc. - Rệp dính là tác nhân gây hại khá quan trọng trong các vườn cam quýt bằng cách hút nhựa làm rụng lá, nếu nặng làm chết cây con hay cành non, chồi không phát triển được bình thường. Rệp còn tấn công trên trái. Xuất hiện nhiều ở mùa khô, ẩm độ không khí cao. * Phòng trị: Tương tự như cách phòng trị rệp sáp   6. SÂU ĂN LÁ - Gồm nhiều loài như: - Loài Papilio polytes + Bướm có màu đen ở cuối cánh, con đực có chỗ lồi ra hình muỗng. Cánh trước màu đen, rìa cánh phía sau có những đốm nhỏ màu đỏ, trong có một chấm đen, giữa cánh sau có các đốm trắng, bốn đốm lớn và 1 đốm nhỏ. Ấu trùng màu xanh có những đốm xanh nhạt. Nếu bị động, ấu trùng sẽ tiết ra chất lỏng bốc hơi độc để tự vệ. - Loài Papilio alphenor + Bướm to với sải cánh dài 10cm, màu đen với những đốm trắng hình trứng to ở lưng con cái, còn trên lung cánh con đực có những đốm đỏ hình lưỡi liềm. Mỗi con đực có chỗ lồi ra hình muỗng ở cuối cánh. Trứng hình cầu lóng lánh, được đẻ từng trứng trên những lá non. Sâu non ăn lá non di chuyển đến lá già hơn khi lớn dần. Sâu non có màu xanh hồng nhạt và một vạch chéo màu nâu xanh lá cây nhạt ở phần ngực khi mới nở. Khi lớn chuyển dần sang màu xanh lá cây. Nhộng màu xanh treo lơ lửng tại các góc cành nhỏ bằng tơ vòng quanh ngực. - Loài Papilio rumanzovia + Có tập quán giống như P. polytes. Bướm có màu đen bóng với cánh trước màu trắng, có những đốm lưỡi liềm màu đỏ sáng gần mép lung cánh, sải cánh dài khoảng 14cm. + Thường sâu ăn lá phá hại nặng vào đầu hoặc cuối mùa mưa. * Phòng trị Sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng việt, B52 Duc, Penalduc 145EC. 7. SÂU ĐỤC VỎ TRÁI - Sâu tấn công trên trái làm trái bị biến dạng với những chỗ sưng phồng, lồi lên trên vỏ, thường gặp ở các loại cam quýt vỏ dầy như ở bưởi. - Bướm có kích thước nhỏ màu trắng, với sải cánh rộng khoảng 8 mm. Sâu non màu xanh nhạt, đục lòn trong vỏ trái tạo những vết u sần phồng lên. Trứng được đẻ vào ban đêm trên vỏ trái non, sâu nở ra thì đào hầm ăn mô bên trong vỏ, khi phát triển đầy đủ thì rời khỏi trái. Trái có thể bị rụng nhiều khi bị tấn công nặng lúc nhỏ, còn ở giai đoạn sau thì sự nguy hại không đáng kể, làm cho hình dạng trái u sần, khó bán. * Phòng trị - Tỉa các trái đã bị hại. - Phun thuốc định kỳ mỗi tuần từ khi bắt đầu đậu trái. - Bao trái. 8. NGÀI CHÍCH HÚT TRÁI Đây là loại bướm đêm, thường phá hại vào ban đêm, dễ phát hiện nhờ có 2 mắt rất sáng à cánh lấp lánh. Thường phá hại trên trái chín bằng cách chích hút dịch trái. Trên trái bị hại có thể có nhiều lỗ đục. Trái bị chích hút dễ bị nhiễm bệnh và rụng đi. * Phòng trị: - Làm cỏ, vệ sinh vườn, nhặt bỏ trái rụng để bướm không có chỗ đẻ trứng. - Dùng vợt bắt giết thành trùng vào ban đêm. - Sử dụng các loại thuốc trừ sâu để phun, kết hợp làm bẫy. Thuốc trừ sâu, rầy Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Ruồi đục trái xoài Cách nhận biết bệnh vàng lá thối rễ và phương pháp phòng trị        
Đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của cây bắp
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của cây bắp
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY BẮP 1. MÔ TẢ HÌNH THÁI CÂY BẮP - Cây bắp, tên khoa học là Zea May L, thuộc họ Gramineae được Linnaeus đặt tên vào năm 1737. - Rễ: Bắp thuộc loại rễ chùm. Tùy vào hình dạng, vị trí, thời gian phát sinh, vai trò mà người ta chia làm các loại: rễ mầm (xuất hiện khi hột nảy mầm khoảng 2-3 ngày sau khi gieo), rễ thứ cấp (mọc từ mát của diệp tiêu, ở đầu trục của thượng diệp, gồm 4 rễ và mọc 1-2 ngày sau rễ mầm), rễ chùm hay còn gọi là rễ thật sự (mọc từ 3-5 đốt thân đầu tiên, thường là dưới mặt đất, giữ nhiệm vụ chính trong việc cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây), rễ khí sinh (mọc từ các đốt thân trên không, từ 30 ngày sau khi gieo trở đi). Rễ bắp - Thân: Bắp là loại cây hằng niên, thân thảo, đặc lõi, thẳng và ít đâm nhánh. Thân bắp cao trung bình từ 1,5 – 3 m, tiết diện hình bầu dục, đường kính trung bình ở lóng thứ 3 là 3 – 4 cm. Mỗi cây có trung bình 20 lóng, ở gần gốc lóng ngắn, lóng ngọn nhỏ và dài có ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ ánh sáng. Quá trình phân lóng ở bắp thường diễn ra rất sớm và kết thúc khi cây bắp được 5 lá. Do đó, chỉ có điều kiện sinh trưởng trong giai đoạn cây con là ảnh hưởng đến số lóng trên cây. - Lá: lá bắp mọc từ các mắt trên thân với số lá bằng số mắt thân, các giống trồng thường có từ 12 – 22 lá. Lá bắp gồm bẹ lá mọc ôm lấy thân và xen kẻ nhau giữa các mắt kế cận, phiến lá dài 10 - 150 cm và rộng 1,5 – 15 cm tùy vị trí của lá trên thân. Ngoài loại lá thông thường, bắp còn mang lá bi (lá mo hay vỏ trái) bao bọc phát hoa cái (trái). Đây là phần lá biến dạng, chỉ còn bẹ, để che chở trái bên trong. Mỗi trái bắp có 6 – 14 lá bi, mỗi lá dài 8 – 40 cm. - Phát hoa và thụ phấn: Bắp là loại cây đợn tính đồng chu, thường là phát hoa đực (cờ) đỉnh ở ngọn thân trổ trước. Phát hoa cái (trái) mọc từ nhánh ở khoảng giữa thân, thụ phấn chéo nhờ gió với tỷ lệ khoảng 95%. 2. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY BẮP - Chu kỳ sinh trưởng của cây bắp bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi trái chín hoàn toàn. Chu kỳ trung bình 75 – 100 ngày tùy theo giống, điều kiện canh tác và môi trường sống. Sự sinh trưởng của cây bắp được tiến hành qua nhiều thời kỳ nối tiếp nhau một cách liên tục: a/ Thời kỳ mọc mầm: Khoảng 24 giờ sau khi gieo. Khi đó sinh trưởng hãy còn là một khối u rộng, nhưng bên trong đã phân hóa từ 5 – 7 lá mầm và đốt thân. Các chất dinh dưỡng cũng phân hóa: tinh bột tạo thành đường, protein phân hóa thành acid amin… Trong thời kỳ này, cây bắp cần nhiệt độ 28 – 30 oC, ẩm độ 80% và thoáng. b/ Thời kỳ cây con 1 – 5 lá: khi cây có 3 lá cây bắt đầu sống nhờ quang hợp và hấp thụ dinh dưỡng từ rễ. Thời kỳ này quyết định số mắt và lóng của cây, gặp điều kiện bất lợi cây sẽ cho ít mắt. Cây con 5 lá c/ Thời kỳ tăng trưởng chậm: (từ 5 lá đến phân hóa mầm hoa, 20-25 ngày sau khi gieo (NSKG)): Thời kỳ này bắt đầu khi cây được 5 lá đến khi cây được 9 lá. Cây bắp phát triển chậm, chỉ vài mm/ ngày, tuy nhiên các đỉnh sinh trưởng đã bắt đầu phát triển tạo mầm hoa đực. Thời kỳ này cây bắp chịu ảnh hưởng quang kỳ rất mạnh, nhất là những giống nhiệt đới. d/ Thời kỳ tăng trưởng tích cực (từ 25 – 50 NSKG): Thời kỳ này cây phát triển rất nhanh, hệ thống rễ và dưỡng chất khô trong cây cũng tăng rất nhanh. Số lượng và sức sống của hoa cũng được quyết định trong giai đoạn này, do đó cây bắp cũng cần một nhiệt độ thích hợp, ở 18 – 20oC và ẩm độ 80%. e/ Thời kỳ trổ hoa: kéo dài trong 10 – 15 ngày, từ khi cây trổ cờ, tung phấn, phun râu đến khi hạt đã thụ phấn. Toàn thể cây bắp hoạt động tích cực, hấp thụ nhiều nước (2 lít/cây/ngày) và dinh dưỡng. Nhiệt độ thích hợp 22-25oC, nhiệt độ <20oC hay >35oC sẽ ảnh hưởng đến trổ cờ và thụ phấn. f/ Thời kỳ tạo hạt đến chín: kéo dài 25 – 35 ngày, tùy theo giống và thời vụ. Công ty cổ phần BVTV Delta  
Muỗi hành
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Muỗi hành
MUỖI HÀNH (SÂU NĂN) - Muỗi hành (sâu năn) gây hại và phát triển thành dịch ở nhiều nước trồng lúa ở Châu Á. Thất thoát năng suất do muỗi hành có thể đến 50%. + Tên khoa học: Orselia oryzae + Bộ: Diptera + Họ: Cecidomiidae 1. Đặc điểm hình thái - Trưởng thành là loại muỗi nhỏ, dài khoảng 3-5 mm, bụng màu hồng nhạt. - Trứng được đẻ rải rác từng quả, rất nhỏ, màu trắng, trước khi nở có màu vàng. - Ấu trùng giống như con dòi, mình dẹt, màu trắng sữa, dài 4-5 mm. - Nhộng màu hồng, dài 4-5 mm, nằm trong ống hành. 2. Đặc điểm sinh học - Vòng đời: 25-30 ngày - Trứng: 3-4 ngày - Sâu non: 15-18 ngày - Nhộng: 4-5 ngày - Trưởng thành: 2-3 ngày 3. Đặc điểm sinh thái và gây hại Muỗi hoạt động về đêm. Sức bay yếu nên thường phân bố thành khu vực. Trứng được đẻ riêng lẻ hoặc từng nhóm 3-4 cái ở phía dưới mặt lá, khu vực gần gốc lúa. Mỗi con muỗi cái đẻ từ 100-200 trứng. Trứng cần có ẩm độ cao (trên 80%) để phát triển và nở. Sâu năn phát triển thích hợp trong điều kiện tương đối ẩm, có mưa và trời ít nắng. Thường phát sinh cục bộ trên một cánh đồng hoặc một vùng hẹp do khả năng di chuyển yếu của muỗi. 4. Đặc điểm gây hại - Muỗi tấn công cây lúa từ giai đoạn mạ đến cuối đẻ nhánh. Ấu trùng mới nở có một thời gian ngắn khoảng 1-2 ngày sống trong nước, nếu không có nước trong vòng 24 giờ ấu trùng sẽ chết, sau đó chui qua bẹ lá đục vào đỉnh sinh trưởng của lúa để chích hút. Lúc này, ấu trùng đồng thời tiết ra một chất khiến bẹ của chiết lá non nhất mọc dài ra thành ống tròn màu xanh lá hơi nhạt, phần phiến lá cuộn thành mảnh nhỏ ở đầu ống, ấu trùng sống trong đó. Khoảng 1 tuần sau khi muỗi xâm nhập, ống lúa sẽ mọc dài ra và tròn giống như cọng hành (hoặc cọng năn). Lúc này, ấu trùng sắp hóa nhộng, chúng bò lên ngọn lá hành đục một lỗ nhỏ nằm chờ hóa muỗi chui ra ngoài để tiếp tục vòng đời gây hại cho lúa. Khi đã chui ra, chúng sẽ để lại vỏ nhộng dính trên ống hành.    - Những bẹ lá lúa đã bị sâu năn chích hút và biến dạng thành ống tuy không chết đi nhưng cũng không thể trổ bông được. Để bù lại, cây lúa sẽ đâm thêm nhiều chồi mới, những chồi mới này hầu như không có khả năng trổ bông. 5. Biên pháp phòng trừ - Vệ sinh đồng ruộng, gieo cấy thời vụ đồng loạt. - Bón đạm vừa phải, đúng lúc để lúa đẻ nhánh tập trung. Thay nước ruộng khi phát hiện trên ruộng có lúa bị hại. - Cần thăm đồng thường xuyên, phát hiện sớm muỗi hành để có biện pháp phòng trị kịp thời. - Phun thuốc phòng ngừa muỗi hành vào 3 giai đoạn: 7-10 ngày, 20-25 ngày, 35-40 ngày sau sạ. Sử dụng thuốc có tác động lưu dẫn mạnh như: Penalduc 145EC, Chet 585WG/ Chet 555WG vừa phòng trừ muỗi hành vừa ngừa được rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân, nhện gié. Thuốc trừ sâu rầy * Cần chủ động phun ngừa muỗi hành. Tránh trường hợp muỗi hành phát triển thành dịch, khi đó việc quản lý muỗi hành vô cùng khó khăn và kém hiệu quả. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Nhên gié hại lúa Sâu cuốn lá nhỏ hại lúa Rầy lưng trắng hại lúa Rầy nâu hại lúa    
Ốc Bươu Vàng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Ốc Bươu Vàng
ỐC BƯƠU VÀNG Pomacea canaliculata 1. NGUỒN GỐC Ốc Bươu Vàng có nguồn gốc từ Nam Mỹ, vào những năm 1980 chúng được nhập vào Châu Á và nuôi rộng rãi để cung cấp nguồn thức ăn giàu chất đạm cho gia súc, gia cầm và con người. Tuy nhiên, Ốc Bươu Vàng đã vượt khỏi nơi nuôi và trở thành dịch hại nguy hiểm cho mùa màng. Năm 1988 Ốc Bươu Vàng được nhập vào và nuôi ở Việt Nam và cũng tương tự như các nước Châu Á khác, Ốc Bươu Vàng đã nhanh chóng trở thành dịch hại nguy hiểm trên lúa ở Việt Nam. 2. ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI - Ốc thường gây hại từ ngay sau khi sạ cho đến khi cây lúa được 30 ngày tuổi. Ốc ăn lúa non - Ốc Bươu Vàng hoạt động mạnh vào buổi sáng và chiều tối, chúng gây hại bằng cách cắn ngang thân cây lúa, ăn trụi thành từng đám, khiến nhiều diện tích lúa bị chết hoàn toàn. Ốc Bươu Vàng có thể ăn 7-24 cây mạ/ngày. Dấu hiệu nhận biết Ốc Bươu Vàng gây hại là: mất cây, cây lúa đứt ngang thân làm cho lá – thân cây lúa nổi trên mặt nước. Ốc Bươu Vàng gây hại - Thiệt hại năng suất gây ra bởi Ốc Bươu Vàng có liên quan đến mật số và tuổi ốc: ở mật độ 1 con/m2 năng suất giảm 20%, ở mật độ 8 con/m2 thì năng suất giảm đến 90%. 3. ĐẶC ĐIỂM ỐC BƯƠU VÀNG - Ốc trưởng thành cỡ lớn, dạng mập tròn, gồm đầu thân và chân. Đầu có hai đôi xúc tu (một đôi dài và một đôi ngắn). Thân nằm trên chân, là một khối xoắn ẩn kín trong vỏ. Chân rộng, hình đĩa, màu trắng kem nằm ở phía bụng. Mặt lưng của chân có nắp vỏ che đậy. Đầu và chân thường thò ra ngoài vỏ khi di chuyển. Toàn bộ cơ thể ốc nằm trong lớp vỏ. Vỏ Ốc Bưu Vàng + Vỏ ốc: có dạng hình cầu, không bóng, màu vỏ thay đổi từ vàng, xanh vàng đến nâu, nâu đen có vân hoặc không có vân. + Lỗ miệng vỏ: loe rộng, con đực có lỗ miệng vỏ tròn hơn con cái. + Nắp miệng vỏ: bằng chất sừng, con cái trưởng thành có nắp miệng vỏ lõm, trong khi nắp miệng vỏ con đực thì lồi. + Vòng xoắn: có 5-6 vòng xoắn phồng, rãnh xoắn sâu, các vòng xoắn trên thấp nên tháp ốc lùn, vì thế vỏ ốc có dạng hình cầu. + Lỗ rốn: sâu và rộng. + Cơ thể: Thịt ốc có màu thay đổi từ kem vàng, vàng nâu đến đen nhạt. Ống thở có những đốm vàng, dài gấp 2,5 lần chiều cao của vỏ ốc. + Trứng: ốc đẻ trứng vào bất cứ vật thể nào phía trên mặt nước, trứng có màu hồng đậm khi mới đẻ và nhạt dần thành màu hồng nhạt khi trứng nở. Trứng Ốc Bưu Vàng 4. NƠI SINH SỐNG: Chúng sống được ở nơi có nước chảy chậm như sông, hồ, kênh rạch, hoặc những nơi nước tù đọng như đầm lầy, lung bàu, ao tù…Chúng có thể sống trong ruộng lúa nước, ruộng khoai môn, ruộng rau muống…. 5. KHẢ NĂNG SINH SẢN - Giới tính + Ốc Bươu Vàng là loài sinh sản hữu tính, có con đực và con cái riêng, sự sinh sản chỉ thành công khi có sự giao phối giữa con đực và con cái. - Sự bắt cặp và đẻ trứng + Ốc Bươu Vàng sinh sản quanh năm, sự bắt cặp xảy ra ở nơi có nước ngập vỏ. Thời gian bắt cặp kéo dài từ 10 đến 20 giờ và con đực nhịn đói trong suốt thời gian này. Con cái cần 5 giờ để đẻ một ổ trứng. Con cái có thể giữ tinh trùng trong cơ quan sinh sản đến 140 ngày sau khi giao phối đủ để thụ tinh cho 3000 trứng, nhờ vậy chúng vẫn có thể đẻ trứng hữu thụ mặc dù không giao phối trong thời gian này. Ốc đẻ trứng trên thân cây lúa non + Sự đẻ trứng thường xảy ra vào lúc sáng sớm, chiều tối và nhiều nhất là vào ban đêm, vào khoảng 24 giờ đến 15 ngày sau khi giao phối. 6. SỰ PHÁT TRIỂN VÀ SINH SỐNG Thời gian từ đẻ trứng đến nở là 10 ngày, tỷ lệ nở 85%. Ở Việt Nam, Ốc Bươu Vàng có thể bắt cặp khi đạt kích thước 1,5-2cm, sinh sản lúc trọng lượng cơ thể đạt 3 gram. Ở vùng Châu Á nhiệt đới Ốc Bươu Vàng trưởng thành sớm lúc 60 ngày tuổi, sinh sản quanh năm nên chúng gia tăng mật độ quần thể cũng như lan rộng rất nhanh. Ốc có thể sống 4-6 năm. 7. SỰ HÔ HẤP Ốc Bươu Vàng có khả năng sống trong nước và cả trên cạn, do có cả hai bộ phận mang và phổi. Nhờ vậy chúng có thể sống được trong môi trường nước ô nhiễm, thiếu oxy cũng như có thể sống sót qua một thời kỳ khô hạn hoặc có thể phân tán đi nơi khác bằng cách bò trên mặt đất. 8. SỰ NGỦ NGHỈ Ốc Bươu Vàng ở vùng nhiệt đới, nơi mà mùa nắng đồng ruộng ao tù bị khô hạn, nên chúng có khả năng tự vùi mình vào trong bùn để có thể sống sót trong điều kiện đất khô. Ốc Bươu Vàng vùi mình vào trong đất có thể sống sót từ 3 tháng đến 6 tháng và vùi sâu 30cm. 9. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ - Biện pháp canh tác: + Làm đất kỹ, bằng phẳng, tránh để những khu vực trũng nước trên ruộng. + Bắt ốc và ổ trứng bằng tay vào sáng sớm hoặc chiều mát. + Đánh rãnh thoát nước (25x5 cm) cách nhau 10-15 m trên ruộng để ốc đến sống tập trung trong rảnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu gom bằng tay. + Đặt lưới chặn mương nước vào ruộng ngăn ốc xâm nhập. Nên đặt lưới sớm ngay từ đầu vụ đến khi thu hoạch. + Cắm các cọc tre, sậy ở những chỗ ngập nước, mương kênh tưới để thu hút ốc đến đẻ trứng và thu gom dễ dàng. - Biện pháp hóa học + Sử dụng các loại thuốc có hoạt chất Niclosamide, Metadehyde trị Ốc Bươu Vàng như: thuốc ốc xịt VDCSNAILNEW 750WP, thuốc ốc bã mồi THẦN DIỆT ỐC, PASSPORT 200GR, CON CÒ DIỆT ỐC. + Thời điểm xử lý: tùy điều kiện ruộng có thể xử lý ốc vào các giai đoạn sau: => Phun/rải nhử trước: sạ vài ngày, dẫn nước vào ruộng, nhử ốc trồi lên rồi phun thuốc, sau đó làm đất tiến hành sạ bình thường. => Phun/rải ngay khi lấy nước vào ruộng, chuẩn bị rước phân đợt 1 (khoảng 7-8 ngày sau sạ). * Lưu ý: + Khi ruộng mới sạ gặp mưa lớn, ruộng nổi nước là điều kiện thích hợp để ốc gây hại. Cần xử lý kịp thời, tránh để ốc gây hại nặng là thất thu năng suất. + Khi phun hoặc rải thuốc diệt ốc phải giữ mực nước trên ruộng khoảng 3-5 cm, sau khi phun tiếp tục giữ nước trên ruộng 1-2 ngày để diệt hết ốc còn lại. + Nên phun hoặc rải vào chiều mát hay sáng sớm. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm nên phun (rãi) thuốc vào lúc chiều mát, vì ốc thường trồi lên cắn phá mầm lúa vào chiều và tối. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Rầy lưng trắng Rầy nâu hại lúa Sâu cuốn lá nhỏ hại lúa Nhên gié hại lúa    
Kỹ thuật trồng khóm
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng khóm
KỸ THUẬT TRỒNG KHÓM Ananas comosus (L.) Merr. 1. THỜI VỤ Ở miền Nam, thời điểm trồng tốt nhất vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 6). 2. CHUẨN BỊ ĐẤT - Làm đất + Cây khóm có thể trồng trên đất đồi núi hay ở vùng đồng bằng. Ở mỗi địa hình có chế độ canh tác riêng. + Ở vùng cao, trước khi trồng nên tiến hành cày sâu 25 – 30 cm rồi san bằng mặt. + Đất ĐBSCL, khóm thường được trồng trên líp nhằm mục đích nâng cao tầng canh tác, tránh ngập nước. Thiết kế líp rộng từ 4 - 6 m. Mương rộng khoảng ½ chiều rộng líp, sâu từ 1 – 1,2 m. Líp khóm ở ĐBSCL - Diệt cỏ + Cỏ dại là một trở ngạy lớn vì việc làm cỏ thường gặp nhiều khó khăn trong các ruộng khóm. Do đó, cần diệt sạch cỏ trước khi trồng. Có thể sử dụng thuốc BVTV để diệt cỏ và hoàn thành trước khi trồng 15 ngày. - Bón lót + Trước khi trồng 3-4 ngày tiến hành bón toàn bộ phân hữu cơ,  phân lân, ¼ phân đạm và ¼ phân kali. Trộn phân rải đều trên mặt líp rồi cày chôn vào đất hoặc bón theo các hốc trồng. 3. CHUẨN BỊ GIỐNG TRỒNG - Giống trồng - Có 4 nhóm chính: + Nhóm Cayenne: được trồng phổ biến trên thế giới, với đặc điểm lá gần như không có gai, trái có dạng hình trụ, mắt dẹp, cạn, lỏi trung bình, trong lượng trung bình 2,5 kg, vị ngọt hơi chua, ít xơ. Rất phù hợp cho chế biến đóng hộp. + Nhóm Queen: Được trồng chủ yếu ở nước ta hiện nay, dùng để ăn tươi. Với đặc điểm: lá đầy gai, chồi nhỏ, gồm nhiều chồi cuống. Trái có hình nón, mắt khóm sâu, trọng lượng trung bình 1 kg, có lỏi nhỏ, vị ngọt, ít chua, ít xơ, xơ ngắn. + Nhóm Spanish (Tây Ban Nha): Dùng để ăn tươi rất tốt. Lá dài, hẹp, có gai. Chồi cho nhiều chồi cuống. Dạng trái hơi tròn (trụ bầu), mắt rộng và dẹp. Trong lượng trái trung bình 1,2 – 1,5 kg, lỏi rất lớn. Vị ngọt, hơi có vị cay chua, nhiều xơ. + Nhóm Abacaxi: Ít phổ biến, còn gọi là Brazilian, dùng để ăn tươi. Lá đầy gai, nhiều chồi cuống. Trái có dạng hình tháp, trọng lượng trái trung bình 1,5 kg. Lỏi nhỏ, vị ngọt mềm nhiều nước. - Tiêu chuẩn giống + Chọn chồi giống từ những cây mẹ tốt, không sâu bệnh (nhất là bệnh héo khô đầu lá). + Giống phổ biến là giống Queen, dùng chồi ngọn và chồi nách để nhân giống, ngày nay có thể nhân giống bằng phương pháp nuôi cây mô có thể đáp ứng theo yêu cầu của nhà vườn. Cây khóm con nuôi cấy mô + Chồi đem trồng phải mập, khỏe, xanh đậm, phiến lá rộng, dày, không sâu bệnh, chiều dài chồi  không ngắn hơn 20 cm. - Xử lý chồi + Để ngừa bệnh thối gốc cây con có thể nhúng chồi trong dung dịch Bio Rosamil 72WG pha 1 gói cho 25 lít nước. Sau đó đem trồng. 4. MẬT ĐỘ TRỒNG - Đối với giống Queen: Khoảng cách cây trên hàng từ 30-40 cm, khoảng cách giữa 2 hàng con từ 40-60 cm, khoảng cách giữa 2 hàng kép từ 60-90 cm - Đối với giống Cayenne: khoảng cách trồng thưa hơn: Khoảng cách cây trên hàng từ 40-60 cm, khoảng cách giữa 2 hàng con từ 60-80 cm, khoảng cách giữa 2 hàng kép từ 90-120 cm. - Kiểu trồng: Tùy theo chiều rộng líp mà bố trí thích hợp. Thường khóm được trồng theo hàng kép: kép 2, kép 3,… theo hình vuông, nanh sấu. 5. CÁCH TRỒNG -Trồng cây thẳng hàng, đều nhau để có thể cơ giới hóa khi chăm sóc. Trước khi đặt chồi cần bóc bỏ một một vài lá già ở gốc chồi để rễ dễ mọc ra, nếu chồi quá dài có thể cắt bớt lá. Dùng chét (hay dao nhỏ), đào lỗ sâu 7 – 10 cm, rộng 5 – 7 cm, trồng cây sâu khoảng 5-7cm, ém chặt đất vào gốc chồi giúp cây đứng vững, sau đó tưới đẫm nước. Vài ngày sau khi trồng chú ý sửa lại các cây bị ngã do mưa hay tưới. 6. CHĂM SÓC * Trồng dặm + Sau khi trồng 15-20 ngày, tiến hành trồng dặm ở nơi cây chết bằng cây tốt khác để cây phát triển đồng đều. * Bón phân - Bón lót: bón trước khi trồng 3 - 4 ngày, Phân chuồng hoai: 10 tấn/ha, toàn bộ phân lân, ¼ phân đạm và ¼ phân kali. Trộn phân rải đều trên mặt líp rồi cày chôn vào đất hoặc bón theo các hốc trồng. + Lượng phân sử dụng cho 1 ha dứa (thơm), Đạm Urea: 120 - 140kg/ha, Supe lân: 180 - 220 kg/ha, kali sulphate (K2SO4) 170 - 190kg/ha (chỉ nên dùng kali sulphate, không nên dùng kali clorua). Bón ở các giai đoạn: - Bón (tưới) thúc lần 1: 2 - 3 tháng sau khi trồng (khi dứa (thơm) bén rễ) - lưu ý: không dùng Kali Clorua  + Đạm Urea: 130 - 150kg/ha  + Kali sunphat (K2SO4): 60 - 100kg/ha + Kết hợp tưới Bio one liều lượng 50ml/ 25 lít nước kích thích ra rễ nhanh. Phân bón vi lượng: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon - Bón (tưới) thúc lần 2: 5 - 6 tháng sau khi trồng, + Đạm Urea: 200 - 250kg/ha                 + Kali sunphat (K2SO4): 60 - 100kg/ha - Bón (tưới) lần 3: trước khi xử lý ra hoa 2 tháng bón như lần 1. + Đạm Urea: 130 - 150kg/ha  + Kali sunphat (K2SO4): 120 - 160kg/ha  + Có thể phun bổ sung công thức 50gr hỗn hợp N-P-K-MgO theo tỷ lệ 10 - 0 - 0 - 16 MgO + 10gr NaCaB5O9 + 10gr Ca(NO3)2 trong bình phun 8 lít nước, 1 tháng phun một lần. Ngừng phun cho cây trước khi hoa nở. - Không nên bón đạm (N) sau khi cây đã có quả. - Có thể bổ sung phân vi lượng Dưỡng trái khóm, giúp trái to đẹp màu tăng năng suất và chất lượng trái. 7. XỬ LÝ RA HOA - Ở ĐBSCL hiện nay, việc kích thích khóm ra hoa trái vụ được áp dụng phổ biến bằng CaC2 (khí đá, đất đèn). - Yêu cầu xử lý gồm có: + Thời gian sinh trưởng từ 8-10 tháng sau khi trồng bằng chồi thân, từ 12 tháng tuổi sau khi trồng bằng bằng chồi cuống. + Nồng độ CaC2: 2,5 – 5 g pha trong 1 lít nước (nước lạnh càng tốt để tránh bốc hơi Acethylene), xử lý cho 20 cây, xử lý lúc trời mát. + Cách xử lý: Rót hỗn hợp khí đá đã pha vào noãn cây (50ml/ cây). Bình chứ nên đậy kín để tránh bốc hơi (không sử dụng bình bằng đồng để chứa vì dễ gây nổ). Sau khi xử lý 15 phút thì hữu hiệu dù trời có mưa. + Ở nhóm Queen, sau khi xử lý khoảng 30-40 ngày thì cây ra hoa, khoảng 4 tháng 15 ngày sau khi xử lý thì thu hoạch. Nhóm Cayenne có thời gian ra hoa trễ hơn, trung bình là 50-60 ngày. Hoa khóm 8. THU HOẠCH - Nếu thu hoạch xuất khẩu tươi thì cần thu lúc trái già tối đa, ruột không còn nhớt, vỏ trái có màu xanh trong, mắt trái nở rộng (ở nhóm Queen là 4 tháng 15 ngày sau khi xử lý ra hoa). - Nếu thu hoạch trái để tiêu thụ tươi tại chỗ thì hái khi 1/3 trái chuyển màu vàng.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài: https://congtydelta.com/bai-viet/76/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-xoai Kỹ thuật trồng mít thái: https://congtydelta.com/bai-viet/70/ky-thuat-trong-mit-thai  
Quản lí sâu bệnh hại trên cây điều
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Quản lí sâu bệnh hại trên cây điều
            QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY ĐIỀU I. CÔN TRÙNG GÂY HẠI 1. SÂU ĐỤC THÂN (Plocaederus ferrugineus) - Thành trùng thuộc loại xén tóc màu đen, có đặc tính đẻ trứng vào phần vỏ gốc điều (từ 1m trở xuống). Ấu trùng đục vào phần mô của cây tạo thành các đường hầm trong gỗ. Nhựa chảy rất nhiều, từ các đường hầm này, làm cây suy yếu dần đến khi sâu đục giáp vòng thân, cây điều sẽ chết. Xén tóc (thành trùng sâu đục thân) Ấu trùng của xén tóc (sâu đục thân) - Phòng trừ + Cần thăm vườn thường xuyên để phát hiện sớm khi sâu mới đục ở phần vỏ. + Khi phát hiên sâu, bóc chỗ vỏ có dấu sâu đục hoặc vạt nơi sâu đục thân để bắt sâu non, nhộng và trứng, cưa bỏ và tiêu hủy cành bị đục. + Dùng bơm hoặc xilanh bơm dung dịch thuốc trừ sâu Vua sâu. Hoặc đặt các miếng gòn có tẩm thuốc trên vào nơi có sâu đục, bịt kín lổ đục lại. 2. MUỖI CHÈ HAY BỌ XÍT MUỖI (Helopeltis antonii S.) - Thành trùng gần giống muỗi, đầu đỏ nâu, mặt dưới có màu trắng hoặc xanh. Bọ xít này thường xuất hiện vào lúc cây ra đọt non, nụ bông. Cả thành trùng và ấu trùng đều chích hút nhựa làm khô héo cành non, cuống bông, trái non và thậm chí cả hạt non. Thiệt hại có thể lên đến 30%. - Phòng trừ sử dụng các loại thuốc xua đuổi vào ba thời kỳ: + Thời kỳ thứ nhất: vào tháng 10, lúc này xuất hiện cành non. + Thời kỳ thứ 2: Vào tháng 12-1, lúc cây đang trổ bông. + Thời kỳ thứ 3: Vào tháng 2-3, lúc đang kết trái. * Chú ý: Nên phun thuốc phòng trừ bọ xít muỗi nên phun vào lúc 6h sáng hoặc sau 4h chiều. 3. SÂU RÓM ĐỎ (Cricula trifnestrata) - Sâu róm đỏ, lúc nhỏ sống thành từng đàn trên một vài lá. Khi lớn phát tán ra. Nhiều lúc ăn trụi lá cả cây. Sâu hóa nhộng trong những kén tơ vàng ánh. Sâu có thể gây dịch lớn. Sâu xuất hiện vào đầu mùa khô. Sâu róm ăn lá điều - Phòng trừ + Vệ sinh vườn điều thông thoáng, tỉa cành tạo tán kết hợp thu gom và tiêu hủy các ổ sâu, ổ trứng trên cành điều. + Cần phát hiện sớm sâu gây hại để phòng trị kịp thời. Sử dụng các loại thuốc như: Rồng Việt, Anh hung diệt sâu, Penalduc 145EC, B52 Duc,… phun ướt đẫm nơi sâu non đang phân tán. II. BỆNH HẠI CÂY ĐIỀU 1. BỆNH LỞ CỔ RỄ (Rhizoctonia solani) - Nấm tấn công khi hạt vừa nẩy mầm, lúc mầm nhú ra, làm cho mầm và hạt bị thối đen. Khi cây con lên khỏi mặt đất thì ở phần cổ rễ bị xâm nhập làm héo cổ rễ cây con teo lại dần, sau đó cây bị gục xuống và chết. Bệnh gây hại nặng trong giai đoạn cây con sau khi nảy mầm và từ 10-30 ngày tuổi. - Phòng trừ: Biện pháp phòng ngừa bệnh có hiệu quả hơn trị bệnh. + Khử trùng đất trước khi gieo hạt bằng vôi, + Xử lý hạt và bầu đất trước khi trồng bằng BioRosamil. + Phun BioRosamil lên gốc cây con. + Loại bỏ cây bệnh ra khỏi vườn ươm, tốt nhất nên đốt bỏ. 2. BỆNH ĐỐM RỈ TRÊN LÁ - Thường tấn công trên cây đã trưởng thành. Đầu tiên, lá xuất hiện những đốm vàng nâu, vết bệnh lan nhanh, tạo thành các đốm nâu màu rỉ sắt. Khi các vết bệnh phát triển nhiều, làm cho lá vàng và rụng. Bệnh do một loại rong ký sinh gây nên, không làm chết cây nhưng làm giảm sức sinh trưởng của cây nên cây cho năng suất thấp. - Phòng trừ: + Trồng đúng khoảng cách để cây có đủ ánh sáng. + Bón phân cân đối cho cây khỏe mạnh. + Phun BioRosamil hoặc Aviando 50SC lên lá 7-10 ngày một lần. 3. BỆNH THỐI ƯỚT (Phytophthora palmivora) - Nấm tấn công vào vùng cổ thân cây con làm cho cây có màu nhạt, mô bị sậm màu, úng nước xuất hiện xung quanh thân. Về sau cây bị rũ ngọn và cuối cùng bị thối. Trong trường hợp nghiêm trọng, trên lá xuất hiện các đốm úng nước, các đốm này lan ra và kết dính lại. - Phòng trừ + Phun BioRosamil hoặc Aviando 50SC lên lá 7-10 ngày một lần. 4. BỆNH THÁN THƯ HAY ANTHRACNOSE (Colletotrichum gloeosporioides) - Gây hại phổ biến và nghiêm trọng cho điều cũng như một số cây ăn trái nhiệt đới như: Xoài, cam, chanh, đu đủ,… Nấm có thể phát triển trên mô của ký chủ chết và sống. - Triệu chứng bệnh: đầu tiên là các vùng bị úng nước nhỏ, có màu nâu hơi đỏ, sau đó các phần bị nhiễm bệnh tiết ra chất nhựa, vết bệnh phát triển ra theo chiều dọc, làm chết cành non. Ở trên lá, triệu chứng xuất hiện trên các lá già, dưới dạng các lá nâu đỏ hay nâu đen có gốc cạnh, dần dần các vết bệnh lây lan qua gân ngang và phiến lá. Lá non bị bệnh thường bị khô đen, vỡ nát . Hoa khô đen cụp xuống và rụng. Hạt bệnh thường bị thối đen, nhăn lại. Các lá bị nhiễm bệnh thường rụng sớm, nhất là vào mùa mưa. Bệnh thán thư hại đọt non và hoa điều - Phòng trừ: + Sau thu hoạch phải tỉa bỏ các cành vô hiệu, cành sâu bệnh giúp cây thông thoáng, ánh sáng chiếu xuyên vào tán cây. Phun phòng trị bằng các loại thuốc: BioRosamil, Mancozeb, Aviando 50SC. + Có thể hổn hợp với thuốc trừ sâu để phun ngừa luôn bọ xít muỗi và bọ trĩ. Nên phun vào các giai đoạn sau: + Giai đoạn 1: khi cây vừa ra lá non (phun 1 -2 lần). + Giai đoạn 2: Khi vừa nhú hoa. + Giai đoạn 3: Khi vừa đậu trái đến khi trái to bằng hạt đậu phộng. Công ty cổ phần BVTV Delta Gợi ý sản phẩm   Thuốc trừ sâu, rầy       Thuốc trừ bệnh Bài viết liên quan Đặc tính thực vật của cây điều
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA