KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Kỹ thuật trồng rau xà lách xoong
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng rau xà lách xoong
KỸ THUẬT TRỒNG RAU XÀ LÁCH XOONG 1. Thời vụ    Xà lách xoong trồng được quanh năm, mùa thuận là trồng vào các tháng giáp tết 11-12 dương lịch, thời tiết mát mẻ, thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng và cho năng suất cao. 2. Chuẩn bị đất - Đất trồng rau cần được cày ải cho đất được tơi xốp và phơi đất 1-2 tuần để diệt mầm bệnh. - Làm luống chìm, rộng 1,2-1,5 m, lối đi giữa luống rộng 20-30 cm, cao hơn mặt luống 10-20 cm xung quanh luống có rãnh thoát nước rộng 10 cm, sâu 15 cm, giúp thoát nước tốt trong mùa mưa. - Trước khi trồng cho nước vào ngập ruộng, làm cho đất tơi lên bùn, sau đó cấy cải hoặc rãi đều lên liếp, đè nhẹ cho ngập nước, ngày hôm sau rút cạn nước cho rau phát triển. 3. Cách trồng - Trồng bằng cây con    Chuẩn bị cây con: hạt sau khi được thu hái xử lý qua nước ấm hoặc ngâm trong nước lã 6-8 giờ rồi tiến hành gieo vào các luống gieo, khi cây con phát triển có chiều cao 5-6 cm thì nhổ cấy vào ruộng trồng. - Trồng từ các đoạn thân    Cắt các đoạn thân trên cây có mang các nốt rễ, thân ở giai đoạn già, dài 8-5 cm sau đó trực tiếp cấy vào các luống trồng. Cần lưu ý các luống này luôn có nước lấp xấp khoảng 1-2 cm. - Mật độ và khoảng cách trồng    Lượng giống cần khoảng 3,5-4 tấn/ha. Khoảng cách giữa hàng cách hàng 5 cm và cây cách cây 5 cm. 4. Bón phân   Lượng phân cần thiết sử dụng cho 1 ha xà lách xoong như sau: - Trồng mới: Super lân (lót): 500 kg, vôi bột: 500 kg, phân chuồng hoai: 5 tấn. - Cải tạo sau thu hoạch: lân vi sinh 200 kg, phân chuồng hoai 2 tấn, NPK 16-16-8: 300-400 kg, phân urea: 40-50 kg. + Cách bón: bón phân lân vi sinh khi vừa thu hoạch xong lứa trước. + Lần 1 (10-15 ngày):  phân chuồng. + Lần 2 (17-20 ngày): phân NPK 16-16-8 bón 100 kg. + Lần 3 (24-28 ngày):  phân chuồng. + Lần 4 (30-35 ngày): phân NPK 16-16-8 bón từ 120-150 kg. + Lần 5 (37-40 ngày): phân chuồng. + Lần 6 (44-47 ngày): phân NPK 16-16-8 bón 150 kg. - Giữa 2 lần thúc phân có thể bổ sung phân bón lá Tonic-Gold, SUPER - RAU, MIX 4.0 và 10 kg Urea. - Tưới nước cho xà lách xoong: cần tưới đủ ẩm cho xà lách xoong, tưới sương trên lá nhiều lần trong ngày, tưới bình quân 30 phút/lần, tưới 10-12 lần/ngày. 5. Phòng trừ sâu bệnh - Sâu tơ (Plutella xylostella Linaeus), SÂU ĂN TẠP (Spodoptera litura Fab.), SÂU XANH DA LÁNG (Spodoptera exigua Hubn). Sử dụng các loại thuốc như: Rồng Việt 100WG, VDC PENALDUC 145EC, VOIDUC 42EC, B52 DUC 40EC. - Bệnh thối nhũn (do vi khuẩn Erwinia carotovora), bệnh thán thư, nổ lá gốc (nấm Colletotrichum sp), bệnh đốm vằn (nấm Rhizoctonia solani). Sử dụng các loại thuốc như: PYRAMOS 70SL, KASUDUC 3SL, AVIANDO 50SC, Amity top 500SC. - Cần sử dụng luân phiên các loại thuốc để tránh tình trạng kháng thuốc của sâu bệnh hại 6. Thu hoạch - Rau cải xà lách xoong sau khi trồng khoảng 30 - 45 ngày sẽ cho thu hoạch lứa đầu. Sau đó cứ 25 ngày thu hoạch cải một lần. Sau khi thu hoạch được khoảng 3 - 4 lứa, nên dùng dao hay kéo cắt trụi gần sát gốc 1 lần và bón phân. Làm theo cách này cây sẽ lên ngọn mới và khỏe mạnh hơn. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CỦA RAU XÀ LÁCH XOONG KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DƯA LEO KỸ THUẬT TRỒNG ỚT        
Đặc điểm thực vật của rau xà lách xoong
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Đặc điểm thực vật của rau xà lách xoong
ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CỦA CÂY RAU XÀ LÁCH XOONG Nasturtium officinale 1. Rễ    Xà lách xoong thuộc loại rễ chùm, đốt thân có mọc rễ phụ để hút nước và chất dinh dưỡng. Nếu đem cây riêng từng đoạn có rễ phụ có thể phát triển thành cây mới. 2. Thân - Xà lách xoong có thân nổi, kéo dài và có thể dài đến 1 m, nhưng thường chỉ có thể nhìn thấy trên 100-150 mm trên mặt nước. Thân cây mọng nước, rỗng và phân nhánh nhiều. - Thân non mềm, xốp dài 20-60 cm, mỗi lóng thân dài 1-5 cm tùy thuộc rất lớn vào thời tiết và sự chăm sóc. Trên thân mỗi mắt có thể mọc một chồi, chồi thân là bộ phân tái sinh cây hay sinh sản dinh dưỡng ở các loài cây thân thảo có sinh sản vô tính, phát triển mạnh về thân, lá khi chồi ngọn bị tổn thương. Chồi xà lách xoong là bộ phận quan trọng quyết định đến năng suất của cây. 3. Lá    Xà lách xoong dạng lá kép có 3-9 lá phụ, lá đỉnh to nhất, lá cải hình tròn nhỏ màu xanh đậm, rìa lá răng cưa. Hai mặt đều nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt. Số lá trên cây cũng góp phần gia tăng năng suất. 4. Hoa    Xà lách xoong là một loại ngây ngày dài, ra hoa trong điều kiện thời gian chiếu sáng trong ngày dài, người trồng đã chọn các giống ra hoa muộn để giảm thiểu ra hoa trong quá trình sản xuất cây trồng. Hoa mọc thành chùm ngắn ở ngọn thân, màu trắng có 4 lá đài và 4 cánh hoa. Cánh hoa cao 5-7 mm, tiểu nhụy 4 lá đài, 2 lá ngắn. Hoa tự thụ hoặc thụ phấn chéo nhờ côn trùng. 5. Quả    Quả xà lách xoong hình trụ, chứa nhiều hạt màu đỏ. Quả giác cao 2 cm, có 15-20 hạt trên mỗi hàng. Quả giác khi chín nứt theo bốn đường dọc thành hai mảnh vỏ, để giác củ của bầu mang hạt ở lại giữa quả. Giác có cuống ngắn, trong giác có nhiều hạt.   6. Hạt    Hạt xà lách xoong tương đối nhỏ (khoảng 3500 hạt/mỗi gram). Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DƯA LEO QUY TRÌNH CHĂM SÓC CÂY DƯA HẤU KỸ THUẬT TRỒNG DƯA HẤU
Bọ xít hôi
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bọ xít hôi
BỌ XÍT HÔI Rice Bug    Bọ xít hôi có tên khoa học Leptocorisa acuta,thuộc họ bọ xít mép (Alydidae), bộ cánh nửa cứng (Hemiptera). 1. Phân bố và ký chủ - Bọ xít hôi xuất hiện hầu hết ở các quốc gia trồng lúa trên thế giới trong đó có Việt Nam. - Ký chủ: Bọ xít hôi có rất nhiều ký chủ phụ, đặc biệt thường gặp trên cỏ lồng vực, lúa hoang, bắp, quan trọng nhất là lúa. 2. Đặc điểm hình thái sinh học - Thành trùng có màu xanh hơi pha nâu ở trên lưng và màu vàng nâu ở mặt bụng, dài từ 14-18 mm, mình thon dài, chân và râu đầu rất dài, râu đầu có 4 đốt. Đầu dài, 2 phiến cạnh của đầu nhô ra trước như dạng ngón tay. Bọ xít đực và cái phân biệt dễ dàng nhờ con cái có đốt bụng thứ 8 (do đốt bụng thứ 7 chẻ đôi thành 2 phần) trong khi con đực cuối bụng tròn. - Đời sống của thành trùng có thể đến 2-3 tháng, trong thời gian này một thành trùng cái có khả năng đẻ từ 250-300 trứng trong vòng khoảng 8 tuần. - Trứng được đẻ thành nhiều hàng song song trên phiến lá dọc gân chính, ở cả hai mặt, hoặc bẹ lá, mỗi ổ có từ 10-30 trứng. - Trứng hình bầu dục, hơi dẹp, dài từ 1,2 -1,4 mm, mới đẻ màu trắng đục, sắp nở màu đen bóng. Thời gian ủ trứng là 5-8 ngày. - Ấu trùng có 5 tuổi, màu xanh lá cây lợt, mới nở dài khoảng 2mm, tuổi lớn nhất dài khoảng từ 12-14 mm. Thời gian phát triển của giai đoạn ấu trùng từ 15-22 ngày. 3. Tập quán sinh sống và cách gây hại - Khi trên ruộng chưa có lúa, thành trùng có thể sống trên cỏ dại và thường di chuyển vào ruộng khi lúa trỗ. Thành trùng  hoạt động mạnh vào sáng sớm và chiều tối và không bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn. - Chúng nở vào buổi sáng, sau khi nở ấu trùng tập trung quanh ổ trứng 2-3 giờ, sau đó phân tán lên bông hay lá non để chích hút nhựa. - Ấu trùng và thành trùng thường tập trung trên bông lúa, chích hút hạt lúa đang ngậm sữa bằng cách dùng vòi chọc vào giữa hai vỏ trấu, chích hút hạt lúa, làm hạt lúa bị lép hoặc lửng, rất dễ bể khi xay.   4. Biện pháp phòng trị - Vệ sinh đồng ruộng, diệt cỏ, nhất là cỏ lồng vực. - Dùng các loại thuốc trừ sâu thông thường như VDC PENALDUC 145EC, Rồng Việt 100WG, VOIDUC 42EC, … có mùi để xua đuổi.  Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan MUỖI HÀNH PHÒNG TRỊ SÂU CUỐN LÁ NHỎ HẠI LÚA RẦY NÂU HẠI LÚA RẦY LƯNG TRẮNG  
Bệnh héo vàng trên cây khoai lang
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh héo vàng trên cây khoai lang
BỆNH HÉO DÂY KHOAI LANG    Tác nhân do nấm Fusarium oxysporum f. sp. Batatas 1. Triệu chứng - Triệu chứng ban đầu là các lá già có màu vàng, sau đó lan dần lên các lá non phía trên dẫn đến héo toàn dây, cuối cùng dây khoai sẽ khô và chết. Triệu chứng vàng lá - Các mạch dẫn bên trong dây khoai sẽ có màu nâu, sau đó rễ khoai sẽ bị mục, lớp vỏ bên ngoài của rễ, thân dây khoai sẽ xuất hiện các sợi nấm nhỏ li ti màu trắng. Mạch dẫn hóa nâu Xuất hiện tơ nấm 2. Biện pháp quản lý bệnh - Xử lý đất trước khi trồng. Dọn sạch tàn dư thực vật của vụ trước. - Sử dụng giống sạch bệnh. - Xử lý hom giống với nước ấm 51-540C hoặc với thuốc trừ nấm trong 10 phút. - Khi ruộng có những cây bị bệnh nên nhổ bỏ và tiêu hủy xa ruộng tránh lây lan cho các cây khỏe lân cận. - Bổ sung phân hữu cơ hàng năm, đặc biệt là phân hữu cơ vi sinh vì có chứa nhiều loại vi khuẩn và nấm có lợi như: Trichoderma, Bacillus và Streptomyces có khả năng ức chế mầm bệnh phát triển. - Nên bổ sung Calcium nitrate 2 lần/vụ nhằm tăng sức miễn dịch cho bộ rễ và đề kháng cho dây khoai. - Sử dụng thuốc trừ bệnh như Titt gold, Aviando, Biorosamil,… Cần chủ động phun ngừa để kiễm soát tốt nấm bệnh. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH HÉO XANH TRÊN CÂY ỚT BỆNH HÉO RŨ TRÊN CÀ CHUA BỆNH THÁN THƯ ỚT
Sùng đục củ khoai lang
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Sùng đục củ khoai lang
SÙNG ĐỤC CỦ KHOAI LANG Cylas formicarius Fabricius    Sùng khoai lang còn gọi là Bọ hà có tên khoa học là Cylas formicarius Fabricius thuộc bộ Coleoptera (Cánh cứng), họ Curculionidae (Vòi voi). 1. Phân bố ký chủ    Xuất hiện  và gây hại quan trọng ở hầu hết các vùng trồng khoai trên cả nước, chúng thường xuyên gây hại nặng ở những vùng đất đai thường xảy ra khô hạn nứt nẻ. 2. Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái a/ Thành trùng - Dài từ 5-8 mm, thon dài, chân dài, giống như kiến, đầu có màu đen, miệng dài, mắt kép hình bán cầu hơi lồi ra hai bên đầu và râu đầu gồm 10 đốt. Phần ngực, đốt cuối râu và mắt sùng thường có màu đỏ, phần bụng và cánh có màu xanh đen bóng. Đốt cuối râu của sùng đực có hình ống dài, trong khi đó sùng cái có hình trứng. Ngực có chiều dài gấp đối chiều rộng, đốt đùi to. Thành trùng ít khi bay và chủ yếu di chuyển bằng cách bò vào thời điểm chiều mát và ban đêm. Thành trùng đực Thành trùng cái - Lúc mới vũ hóa thành trùng có màu trắng và ở bên trong củ khoai lang từ 2-3 ngày, đến khi cánh đủ cứng và cơ thể đủ mạnh thì sùng mới chui ra bên ngoài. Đến khoảng 6-8 ngày sau vũ hóa, thành trùng bắt đầu bắt cặp và sau 2-3 ngày đẻ trứng. Thành trùng sống khoảng 100 ngày và đẻ khoảng 200 trứng. b/ Trứng sùng khoai lang - Thành trùng cái có thể đẻ từ 2-4 trứng trong một ngày. Sùng cái đẻ rãi rác trong các lỗ đục nhỏ trên củ khoai lang. Sau khi đẻ trứng xong, sùng lắp lỗ đục lại bằng phân nên trứng rất khó bị phát hiện. - Trứng được đẻ ở gần gốc dây khoai lang hoặc thành trùng lần theo kẽ nứt dưới đất chui xuống đẻ trứng trên củ khoai lang. Trứng nhỏ, bóng, hình bầu dục, chiều dài từ 0,5-0,7 mm. Giai đoạn ủ trứng từ 5-6 ngày vào mùa Hè và từ 11-12 ngày vào mùa Đông. c/ Ấu trùng sùng khoai lang    Ấu trùng có dạng hình ống dài, hai đầu thon nhỏ. Đầu có màu nâu, thân có màu trắng, không chân, phần bụng chia đốt rõ ràng, cơ thể dài từ 5-8,5 mm. Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 15-25 ngày. Nhiệt độ là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của ấu trùng. Ở điều kiện nhiệt độ là 300C và 240C sự phát triển của ấu trùng khoảng 10 ngày và 35 ngày. Nếu trứng được đẻ trên dây khoai lang thì sau khi nở, ấu trùng đục vào trong dây và phá hại, làm dây khoai tại vị trí đục bị dị dạng, phình to, chúng ăn chất dinh dưỡng và thải phân ngay trong đó. d/ Nhộng sùng khoai lang    Nhộng dài trung bình 6,5 mm, lúc đầu nhộng có màu trắng sữa, sau chuyển dần sang màu xám với mắt và chân đen hơn. Vòi cúi gập phía mặt bụng, thời gian nhộng đến vũ hóa từ 4-10 ngày. e/ Tập quán sinh sống và cách gây hại - Các giai đoạn sinh trưởng của sùng khoai lang đều sinh sống trên ký chủ, cả ấu trùng và thành trùng đều gây hại trên củ và dây khoai lang. - Thành trùng thường hiện diện ở mặt dưới lá, ăn biểu bì thân lá và bề mặt củ khoai lang tạo nên những lỗ thủng tròn nhỏ. Ấu trùng lớn lên đục thẳng vào bên trong củ tạo thành những đường hầm ngoằn ngoèo. - Nếu bị sùng tấn công vào giai đoạn củ mới hình thành, củ sẽ không phát triển được, bị lép và giảm năng suất. Nếu bị sùng tấn công vào giai đoạn củ đã lớn, năng suất không giảm nhiều nhưng phẩm chất củ khoai giảm do phần thịt xung quanh đường đục bị chuyển sang màu tím, có mùi hôi và vị đắng. - Củ khoai bị sùng tấn công có màu xanh đen, thường bị đắng và có mùi hôi hắc khó chịu do trong quá trình đục củ sùng đã tiết ra hợp chất terpen, cùng với sự gia tăng các hợp chất phenolic trong củ để phản ứng lại các sựu gây hại của sùng làm cho củ có vị đắng không ăn được. 3. Cách phòng trị - Tiêu hủy tàn dư của khoai lang sau thu hoạch. Nếu có điều kiện nên cho nước vào ngập ruộng từ 1-2 tuần. - Trước khi đưa củ khoai vào tồn trữ, bảo quản cần loại bỏ những củ đã bị nhiễm sùng để tránh lây lan cho củ khác. - Trước khi trồng cần vệ sinh đồng ruộng sach sẽ. - Không sử dụng dây khoai đã nhiễm sùng làm giống cho vụ sau. - Khi khoai tao củ phải vụ luống phủ kín gốc khoai, không để củ lồi khỏi mặt đất. Thường xuyên tưới đủ ẩm cho luống khoai để đất không bị nứt nẻ, sùng không chui xuống củ đẻ trứng. - Trước khi trồng có thể xử lý hom giống bằng cách ngâm vào dung dịch thuốc trừ sâu trong vòng 30 phút. - Khoảng 1 tháng sau khi trồng hoặc từ khi hình thành củ trở đi nếu phát hiện thấy thành trùng sống rãi rác trên ruộng khoai thì có thể dùng thuốc trừ sâu phun xịt  định kỳ 10 ngày/lần. - Nên luân canh với cây trồng khác không phải là thức ăn của sùng. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan CÔN TRÙNG HẠI CAM, QUÝT NHỆN GIÉ HẠI LÚA SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) QUẢN LÝ SÂU HẠI SẦU RIÊNG    
Bệnh hại chuối
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh hại chuối
BỆNH HẠI CHUỐI 1. Bệnh héo rũ Panama - Do nấm Fusarium oxysporum f. cubense - Bệnh lây lan nhanh dẫn đến chết cây, không trồng lại được ở vùng đất bị nhiễm bệnh, bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn tăng trưởng nào của cây. Các lá già bị vàng trước rồi lan dần lên các lá ngọn. Lá bị vàng từ bìa lá rồi lan vào gân lá, lá bị héo. Cuống bị gãy nơi tiếp xúc với thân giả, đôi khi ở phần giữa phiến lá. Các lá đọt còn xanh và mọc thẳng, sau đó có màu xanh nhạt hay hơi vàng, nhăn nheo và cuối cùng bị héo. Thân giả bị chết nhưng vẫn đứng, có các bẹ ngoài bị nứt dọc theo thân. Các chồi con vẫn phát triển nhưng sau đó bị héo rụi. - Cắt ngang thân giả sẽ thấy ở các bẹ lá non nhất bên trong có mạch dẫn nhựa đổi màu vàng, trong khi ở các bẹ lá già bên ngoài có mạch màu nâu. Trong thân thật (củ chuối) có những đốm vàng, đỏ hay nâu. Chẻ dọc phần gốc của các rễ thấy có sọc đỏ chạy dần vào củ chuối. * Phòng trị - Đào bỏ các gốc bị bệnh, rãi vôi hay các loại thuốc gốc đồng để khử đất trước khi trồng trở lại. - Ở các vườn bị bệnh nặng nên ngưng canh tác, cho ngập nước từ 2-6 tháng để diệt nấm. - Không dùng chuối con của các vườn bị bệnh. Khử trùng con chuối bằng BioRosamil trước khi trồng. Sát trùng dụng cụ chăm sóc. 2. Bệnh đốm lá Sigatoka - Do nấm Cercospora musae - Bệnh chỉ gây hại trên các phiến lá, triệu chứng bệnh thường thấy trên các lá thứ 2, 3 hay 4 tính từ ngọn xuống. Vết bệnh lúc đầu là những đốm nhỏ 1-10 mm, rộng 0,5-1 mm, màu vàng lợt hay xanh nâu. Các đốm này thường xếp dọc theo các gân phụ của phiến lá, phát triển thành các đốm hình thoi nhỏ, màu nâu đen với quầng vàng chung quanh. Nhiều đốm liên kết lại có thể làm phiến lá bị khô thành những mảng lớn. Cây bị bệnh nặng thường không phát triển được các lá đọt. - Trong mùa mưa, nấm bệnh lây lan theo nước chảy trên lá làm các vết bệnh xếp thành hàng, vào mùa nắng các đốm bệnh phát triển ở chóp lá, làm cháy mép lá hay ngọn lá. Quài và nảy nhỏ, trái lâu chín, ruột trái màu vàng hay hồng lợt, ăn có vị chát. * Phòng trị - Trồng với mật độ thích hợp, làm cỏ thường xuyên. - Cắt bỏ các lá bệnh đem tiêu hủy. Phun ngừa bằng hỗn hợp Bordeaux 1%, BioRosamil, Mancozeb,.. 3. Bệnh sọc đen - Do nấm Mycospharella fijiensis - Biểu hiện bệnh ở cây con giống với bệnh đốm lá Sigatoka. Trên cây lớn đốm bệnh hẹp hơn nhưng cũng rất khó phân biệt. Vết bệnh thường xuất hiện ở mặt dưới lá, màu đỏ nâu hay nâu có ánh tím (còn bệnh đốm lá Sigatoka chỉ xuất hiện ở mặt trên lá). Chỉ khi đốm bệnh phát triển thành sọc mới lộ triệu chứng ở mặt trên lá và bìa lá bị cháy có màu đen đậm như mực. * Phòng trị - Trồng với mật độ thích hợp, làm cỏ thường xuyên. - Cắt bỏ các lá bệnh đem tiêu hủy. Phun ngừa bằng hỗn hợp Bordeaux 1%, BioRosamil, Mancozeb,.. 4. Bệnh đốm lá Cordana - Do nấm Cordana musae - Xuất hiện nhiều đốm hình thoi hay hình trứng lớn, có viền nâu hay đỏ nâu, ở mặt trên lá, bên trong vết bệnh màu xám trắng, có nhiều vòng đồng tâm. Mặt dưới vết bệnh có màu nâu xám. Chung quanh vết bệnh thường có quầng vàng. Các vết bệnh có thể nối liền nhau làm phiến lá bị khô trắng từng mảng lớn. * Phòng trị - Trồng với mật độ thích hợp, làm cỏ thường xuyên. - Cắt bỏ các lá bệnh đem tiêu hủy. Phun ngừa bằng hỗn hợp Bordeaux 1%, BioRosamil, Mancozeb,.. 5. Bệnh héo rũ Moko - Do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum - Biểu hiện bệnh giống như triệu chứng bệnh héo rũ Panama. Cây bị bệnh héo khá nhanh, lá rũ, trái chín non (chín háp), các bó mạch trong thân bị đổi màu. Tùy theo giống mà triệu chứng bệnh thể hiện có thể khác nhau. Ở các giống chuối già, đầu tiên các lá già bên dưới bị vàng, sau đó lan nhanh làm cho tất cả các lá bị vàng úa, rũ xuống, cuốn lá bị gảy nơi tiếp giáp với phiến lá, cây bị thối ngã trên đất. - Cắt ngang thân giả thấy các mạch dẫn nhựa ở bẹ lá bị đổi sang màu vàng, nâu hay đen. Cắt ngang thân thật (củ chuối) thấy ở vùng bệnh có ứa giọt vi khuẩn nhầy, vùng củ chuối bị bệnh mềm nhũn. Ruột trái non bị đen. * Phòng trị - Để tránh bệnh héo rũ Moko cần thiết phải dùng cây non không mang mầm bệnh, nếu có cây bệnh phải tiêu hủy ngay và khử đất nơi cây bị bệnh. - Chọn đất lập vườn chuối ở địa điểm cao ráo, thoát nước tốt và điều cần nhớ là khử trùng các dụng cụ canh tác. 6. Bệnh chùn đọt (Bunchy Top Virus) - Do một loài rầy mềm Pentalonia nigronervosa truyền mầm bệnh virus. Bệnh phát triển nặng vào những lúc có ẩm độ cao trong mùa khô, nhất là ở đất giàu dinh dưỡng và có phủ đất thường xuyên. - Trên lá chuối xuất hiện các sọc xanh lợt ở cuống và phiến lá, song song với các gân phụ. Cây nhiễm nặng sẽ bị chùn đọt do lá không phát triển, mọc hơi đứng chứ không xòe ngang như bình thường. Lá bệnh nhỏ, mép lá phát triển không đều, có màu vàng trắng. Cây bị lùn do nhiễm bệnh sớm và sẽ không trổ buồng. Nếu nhiễm bệnh trễ, cây có thể vẫn cho trái nhưng buồng nhỏ, trái nhỏ cong queo. Cây có thể trổ buồng ngang hông. * Phòng trị - Chon cây con khỏe mạnh và từ các vườn không nhiễm bệnh. - Vệ sinh vườn thường xuyên. - Nên tiêu hủy ngay cây bệnh kể cả, củ chuối. - Phun thuốc trừ rầy. 7. Bệnh thối đầu trái - Do nấm Verticillium theobromae hay Trachyphaera fructigena - Bệnh làm cho đầu trái bị thối đen, vết thối khô. Vỏ trái có thể bị nứt * Phòng trị - Cần xoa gảy các vòi nhụy ở đầu trái sau khi chuối ra nảy khoảng 5-8 ngày. - Phun dung dịch Bordeaux 1% để phòng trị bệnh. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan SÂU HẠI CHUỐI QUẢN LÝ BỆNH HẠI SẦU RIÊNG BỆNH HẠI CAM, QUÝT    
Sâu hại chuối
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Sâu hại chuối
SÂU HẠI CHUỐI 1. Sùng đục củ (Cosmopolites sordidus) - Thánh trùng là một loại mọt dài 0,5-1cm, màu xám, khi mới nở có màu nâu hay đen. Mọt di chuyển ban đêm, ban ngày ẩn núp ở củ hay bẹ chuối gần mặt đất. Con cái sống cả năm và đẻ trứng liên tục, chích vào thân chuối đang mọc để đẻ trứng. Ấu trùng là sùng màu trắng dài 1-1,5 cm, tạo đường đi cho nấm xâm nhiễm. - Cây chuối không hấp thu dinh dưỡng được nên phát triển kém, nếu là cây con thì dễ chết. Cây trổ buồng nhỏ, trái nhỏ. - Khi thấy trong vườn có lá chuối rụng nhiều hoặc cây mọc yếu mà không có dấu hiệu gì khác thì có thể nghi là bị sùng đục củ chuối. * Phòng trị - Chọn cây con đem trồng không có dấu vết của sùng, không chất đống cây con qua đem trước khi trồng để tránh mọt đến đẻ trứng. Không tồn trữ cây con quá lâu. - Dùng thuốc bột rãi quanh gốc cách gốc 30 cm, hay phun thuốc nước lên thân và gốc chuối. 2. Rầy mềm - Thành trùng dài khoảng 1,0-1,7; có màu nâu đến đen, không cánh hoặc không cánh có dạng bầu dục. Rầy mềm thường sống trong các bẹ chuối khô chung với kiến. Rầy thường chích hút cây con ở gần mặt đất, ở gốc, cũng phát hiện được rầy trên ngọn, trong lá còn cuốn tròn chưa mở và ngay cả ở cuống lá. - Rầy chích hút nhựa, nhưng gây hại quan trọng là truyền virus gây bệnh chùn đọt chuối “Brunchy top”. Bệnh gây lá hẹp và mọc xúm xít lại nhau. Lá có những sọc màu xanh đậm. Cây mọc cằn cổi và lùn, bị nặng thì trái rất nhỏ hoặc không trái. * Phòng trị - Phòng ngừa bằng cách loại bỏ ngay những cây có bệnh ra khỏi vườn, không trồng gần vườn có bệnh. - Diệt trừ rầy bằng cách phun các loại thuốc trừ sâu thông thường VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, VDC PENALDUC 145EC cần vệ sinh vườn, tách bỏ các bẹ chuối khô, diệt kiến. 3. Bù lạch (Thrips sp) - Có nhiều loài, màu nâu, màu trắng hay đen. Kích thước rất nhỏ nên khó thấy. Bù lạch đẻ trứng dưới lớp biểu bì của bẹ ở chồi non, còn trên trái thì ở chỗ tiếp xúc giữa 2 trái kế cận. Thành trùng sống trong bẹ lá, lá non hay cuống lá. Bù lạch di chuyển từ vườn này sang vườn khác chủ yếu nhờ gió (thành trùng bay rất yếu) hoặc qua vật liệu nhân giống. - Trái bị chích hút, khi trưởng thành sẽ nổi các sẹo ghẻ ở vỏ, màu đỏ nâu và có thể nứt. * Phòng trị Có thể phun bằng các loại thuốc trừ sâu thông thường VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, VDC PENALDUC 145EC 4. Sâu cuốn lá (Erionota thrax Linnaeus) - Trứng được đẻ rải rác ở mặt dưới lá, có màu vàng nhạt, khi sắp nở có màu hồng. Ấu trùng màu xanh nhạt, khi lớn có màu trắng sáp bao quanh, dài khoảng 6 cm. Nhộng thon dài màu nâu vàng và cũng được phủ lớp sáp trắng. Thành trùng có màu nâu, chiều dài khoảng 5-5,5 cm (con đực), 6-6,5 cm (con cái). Cánh trước có 3 đốm vàng nhạt. - Sâu gây hại bằng cách cắt lá và cuốn lại, lá cuốn lại sẽ khô héo đi. Ở ĐBSCL, sâu xuất hiện cũng phổ biến nhưng có mật số thấp. Khi bị nặng, cây trụi lá, quầy nhỏ. * Phòng trừ - Cắt bỏ lá sâu đem tiêu hủy khi mật số thấp. - Có thể phun bằng các loại thuốc trừ sâu thông thường VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, VDC PENALDUC 145EC 4. Tuyến trùng Gồm có các loài sau: a/ Loài đục rễ (Radopholus similis) - Thành trùng dài 0,68 mm, rộng 0,02-0,03 mm, con cái có kim, đầu hơi tròn. Tấn công và phá hủy rễ, tạo các vết màu nâu đỏ hay đen. Rễ ngắn đi và ít mọc nhánh. Tuyến trùng có thể đục ở vòng ngoài của củ làm vòng củ đỏ lên. - Tuyến trùng đẻ trứng ở các mô trong rễ, khi nở sẽ chích hút nhựa tế bào, các mô chết làm thành các vết đen ở rễ. Cây cằn cỗi, buồng nhỏ, trái nhỏ và dễ bị các loại nấm sống trong đất như Fusarium oxysporum, Rhizoctonia solani tấn công theo các vết chích hút của tuyến trùng, làm chết cây. Mật số tuyến trùng tăng nhiều từ mùa thứ 2 trở đi. b/ Tuyến trùng làm sưng rễ (Meloidogyne incognita) Tuyến trùng gây hại làm rễ bị sưng với nhiều nốt rễ có kích thước khác nhau. Loại này ít gây thiệt hại. c/ Tuyến trùng xoắn ốc (Heliotylenchus spp) Sống bên ngoài rễ làm đứt rễ. d/ Tuyến trùng chích rễ (Pratylenchus spp) Có triệu chứng tương tự tuyến trùng đục rễ Radopholus similis * Cách phòng trị - Loại bỏ các cây bệnh, đào bỏ cả rễ. - Cày phơi đất trong 6 tháng trước khi trồng mới. - Thường xuyên bổ sung phân hữu cơ giúp đất tơi xốp để hạn chế tuyến trùng. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan QUẢN LÝ SÂU HẠI SẦU RIÊNG SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) NHỆN HẠI CAM, QUÝT
Kỹ thuật trồng cây cam sành
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng cây cam sành
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY CAM SÀNH 1. Chuẩn bị đất - Cần đào mương lên líp để tăng độ cao tầng canh tác, do ở ĐBSCL thường bị ngập nước vào tháng 9-10 hàng năm. - Kích thước mương líp như sau: + Líp rộng từ 6-8m thích hợp cho cách bố trí trồng 2 hàng. + Mương rộng trung bình khoảng ½ chiều rộng líp, sâu khoảng 1-1.2 m. Khi đào mương không được đưa phèn hay tầng sinh phèn lên làm lớp đất mặt líp. 2. Thời vụ - Có thể trồng vào cuối mùa khô đầu mùa mưa vừa tiết kiệm công tưới vừa giúp cây phát triển khỏe mạnh nhanh bén rễ. 3. Chuẩn bị mô - Mô có dạng hình tròn, đường kính khoảng 0,6-0,8 m, cao từ 0,3-0,5 m tùy địa hình. Đất đấp mô có thể trộn với tro trấu và phân chuồng hoai mục. 4. Chuẩn bị cây con - Chọn cây con có bộ rễ phát triển tốt, khỏe, rễ tơ màu vàng sáng và phân bố đều. Thân cành phân bố có dáng đồng đều, lá màu xanh bóng láng, không sâu bệnh. - Cách đặt cây con + Đào hố nhỏ ở giữa mô với kích thước vừa bầu cây con, đặt mặt của bầu bằng mặt mô, lấp đất vừa qua mặt bầu, ém đất lại chung quanh gốc, cắm cọc buộc giữ cho cây không bị gió làm lung lay, tưới đủ nước. 5. Khoảng cách và kiểu trồng - Khoảng cách: 3x3 m - Các kiểu trồng: + Kiểu hình vuông và chữ nhật: trồng 2 hàng + Kiểu nanh sấu: líp được trồng 2 hàng so le + Kiểu chữ ngũ: Líp được trồng 3 hàng, hai hàng bìa trồng theo kiểu hình vuông, trồng xen kẻ 1 hàng ở giữa. + Kiểu tam giác: Líp trồng 3 hàng, hai hàng bìa trồng theo kiểu chữ nhật thêm một hàng ở giữa. 6. Chăm sóc - Đấp thêm mô, bồi líp - Sau khi đặt bầu cay được khoảng 6 tháng thì tiến hành đắp đất thêm vào chân mô để rễ mọc lan ra và mọc cạn. Việc bồi mô tiến hành trong khoảng 2 năm đầu tiên sau khi trồng, mỗi năm làm 1-2 lần.  - Làm cỏ, tưới nước đủ ẩm cho cây. Cây cam rất sợ úng nước, do đó phải thoát nước kịp thời trong mùa mưa lũ, giữ mặt líp luôn cao hơn hơn mực nước cao nhất trong năm khoảng từ 30 cm trở lên. - Bón phân Năm tuổi Lượng phân (g/cây/năm) Urea Super lân Kali 1-3 100-300 300-600 100 4-6 400-500 900-1200 200 7-9 600-800 1500-1800 300 Trên 10 800-1600 2000-2400 400   - Cách bón: + Đối với cây 1-3 năm tuổi: bón phân lân và kali một lần vào cuối mùa mưa, còn phân đạm (urea) bón mỗi năm 3-4 lần, chia đều cho mỗi lần bón. Có thể pha vào nước để tưới trong năm đầu tiên, sau đó thì bón gốc. Có thể sử dụng Bio-Cam/BioDelta cho cây có múi phun lên lá/ tưới gốc giúp kích thích phát triển rễ cho cây. + Cây đang cho trái thì bón tối thiểu 3 lần: Sau thu hoạch trái, trước lúc trổ hoa và sau khi đậu trái. + Có thể sử dụng phân bón lá/tưới gốc Bio-Cam, bổ sung dinh dưỡng trung vi lượng cho cây giúp cây phát triển khỏe mạnh. 7. Kỹ thuật xử lý ra hoa - Đặc điểm của các loài cam quýt là sự phân hóa mầm hoa được tiến hành trong giai đoạn khô hạn. Sau đó, việc cung cấp nước trở lại có tác dụng kích thích ra hoa đồng loạt. Ở ĐBSCL, tùy theo yêu cầu thu hoạch trái, nông dân có thể dùng biện pháp xiết nước để kích thích cây ra hoa như sau: + Sau khi mùa mưa chấm dứt (khoảng tháng 12 dương lịch), tiến hành làm cỏ bờ, rút nước ra khỏi mương vườn, không tưới, thời gian kéo dài trung bình khoảng 1 tháng. Khi cây có triệu chứng héo, tiến hành tưới đẫm líp, bón phân, phủ líp, vét mương bồi líp. Khi bùn khô nứt (khoảng 3 ngày nắng), thì tưới nước trở lại. Trong 5-10 ngày đầu tiên, tưới nước liên tục mỗi ngày/lần, 10 ngày tiếp theo tưới 2 ngày/lần, thời gian sau tưới 3 ngày/lần cho đến khi mưa đều. Khoảng 5-10 ngày sau khi tưới nước cây sẽ ra nụ hoa, trổ hoa rộ trong khoảng 15-20 ngày sau khi tưới. Vụ xử lý này cho trái khoảng tháng 10-11 dương lịch. - Xử lý ra hoa bằng hóa chất: Phun Paclobutrazol nồng độ 1000-1500 ppm tương đương PACLO 25 liều lượng 150-200g pha với 25 lít nước, sau đó 30 ngày tiến hành kích thích ra hoa bằng Thioure ở nồng độ 0,3% để giúp cho ra hoa đồng loạt.   - Ở giai đoạn nuôi trái: phun bổ sung Canxi-Bo kết hợp Amino cây có múi giúp dưỡng trái to - bóng đẹp, giảm hiện tượng nứt trái, phun sương đều hai mặt lá 10 ngày/lần. 8. Thu hoạch    Cây cho thu hoạch trái vào giai đoạn từ 6-10 tháng sau khi trổ hoa. Thời gian thu hoạch tốt nhất vào khoảng 8 giờ sáng đến 3 giờ chiều, không nên thu hái sau khi trời mưa vì dễ gây thối trái. Nên cắt bằng kéo nhằm tránh bầm dập trái, nên cắt bỏ cuống trái để giảm xây sát khi vận chuyển đi xa.  Công ty cổ phần BVTV Delta  
Quản lý bệnh hại Sầu Riêng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Quản lý bệnh hại Sầu Riêng
BỆNH HẠI SẦU RIÊNG 1. Bệnh thối rễ, nứt thân, chảy nhựa, chảy gôm, nứt quả, thối quả,..( Phytophthora) - Tác nhân: do nấm Phytopthora palmivora, gây hại từ giai đoạn vườn ươm đến cây trưởng thành, cho quả, hại trên rễ, thân, cành, lá và quả. - Triệu chứng + Trên rễ: Rễ non bị thối có màu đen, rễ chết dần làm cây phát triển chậm, sau đó nấm lan dần đến phần thân cây phía trên gây chảy nhựa thân, bộ lá chuyển màu vàng, cây không phát triển và chết dần. + Trên thân, cành: Nấm lây lan dần đến phần thân cây phía trên làm chảy nhựa trên bề mặt vỏ thân, vết bệnh ướt và nhựa có màu nâu. Vỏ thân và gỗ bên dưới bị chuyển sang màu hồng nhạt, có bớt tím, viền gợn sóng, bệnh lan dần vào bó mạch. Khi cạo lớp vỏ bị bệnh ra sẽ thấy phần gỗ có màu nâu sẫm dọc theo thân cành. Cây bị bệnh nặng sẽ không phát triển và chết dần. + Trên lá: Vết bệnh đầu tiên là những đốm đen nâu nhỏ trên mặt lá và lan rất nhanh, bộ lá chuyển màu vàng rồi sau vài ngày lá chuyển thành màu nâu, lá bị nhũn rồi khô dần và rụng theo từng cành hay một phía của cây. + Trên quả: Vết bệnh khởi đầu là một vài chấm nhỏ màu đen nâu, thường xuất hiện theo vị trí ừ cuống quả trở xuống xung quanh quả, sau đó phát triển thành hình tròn hay loang lỗ và có màu nâu trên vỏ quả. Khi quả già, vết bệnh nứt ra và phần thịt quả bên trong bị thối, có rất nhiều sợi nấm màu trắng trên vết bệnh và làm quả sầu riêng rụng trước khi chín. - Phương thức lan truyền nguồn bệnh: + Nấm thường lưu tồn trong đất, có khả năng thích ứng và tồn tại trong điều kiện bất lợi. Sợi nấm và bào tử còn lưu tồn trong các vết bệnh trên thân cành, lá, trái bệnh và các xác bã thực vật. Từ đây nấm dễ dàng phát tán khi gặp điều kiện thuận lợi như: gió to, mưa nhiều, nấm sẽ lây lan và phát triển rất mạnh. Vườn bị ngập nước càng lâu thì áp lực bệnh càng lớn. - Biện pháp quản lý bệnh + Đối với những vườn chưa bị bệnh hoặc bị bệnh nhẹ + Chọn đất trồng có khả năng thoát nước tốt trong mùa mưa, tạo rãnh thoát nước không để nước ứ đọng lâu ngày ở gốc sầu riêng. + Trồng cây ở mật độ vừa phải, khoảng cách từ 8-10m giúp vườn thông thoáng, có ánh nắng xuyên vào để giảm ẩm độ, giảm áp lực nguồn bệnh. + Bón phân cân đối, sử dụng phân chuồng hoai mục và chế phẩm sinh học có chứa nấm đối kháng Trichoderma để bón cho cây. + Thường xuyên thăm vườn, vệ sinh vườn và thu gom tàn dư cây bị bệnh đem tiêu hủy, cắt tỉa các cành nhánh gần mặt đất, vệ sinh làm cỏ gần vùng gốc tạo thông thoáng. - Biện pháp hóa học + Quét gốc: Hàng năm tiến hành quét vôi nước hoặc dung dịch Bordeaux 1% quanh gốc vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa,  độ cao 0,7-1 m tính từ mặt đất để hạn chế nấm lây nhiễm từ đất. + Hiện nay, một số nhà vườn đã áp dụng thuốc có hoạt chất Mancozeb (BioRosamil, Mancozeb) để quét hoặc tưới trên cành, quanh gốc cây vào đầu và cuối mùa mưa, mang lại hiệu quả phòng bệnh rất cao. + Bôi thuốc: Đối với những cây có vết bệnh còn nhỏ, thâm đen chảy gôm trên thân,  cành thì dùng dao sắc bén cạo bỏ phần mô chết bôi dung dịch thuốc có hoạt chất: Metalaxyl, Mancozeb (BioRosamil, Mancozeb), Propineb (Nofacol 70WP), Fosetyl – aluminium, , thuốc gốc đồng,… (liều lượng theo khuyến cáo) lên mặt cắt và xung quanh. Thực hiện cạo và bôi thuốc trong thời tiết khô ráo. + Trong đợt mưa kéo dài, có thể phòng bệnh lần 2 sau lần 1 từ 5-7 ngày. 2. Bệnh thán thư (Antracnose) - Do nấm Collectotrichum zibethinum gây ra. - Thường xuất hiện trên cây ở vườn ươm đến cây 3 năm tuổi, những cây lớn nhưng kém phát triển, nhất là trong mùa nắng hay sau khi thu hoạch, chỉ xuất hiện trên lá già ở khu vực giữa tán trở xuống mặt đất. - Triệu chứng: Vết bệnh thường bắt đầu ở mép lá hay từ chóp lá lan dần vào trong phần phiến lá có màu nâu đậm, vết bệnh điển hình là để lại các đường viền tròn đồng tâm có màu đậm dọc theo 2 bên gân chính của lá. - Phòng trị + Tiêu hủy những cành bị bệnh nặng. + Cung cấp nước và phân bón đầy đủ cho cây sinh trưởng bình thường. + Phun thuốc khi cây vừa xuất hiện bệnh băng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Azoxystrobin, Propineb, Difenoconazole + Propiconazole , Mancozeb + Matalaxyl liều lượng theo khuyến cáo. 3. Bệnh cháy lá chết ngọn (leaf blight) - Do nấm Rhizoctonia sp. gây ra. - Bình thường xuất hiện và phát triển mạnh trong mùa mưa, không những gây hại cây ở vườn ươm mà còn gây hại trên cả cây lớn. - Triệu chứng: Bệnh lan dần từ lá già bên dưới lên trên làm các lá bị phỏng nước sôi, sau đó có màu vàng nâu, cuối cùng chuyển sang màu trắng xám. Các lá bệnh thưởng dính lại với nhau, khi gỡ ra thấy có các tơ màu vàng nâu kết dính các lá lại với nhau, đôi khi có những hạch tròn màu nâu nhạt. Nếu gặp mưa dầm, ẩm độ không khí cao thì vết bệnh có màu đen nhũn ra. - Phòng trị + Vệ sinh và thu dọn tiêu hủy các cành lá bị bệnh dứ tán cây. + Tỉa cành gần mặt đất tạo cho cây thông thoáng, hạn chế bệnh. + Khi thấy vườn chớm bệnh, phun thuốc có các hoạt chất như: Hexaconazole (AVIANDO 50SC), Validamycin, Difenoconazole + Propiconazole (AMITY TOP 500SC),… hoặc thuốc gốc đồng theo liều lượng khuyến cáo.  4. Bệnh đốm rong (Algal leaf spot) - Do nấm Cephaleuros virescens gây ra. - Bệnh tấn công trên lá và các cành ở những vườn sầu riêng chăm sóc kém. - Triệu chứng: Vết bệnh có hình tròn, màu gạch tôm đường khính 0,2-1 cm và hơi nhô lên, nếu nhìn kỹ thấy nhiều sợi tơ trên vết bệnh thường xuất hiện ở mặt trên của lá, rong hút dinh dưỡng và làm lá kém phát triển, giảm quang hợp. Bệnh còn tấn công trên cành cây, vết bệnh cũng tương tự như trên lá, làm cành non bị nứt ra, vị trí nứt này sẽ dễ nhiễm các loại nấm khác đặc biệt là nấm Phytophthora palmivora trong mùa mưa. - Phòng trị + Tỉa và tiêu hủy các cành bị nhiễm bệnh và cành bên trong tán không chop trái, phun các loại thuốc gốc đồng hoặc dùng Mancozeb quét lên thân cây ở giai đoạn đầu và cuối mùa mưa để phòng bệnh cho cây. 5. Bệnh nấm hồng - Do nấm Corticium salmonicolor gây hại. - Nấm thường tấn công trên các cành cây rậm rạp tại chảng 2, chảng 3 của cây. - Nấm thường tạo một lớp tơ nấm lúc đầu có màu trắng đục sau đó chuyển sang màu hồng nhạt phát triển xung quanh vỏ cành cây, nấm hút dinh dưỡng làm vỏ cành chỗ bị hại khô và rụng lá cả cành, cuối cùng làm cành chết khô. - Phòng trị + Cần trồng cây với mật độ thưa, tỉa cành cho cây thông thoáng, tỉa bỏ các cành tiêu hủy các cành bị bệnh. + Phun các loại thuốc có hoạt chất: Mancozeb + Matalaxyl (BioRosamil), Azoxystrobin, Propineb (Nofacol), Difenoconazole + Propiconazole (AMITY TOP 500SC),… liều lượng theo khuyến cáo. 6. Bệnh thối hoa - Do nấm Fusarium sp. - Hoa bị bệnh tấn công có màu nâu đen, vết bệnh hơi lõm xuống. Nấm bệnh tấn công trên hai mảnh vỏ bao quanh hoa sầu riêng, sau đó lan dần vào trong phần cánh hoa làm thối và rụng đi. - Phòng trị + Tỉa cành tạo tán cho vườn thông thoáng + Tỉa bớt và để các hoa trên cành thưa và rời nhau trên cành. + Phun thuốc phòng bệnh khi hoa chuẩn bị nở có hoạt chất như: Hexaconazole (AVIANDO 50SC), Mancozeb + Matalaxyl (BioRosamil), Azoxystrobin, Propineb (Nofacol), Difenoconazole + Propiconazole (AMITY TOP 500SC),… liều lượng theo khuyến cáo. Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Sở nông nghiệp và nông thôn tỉnh Tây Ninh
Quản lý sâu hại Sầu Riêng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Quản lý sâu hại Sầu Riêng
QUẢN LÝ SÂU HẠI CHO CÂY SẦU RIÊNG 1. XÉN TÓC (Plocaederus ruficornis) - Hình thái: Có 3 giai đoạn gồm trứng, ấu trùng và thành trùng (xén tóc). + Trứng tròn, màu trắng được đẻ rải rác trong các vết nức của vỏ cây, nở trong thời gian từ 2-3 ngày. + Ấu trùng có thân màu vàng nhạt, đầu rất nhỏ và hay rút xuống phía dưới, chân thoái hóa còn rất nhỏ, có đời sống rất lâu (có thể đến 7-8 tháng) ngay bên trong thân cây. Thành trùng có thân màu nâu đen, dài từ 2,5-4 cm, có râu rất dài, màu đỏ, bằng hoặc hơn thân mình (con đực), sáu chân cũng có màu đỏ với đốm nâu đậm ở cuối đùi và cẳng chân, trên cánh cứng có những đốm gỗ màu nâu hoặc đen, ngực trước có u nhỏ trông gồ ghề, mỗi bên có một gai đưa ra giống 2 cái sừng, thường bị thu hút bởi ánh sáng đèn vào đầu mùa mưa sau khi vừa trưởng thành. + Giai đoạn gây hại là ấu trùng, khả năng phá hại rất cao nhưng lại khó phát hiện triệu chứng gâu hại do ấu trùng không thải phân ra ngoài, thường chỉ phát hiện qua các lỗ đục trên thân, cành héo khô và có thể chết. - Cách gây hại: + Loài xén tóc đục trên thân chính hoặc nhánh lớn, thường làm chết cành hoặc suy yếu cả cây. Con cái đẻ trứng vào các vết nứt của cây hoặc ngay vị trí phân nhánh (chảng ba của cây). Ấu trùng chui qua vỏ vào trong đục thành đường hầm trong thân cây và cành cây, ăn phá ở đó. Những đường đục trong gỗ cây thường có dạng hình tròn (thiết diện cắt ngang) và kéo dài một đoạn thẳng nhỏ trước khi quay hướng đục. + Cây bị tấn công vào giai đoạn nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng rất nhiều, mạch dẫn nhựa tắt nghẽn làm cho cành bị khô héo và rụng lá, các lỗ do ấu trùng đục vào bị  chảy nhựa và cành dễ gãy. * Phòng trị + Rất khó để phòng trị các loài xén tóc vì ấu trùng ở sâu bên trong. Có thể ngừa bằng các cách sau: + Vệ sinh vườn thường xuyên (cắt bỏ tiêu hủy những cành vượt, bệnh) don sạch cỏ rác và lá cây mục. + Không gây ra vết thương vì sẽ tạo điều kiện cho thành trùng đẻ trứng. + Thành trùng chỉ xuất hiện vào lúc đêm tối và khi chúng đẻ trứng. Chúng thường thu hút bởi ánh sáng nên có thể dùng bẫy đèn để thu hút (vào đầu mùa mưa). + Pha hỗn hợp vôi, lưu huỳnh, nước tỷ lệ 10:1:40 quét thân cây để diệt trứng và tránh không cho thành trùng đẻ trứng vào giai đoạn trước và sau mùa mưa. + Nếu phát hiện cây bị sâu đục thân, dùng bông gòn thấm thuốc trừ sâu (nên chọn thuốc lưu dẫn hoặc xông hơi) nhét vào các lỗ đục, trám miệng lỗ đục lại. Ngoài ra, cũng có thể rải thuốc trừ sâu dạng hạt vào các lỗ đục và trám đất sét. + Trong quá trình tìm diệt sâu đục thân, có thể tạo nhiều vết thương trên thân cây, dùng thuốc gốc đồng quét lên thân cây phòng bệnh tấn công. 2. SÂU ĐỤC QUẢ (Conogethes punctiferalis) gây hại từ lúc quả non - quả già. - Hình thái: + Trứng hình bầu dục, dài khoảng 2-2,5 mm. + Ấu trùng dài khoảng 22mm, đầu nâu, thân màu trắng ửng hồng, hai đốt ngực (trước và giữa) và hai đốt thân ở cuối thường có màu trắng hơi hồng, các đốt còn lại có màu hồng. Mỗi đốt sống lưng có 4 đốm nâu nhạt, 2 đốm trên to, 2 đốm dưới dài và hẹp, trên mỗi đốm đều có lông cứng nhỏ, mỗi đốt có một đốm nhỏ màu nâu ở bên hông cơ thể, lỗ thở màu đen. + Trưởng thành là bướm có chiều dài sải cánh 20-23 mm, toàn thân màu vàng, trên cánh có nhiều chấm nhỏ màu đen. - Cách gây hại: Trưởng thành cái đẻ trứng trên vỏ quả sầu riêng non, sâu non ăn phần vỏ rồi đục vào quả sau đó hóa nhộng ngay trên đường đục hoặc ra ngoài và hóa nhộng trên vỏ quả. Sâu gây hại từ khi trái còn non đến trưởng thành, đặc biệt gây hại nặng trên các chùm trái hơn là các trái đơn lẻ. - Ảnh hưởng của sâu đến quả sầu riêng: Quả non bị hại sẽ biến dạng và rụng, quả già bị hại sẽ ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm. Ngoài ra, sâu đục vào quả còn tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập gây thối quả và rụng. * Phòng trị + Cắt tỉa các trái nhỏ, kém phát triển, trái bị sâu hại. + Dùng cành cây nhỏ ngăn tách các trái đóng cặp để hạn chế thiệt hại. + Dùng bẫy đèn để bẫy trưởng thành vào ban đêm. + Phun thuốc sử dụng luân phiên các hoạt chất Emamectin benzoate, Abamectin, Thiosultap sodium, …để hạn chế tính kháng. 3. RẦY NHẢY (Rầy phấn) (Allocaridara malayensis): đối tượng gây hại phổ biến và quan trọng trên cây sầu riêng, phát triển nhiều trong các tháng mùa nắng, gây hại chủ yếu trên lá non. - Hình thái:  + Ấu trùng có cấu trúc giống như lông màu trắng xung quanh cơ thể, đặc biệt là ở phía sau có lông tơ màu trắng dài trông giống như một cái đuôi gà.  + Thành trùng không có cấu trúc lông trắng này, không bay thường xuyên, chỉ bay khi chúng bị quấy phá, có chiều dài 3 – 4 mm, cơ thể có màu nâu lợt, cánh trong suốt, thường xuất hiện ở mặt dưới lá và có thể sống đến 6 tháng; đẻ trứng ở mặt trên lá non còn xếp lại thành từng ổ. - Cách gây hại: thường sống ở mặt dưới lá, cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút các lá non, lá bị hại thường có những chấm vàng. Khi bị hại nặng, lá thường khô, cong lại và rụng hàng loạt, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây. Ngoài ra rầy còn tiết ra mật ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển. * Phòng trị: + Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt để dể trừ rầy. + Phun nước khi lá vừa mở để rửa trôi ấu trùng và thành trùng giúp giúp giảm mật số rầy. + Thường xuyên kiểm tra cây đặc biệt là thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 11 là thời kỳ thường xảy ra dịch rầy nhằm quan sát tình trạng xuất hiện của rầy nhảy. + Sử dụng bẫy dính màu vàng nhằm hấp dẫn và bẫy rầy trưởng thành. + Khi mật số rầy cao có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Nytenpyram (SUPER KING 500SL), Dinotefuran, Pymetrozine (CHETS DUC 700WP)… Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng.  4. NHỆN ĐỎ (Eutetranychus sp.) - Nhện đỏ phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm của vùng nhiệt đới, khả năng sinh sản khá cao, vòng đời rất ngắn, gây hại trên lá già nhất là những lá ở gần mặt đất. - Gây hại bằng cách: Chích hút dịch lá tạo thành những chấm trắng li ti, làm lá bị mất màu, không phát triển được. Lá bị hại nặng sẽ chuyển màu vàng, rụng sớm dẫn đến cây sinh trường kém, ảnh hưởng đến ra hoa đậu quả của cây.   * Phòng trị: + Phun nước lên tán lá để tăng ẩm độ lá, giảm mật số của nhện. + Trong điều kiện tự nhiên, nhện đỏ bị nhiều loại thiên địch tấn công như : nhện nhỏ ăn mồi…cần tạo điều kiện cho thiên địch phát triển để hạn chế nhện đỏ gây hại. + Khi mật số nhện cao có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất để phun như: Abamectin (VOIDUC 42EC), Azadirachtin, Clofentezine, Diafenthiuron, Emamectin benzoate (VDC PENALDUC 145EC, Rồng Việt 100WG), Karanjin, Sulfur… . Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng.  5. RỆP SÁP (Planococcus sp.) - Xuất hiện khá phổ biến, tấn công trên trái từ khi còn non, bám vào cuống quả hoặc các rãnh giữa các gai trên vỏ quả.  - Gây hại bằng cách: Chích hút nhựa làm quả kém phát triển. Nếu quả non bị hại nặng sẽ bị biến dạng hoặc rụng non. Trong quá trình gây hại, rệp còn tiết ra mật đường tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, làm giảm giá trị thương phẩm của trái. * Phòng trị: + Tỉa bỏ những trái non bị nhiễm nặng. + Không trồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như mãng cầu (na)… + Khi mật số rệp cao phun thuốc có chứa hoạt chất như: Abamectin (VOIDUC 42EC), Emamectin benzoate (VDC PENALDUC 145EC, Rồng Việt 100WG), Nytenpyram (SUPER KING 500SL), Dinotefuran, Pymetrozine (CHETS DUC 700WP)…kết hợp dầu khoáng ... Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Sở nông nghiệp và nông thôn tỉnh Tây Ninh  
Xử lý ra hoa nghịch vụ cho sầu riêng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Xử lý ra hoa nghịch vụ cho sầu riêng
XỬ LÝ RA HOA SẦU RIÊNG 1. ĐẶC ĐIỂM RA HOA - Hoa sầu riêng là loại hoa lưỡng tính, mọc thành từng chùm (mỗi chùm 1-45 hoa), nở về đêm và có mùi rất mạnh nhưng khả năng tự thụ phấn rất kém do nhị đực và nhụy cái của hoa không nở cùng một lúc. - Ngoài ra, trên sầu riêng còn có hiện tượng tự bất tương hợp của hạt phấn, tức là hoa sẽ không tự thụ phấn (hạt phấn tự bất tương hợp hoàn toàn) hoặc có khả năng tự thụ phấn nhưng với tỉ lệ thấp (hạt phấn tự bất tương hợp 1 phần). Thông thường cây sầu riêng tự thụ phấn sẽ cho năng suất thấp và phẩm chất trái kém, trái tự thụ thường bị méo mó, biến dạng, trọng lượng trái giảm 33-50%, gai trái dầy, không đều, số hộc/trái ít (<2 hộc), rụng trái nhiều. - Vì vậy, cần tạo điều kiện để sự thụ phân chéo xảy ra giúp quả sầu riêng lớn, cân đối và đạt năng suất cao. + Trồng 2 giống (1 giống chủ lực của vườn và 1 giống có tác dụng thụ phấn) xen lẫn với nhau, có thể bố trí như sau: X   O   O   X   O   O   X X   O   O   X   O   O   X X   O   O   X   O   O   X X   O   O   X   O   O   X X   O   O   X   O   O   X O : Giống chủ lực X : Giống thụ phấn + Thụ phấn bổ sung cho sầu riêng bằng cách dùng chổi nylon quét nhẹ để lấy phấn sau đó quét lên khu vực nuốm hoa ở vị trí cần thụ phấn bổ sung. Thời gian thụ phấn thích hợp từ 19-22 giờ. (*) 2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ RA HOA - Cây sầu riêng đòi hỏi phải có một thời gian tương đối khô ráo để ra hoa, nếu mùa khô quá ngắn hay không có mùa khô cây sầu riêng sẽ không ra hoa. - Nhiệt độ ban đêm thấp 15oC có thể gây ra sự ra hoa sau 1-2 tuần. Nhiệt độ không khí và ẩm độ tương đối không ảnh hưởng lên cây được xử lý hóa chất, nhưng đối với cây không xử lý hóa chất nhiệt độ giảm từ 26-33oC xuống 20-25oC và ẩm độ giảm xuống 50-70% sẽ xuất hiện mầm hoa. - Hoa sầu riêng khi mới hình thành những chấm nhỏ có thể đi vào giai đoạn miên trạng nếu gặp thời tiết không thuận lợi như mưa. 3. XỬ LÝ RA HOA NGHỊCH VỤ CHO SẦU RIÊNG - Kích thích ra đọt sau khi thu hoạch - Cây sầu riêng cần ra ít nhất 2 lần đọt trước khi tiến hành xử lý ra hoa đợt tiếp theo. - Tiến hành: + Tỉa các cành sâu bệnh và những cành đan chéo nhau. + Bón phân: Bón phân hữu cơ hoai mục 10-20 kg/cây. Bón phân có hàm lượng đạm cao NPK 18-11-5 với liều lượng 2-3 kg/cây, đối với cây >7 năm tuổi (cây cho trái ổn định) NPK 20-20-15 với lượng 2-3 kg/cây. Tưới nước đủ ấm vào mùa khô để kích thích cây ra đọt tốt. + Ngoài ra, bà con có thể sử dụng phân bón lá 20:20:20 hoặc 18:18:18 để giúp kích thích tạo chồi mới khỏe. - Tạo khô hạn để ra hoa đồng loạt + Vào tháng 6-7 hàng năm, sau khi bón phân kích thích ra đọt lần 2 được 30-40 ngày thì cây đã ra 2 lần đọt và bắt đầu ra đợt đọt thứ 3 thì tiến hành xử lý ra hoa. Thời gian này là vào mùa mưa, vì vậy cần dọn sạch cỏ rác trong và ngoài tán cây nhằm tạo độ thông thoáng, đất nhanh khô để cây dễ ra hoa. + Bón phân lần 3 ở gốc kết hợp với MKP phun ướt cho toàn bộ lá để giúp lá nhanh chóng thuần thục, liều lượng khuyến cáo là 80-100g/8 lít. Sau khi bón phân lần 3 được khoảng từ 5-7 ngày và lá cây đã thuần thục thì phun Paclobutrazol nồng độ 1000-1500ppm (Paclo 25) để kích thích mầm hoa. + Ở các tỉnh ĐB sông Cửu Long, xử lý ra hoa sầu riêng nghịch vụ cần kết hợp xiết cạn nước trong mương trước khi phun Paclobutrazol 7-10 ngày, đào rảnh lên liếp và đậy gốc bằng bạc nylon trong suốt để tránh cây tiếp xúc với nước. Nếu điều kiện thuận lợi cây có thể tự ra hoa mà không cần phun Paclobutrazol. 4. CHĂM SÓC CÂY SẦU RIÊNG GIAI ĐOẠN RA HOA – ĐẬU TRÁI - Giai đoạn phân hóa mầm hoa cần từ 7-14 ngày tùy theo điều kiện thời tiết. Sự phân hóa mầm hoa ở dưới các cành cấp 1 và cấp 2, nếu mầm hoa có hình dạng mắt cua thì chúng ta bắt đầu phun thêm Thioure (liều lượng 3-5g/10 lít nước) để đánh thức mầm hoa và kích thích hoa phát triển nhanh. - Đến khi hoa nhú được khoảng 2-3 cm đều trên các nhánh cây thì cuốn màng nylon và tưới nước từ từ trở lại để hoa nở đồng đều. Bón phân NPK 15-15-15 với liều lượng 0,5-1 kg/cây để thúc mầm hoa. - Khi hoa có độ dài từ 3-4 cm cần chú ý tỉa bỏ ở những cành sát ngọn hoặc ngay đầu cành vì những cành này thường không có khả năng đậu quả cao, chỉ nên để hoa ở vị trí giữa cành. - Nên tiến hành thụ phấn bổ sung để tăng tỉ lệ đậu trái (*). - Tỉa trái non + Được thực hiện 2-3 lần ở giai đoạn 4-6 tuần sau khi đậu trái (khi trái bằng cái ly và cái chén). Không nên để trái ở trên ngọn cây, trái mọc trên thân chính cũng cần tỉa bỏ để ngăn cản sự cạnh tranh quá mức có thể xảy ra. Không nên để trái ở những cành nhỏ, khả năng nuối trái kém và có thể làm chết cành. + Chừa lại 1-2 trái/chùm, tùy theo giống và tuổi cây mà để trái cho phù hợp. Giống Tuổi cây Số trái/cây Ri 6 16-20 80-120 Hạt Lép Đồng Nai 90-100 Khổ Qua Xanh 140-150 Chanee 6-7 0-40 8-10 40-60 15-30 80-100 Monthong 6-7 0-30 8-10 50 15-20 70   * NHỮNG LƯU Ý - Cây sầu riêng ra đọt non trong giai đoạn đậu trái hay phát triển trái đều cạnh tranh với sự phát triển trái gây rụng trái non. Vì thế, nhà vườn thường chú ý kích thích cho cây sầu riêng ra đọt non ngày sau khi mầm hoa xuất hiện để lá phát triển hoàn toàn khi hoa nở sẽ không gây ra cạnh tranh dinh dưỡng với hoa và những đợt đọt này sẽ là nguồn cung cấp chất hữu cơ nuôi trái sau này. - Nếu xuất hiện đọt non trong giai đoạn ra hoa đậu trái, xử lý bằng cách phun phân với tỉ lệ lân và kali cao như MKP ở nồng độ 0,5 % cùng với phân vi lượng 2-3 tuần/lần để ngăn cản sự phát triển chồi dinh dưỡng. - Cần thường xuyên phòng trừ sâu bệnh cho cây sầu riêng trong giai đoạn này để đảm bảo năng suất. QUẢN LÝ BỆNH HẠI SẦU RIÊNG QUẢN LÝ SÂU HẠI SẦU RIÊNG Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng mít thái Xử lý ra hoa xoài trái vụ Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sầu riêng  
Bệnh lúa von
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh lúa von
BỆNH LÚA VON Tác nhân: Do nấm Fusarium fujikuroi gây ra. 1. TRIỆU CHỨNG Bệnh lúa von có 5 triệu chứng: chết mầm, von, lùn, thối thân, lép và lem hạt. - Triệu chứng chết mầm      Nấm bệnh lưu tồn trên hạt lúa sẽ phát triển nhanh trong khi hạt nảy mầm và tấn công mầm lúa làm chết mầm. Chết mầm có thể xảy ra trong lúc ủ hạt, trước khi đem sạ, hoặc chết mầm sau khi sạ ra ruộng. Hạt lúa bệnh bị thối đen có sợi nấm trắng bao phủ bên ngoài. Mầm lúa bị thối chết. - Triệu chứng von      Lúa non vào độ tuổi 15-25 ngày, cây vươn cao lên, cao hơn lúa bình thường. Triệu chứng rất dễ phát hiện ngay khi đứng trên bờ ruộng vì cây lúa bệnh vươn cao hơn chung quanh, lá ngả màu vàng nhợt nhạt, lá yếu ớt. Khoảng 5 – 10 ngày sau chồi lúa bệnh chết. Thân cây lúa bệnh có phấn trắng bao quanh. Đó là các sợi nấm trắng nhỏ li ti bao quanh thân cây lúa và sinh rất nhiều bào tử để phát tán ra chung quanh (theo gió). Ruộng bị bệnh lúa von (cây lúa vươn cao hơn bình thường lá màu vàng nhợt nhạt) - Triệu chứng lùn      Ruộng có thể bị mắc bệnh lúa von với triệu chứng lùn. Trong ruộng có những vùng, nhất là nơi trũng trong ruộng, lúa bị lùn và trắng lá. - Triệu chứng thối thân      Cây lúa, vào lúc chuyển từ sinh trưởng sang sinh sản, có thể bị nhiễm nấm bệnh, nhưng đến giai đoạn trổ bệnh thể hiện làm thối thân và chết toàn cây. Thối thân - Triệu chứng lép và lem hạt      Ở giai đoạn trổ nếu bị nấm bệnh lúa von tấn công nặng lúa sẽ bị lép. Vỏ trấu của hạt lúa bị lép bị một lớp nấm trắng phủ bên ngoài. Nếu bị nấm bệnh lúa von tấn công sau khi trổ thì hạt lúa có thể bị lững và vỏ hạt lúa bị lem với màu nâu tím. Nấm bệnh lúa von tấn công gây lép bông 2. QUẢN LÝ BỆNH LÚA VON - Sử dụng giống xác nhận để hạn chế tối đa nấm bệnh lưu tồn trên hạt. - Sử dụng thuốc Aviando 50SC hoặc AMITY TOP 500SC phun vào giai đoạn sau khi bón phân đón đòng để phòng trừ triệu chứng thối thân do nấm này gây ra vào giai đoạn đòng - trổ. - Ngoài ra, sản phẩm AMITY TOP 500SC còn giúp ngừa các bệnh như đốm vằn, vàng lá, lem lép hạt giúp bảo vệ bộ lá lúa xanh mướt. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Bệnh đạo ôn Bệnh cháy bìa lá lúa Bệnh đốm vằn Phòng trị bệnh lem lép hạt trên lúa  
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA