KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Sâu xanh 2 sọc trắng (Sâu xanh ăn lá)
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Sâu xanh 2 sọc trắng (Sâu xanh ăn lá)
SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) - Tên khoa học: Diaphania indica - Phổ ký chủ: gây hại nghiêm trọng trên các loại bầu, bí, dưa, đậu nành, đậu cove,… 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Trứng       Màu trắng đục, trước khi nở chuyển thành màu trắng hơi ngà vàng, rất nhỏ (khoảng 0,5 mm), tròn, có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, được đẻ riêng lẻ hoặc từng cụm trên cả 2 mặt lá, nhất là đọt và trái non. Thời gian ủ trứng 4-5 ngày. - Ấu trùng       Ấu trùng có màu xanh nhạt hay màu xanh lá cây đậm, với 2 sọc tắng chạy dọc cơ thể rất rõ. Ấu trùng có 5 tuổi với 4 lần lột xác và phát triển trong thời gian 10-20 ngày, điều kiện thuận lợi sâu có thể dài 20-25 mm. - Nhộng       Nhộng có màu nâu nhạt khi mới hình thành, vài ngày sau chuyển thành màu nâu đen, kích thước trung bình 12,6-2,3 mm. - Thành trùng + Là loài ngài nhỏ có kích thước chiều dài khoảng 10-12 mm, sải cánh rộng từ 20-25 mm. + Ngài có cánh trước màu trắng bạc với một đường viền màu nâu đậm dọc theo hai cạnh trước và cánh ngoài của cánh trước, cánh ngoài của cánh sau. Cuối đốt bụng có chùm lông của cơn quan sinh sản có màu vàng nâu. + Thành trùng có thể sống từ 5-7 ngày và một thành trùng cái có thể đẻ từ 150-200 trứng, trứng sẽ nở sau 3-5 ngày. A: Trứng, B: Ấu trùng, C: Nhộng, D: Thành trùng đực, E: Thành trùng cái 2. TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI       Ấu trùng có tập quán là dùng tơ cuốn các đọt non lại và ở bên trong ăn phá. Khi sâu lớn có thể cắn trụi cả lá và chồi ngọn của đọt non, sâu còn ăn trái non làm cho trái bị thối và rụng. Khi trái lớn, sâu thường ẩn ở mặt dưới, nơi phần trái chạm đất và cạp da bên ngoài làm trái bị lép nơi đó và da trái bị loang lỗ. Sâu làm nhộng trong các lá non cuốn lại. 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ       Sử dụng các loại thuốc trừ sâu như: VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, B52 DUC 40EC, VDC PENALDUC 145EC. Phun thuốc khi sâu còn nhỏ.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan   SÂU XANH DA LÁNG SÂU KHOANG, SÂU ĂN TẠP, SÂU KEO RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU)    
Ruồi đục lòn (Dòi đục lá, Sâu vẽ bùa hại rau)
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Ruồi đục lòn (Dòi đục lá, Sâu vẽ bùa hại rau)
RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÒN) - Tên khoa học: Liriomyza trifolii Burgess - Phân bố và ký chủ: gây hại trên nhiều loại cây trồng như bầu, bí, dưa, cà, ớt, các loại đậu,… 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Thành trùng rất nhỏ dài từ 1,3-1,5 mm, màu đen bóng, cánh trước có chiều dài 1,4 mm, rộng 0,6 mm. Cánh sau thoái hóa còn rất nhỏ màu vàng nhạt. Bụng và chân có nhiều lông, chân màu vàng, đốt chày và đốt bàn màu đen, bàn chân 5 đốt, đốt cuối có 2 móng cong màu đen. Thành trùng - Ruồi (thành trùng) có vòng đời trung bình 25-30 ngày.  - Trứng rất nhỏ có màu trắng hồng, tròn đường kính khoảng 0,2 mm. - Ấu trùng có chiều dài khoảng 2 mm, màu vàng nhạt khi mới nở sau đó chuyển sang màu vàng đậm. Cơ thể có 10 đốt, miệng dạng móc câu màu đen, thời gian phát triển của ấu trùng từ 3-4 ngày. Ấu trùng - Nhộng có chiều dài 1,5 mm rộng 0,7 mm, thời gian phát triển của nhộng 6-7 ngày. Nhộng 2. TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI - Thành trùng hoạt động vào 7-9 giờ sáng và 4-5 giờ chiều. Thành trùng dùng bộ phận đẻ trứng rạch nhiều lỗ, các lỗ đục thường xuất hiện ở chóp lá hay dọc theo bìa lá. - Dòi gây hại cho cây bằng cách đục thành những đường ngoằn nghèo ở mặt trên lá, lúc đầu đường đục nhỏ và càng lúc càng to dần cùng với sự phát triển của ấu trùng. - Khi trưởng thành dòi đục thủng biểu bì chui ra ngoài và làm nhộng trên mặt lá hay trên các bộ phận khác của cây hoặc buông mình xuống đất làm nhộng. 3. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ - Làm sạch cỏ xung quanh ruộng, tiêu hủy tàn dư thực vật. - Sử dụng các loại thuốc trừ sâu như (Rồng Việt 100WG, VDC PENALDUC 145EC,… kết hợp với dầu khoáng để tăng hiệu quả phòng trị ruồi đục lòn. Công ty cổ phần BVTV Delta     Bài viết liên quan Bọ dưa Rầy phấn trắng Sâu xanh da láng        
Nhiện đỏ hại mít
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Nhiện đỏ hại mít
Đọt mít, lá mít bị cong queo, cháy nâu _ Nguyên nhân là gì và cách khắc phục tình trạng trên. Hình triệu chứng nông dân gửi - Trả lời: Triệu chứng trên là do nhện đỏ tấn công, Nhện chích hút làm lá biến dạng cong queo, tại vị trí lá bị chích hút có màu nâu. Lật mặt dưới lá quan sát kỹ sẽ thấy những chấm nhỏ li ti (nhện đỏ) đang di chuyển. Nếu mật số cao, nhện có thể di chuyển lên mặt trên lá và gây hại cả nụ hoa. - Đặc điểm hình thái + Trứng rất nhỏ, tròn, màu đỏ, phía trên có 1 cái cuống, từ đỉnh cuống có trên 10 sợi tơ kéo dài thành hình đồng tâm đến bề mặt của lá, rất đặc trưng. + Ấu trùng mới nở có màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt với 3 cặp chân, các tuổi sau, ấu trùng có 4 cặp chân, cơ thể tròn, màu đỏ tương tự thành trùng. + Thành trùng đực dài khoảng 0,3 mm, màu cam hay đỏ sậm, hình bầu dục tròn. Thành trùng cái có cơ thể thon dần về cuối bụng. Trên cơ thể thành trùng có khoảng 20 sợi lông trắng, dài, mọc trên những ống lồi nhỏ. Thành trùng cái có râu 3 đốt, 4 cặp chân. + Nhiệt độ thích hợp cho nhện phát triển và gây hại là 25oC. - Cách xác định tác nhân nhện đỏ: + Dùng kính lúp quan sát mặt dưới lá sẽ thấy những con nhỏ li ti đang bò. + Dùng một tờ giấy trắng để dưới sát cành cây lắc, rung mạnh rồi hứng đem ra chỗ có ánh sáng mà coi sẽ thấy những chấm nhỏ li ti như đầu kim đang di chuyển. + Kẹp tờ giấy vào lá có triệu chứng bị hại vuốt mạnh nếu xuất hiện màu đỏ/hồng/vàng trên tờ giấy (xác nhện đỏ dính trên giấy) là lá bị nhện đỏ. - Cách khắc phục: + Sử dụng các sản phẩm thuốc gốc lưu hùynh kết hợp với abamectin (Rồng Việt 100WG, VDC PENALDUC 145EC,…) để phòng trừ nhện đỏ. + Có thể sử dụng kết hợp phân bón Bio Mít (phun), Bio-One (tưới gốc) liều lượng theo khuyến cáo để phục hồi lại đợt lá mới. + Khi cây vừa nhú đợt lộc mới nên phun thuốc ngừa định kỳ 7-10 ngày/lần. Áp dụng 2-3 lần để tăng hiệu quả phòng trị nhện đỏ. + Cần thăm vườn thường xuyên để phát hiện và xử lý kịp thời. *** Tham khảo bài viết chi tiết về nhện đỏ: Tại đây Công ty cổ phần BVTV Delta    
Xử lý ra hoa và chăm sóc cây vải giai đoạn kinh doanh
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Xử lý ra hoa và chăm sóc cây vải giai đoạn kinh doanh
XỬ LÝ RA HOA VÀ CHĂM SÓC CÂY VẢI GIAI ĐOẠN KINH DOANH 1. ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÂY VẢI PHÂN HÓA MẦM HOA - Với các cây vải mới bước vào thời kỳ có quả (2-3 năm tuổi) đang ở giai đoạn phát triển, tuy đã có thể ra hoa kết quả, song quá trình sinh trưởng vẫn chiếm ưu thế, nếu bón phân không hợp lý dễ dẫn đến việc ra nhiều đợt lộc đặc biệt là đợt lộc đông và lộc xuân. - Hai yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng chủ yếu đến quá trình phân hóa mầm hoa cây vải là nhiệt độ và nước. Cây vải cần nhiệt độ tháng Giêng và tháng hai dưới 13oC để phân hóa mầm hoa, số giờ lạnh cây cần để phát triển là hơn 200 giờ. Vì trước khi phân hóa mầm hoa gặp lạnh sẽ hạn chế cây ra lộc đông, có lợi cho việc quang hợp tích lũy các chất dinh dưỡng, tăng nồng độ dịch bào sẽ thuận lợi cho cây phân hóa mầm hoa. - Để cây vải ra quả phải trải qua 2 giai đoạn: + Thứ nhất: Vào tháng 11,12 hằng năm, là thời kỳ hình thành đọt hoa, thời kỳ này cây cần thời tiết khô và lạnh. + Thứ 2: Ở giai đoạn ra hoa, khoảng tháng 2, tháng 3 khi nở hoa, đậu quả cần có thời tiết khô ráo và mát mẻ. Nếu nhiệt độ quá lạnh hoặc có mưa phùn thì sẽ làm chết hạt phấn, không đậu được quả hoặc đậu quả với tỷ lệ thấp. 2. CÁCH XỬ LÝ NGĂN LỘC ĐÔNG GIÚP VẢI PHÂN HÓA MẦM HOA - Để vải chính vụ có thể phát hoa đúng thời điểm, có chùm hoa lớn, cho năng suất cao thì đợt lộc cuối cùng phải nhú trước ngày 31/10. - Ở giai đoạn đầu tháng 11 đến cuối tháng 12, đối với những cây vải khỏe, có bộ lá dày biểu hiện sức sinh trưởng tốt, đã nhú đợt lộc cuối cùng trong năm trong tháng 10, khi đó không được tưới ẩm cho vườn vải. - Ngoài ra cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế ra lộc đông. Trên các cành cấp 2, cấp 3 dùng dao sắc khoanh đường xoắn từ 1 đến 3 vòng tròn/cành (tùy sức sinh trưởng của cây), vòng cách vòng 1,5 -2 cm, vết khoanh vừa chạm đến gỗ. - Chỉ khoanh ở những cành cây đang sinh trưởng tốt, có khả năng ra lộc đông, không khoanh ở những cây cằn cỗi. Khoanh ở những cây khi lá đã thành thục, lá đã chuyển sang màu xanh sẫm. Bớt lại 10-15% số cành không khoanh để có đủ nhựa luyện nuôi bộ rễ. - Đồng thời với việc khoanh vỏ, tiến hành dùng cuốc vỡ lật đất thành một vòng tròn xung quanh tán cây, chiều rộng 40-50 cm, sâu 25-30 cm để phơi ải. Việc làm này vừa làm đứt rễ tơ đang hoạt động mạnh, vừa làm cho đất chóng khô, hạn chế hút nước và hạn chế ra lộc động. 3. CHĂM SÓC CÂY VẢI THỜI KỲ KINH DOANH - Sau thu hoạch vụ trước + Cắt tỉa các cành tăm, cành vượt, cành sâu bệnh. + Bón 30-50 kg phân chuồng hoai mục 0,35 kg Urea, 0,25 kg KCL, 0,4 kg Super Lân. Để cây ra lộc thu (đợt lộc cuối cùng trong năm). + Có thể sử dụng kết hợp Humic 999 hoặc Bio Delta tưới gốc giúp cây bung đọt mạnh. - Bón thúc hoa + Đến khoảng tháng 2 năm sau, tiến hành bón phân thúc hoa. Lượng bón 0,15 kg Urea + 1-2 kg super lân + 0,1-0,5 kg KCl cho 10 m2 diện tích bóng tán. Bón vào rãnh quanh bóng tán đã cuốc lật từ đầu mùa đông. Mỗi loại phân thả thành 3-5 điểm. Sau đó tiến hành bơm xả nước trực tiếp vào cho tan phân và ngấm xuống phần rễ đang hoạt động bên dưới. - Bón nuôi quả + Sau khi đậu quả 10-15 ngày: bón 0,1 kg Urea cho 10 m2 diện tích bóng tán. Sau 5 ngày tưới lại lần 2. + Sau khi bón đạm 15-20 ngày (trái bằng ngón trỏ): bón Kali 0,1-0,2 kg cho 10 m2 diện tích bóng tán. Bón lần 2 sau 15 ngày. + Phun Canxi bo, Ruby định kỳ 7 ngày/lần bổ sung vi lượng cho cây giúp to trái hạn chế nứt trái. 4. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH - Giai đoạn cây ra các đợt lộc + Giai đoạn này sâu bệnh phát triển rất mạnh, trung bình mỗi đợt lộc cần phun thuốc từ 2-3 lần vào thời điểm  mới nhú lộc và thời điểm ra lộc rộ. + Thuốc trừ sâu, rầy: Rồng Việt 100WG, Super King 500SL, VDC Penalduc 145EC, Chetsduc 700WP. + Thuốc trừ bệnh: BioRosamil, Aviando 50SC, Amity Top 500SC,… - Giai đoạn phân hóa mầm hoa + Phòng ngừa nhện lông nhung, bọ xít, rệp muội, sâu đo. Bệnh sương mai, thán thư. Có thể dùng các loại thuốc: + Thuốc trừ sâu, rầy: Rồng Việt 100WG, Super King 500SL, VDC Penalduc 145EC, Chetsduc 700WP. + Thuốc trừ bệnh: BioRosamil, Aviando 50SC, Amity Top 500SC,… - Giai đoạn quả non đến chín + Phòng ngừa sâu đục quả, ruồi đục quả, bệnh thán thư, sương mai và nứt quả. Sử dụng các loại thuốc như: + Thuốc trừ sâu, rầy: Super King 500SL, VDC Penalduc 145EC, Chetsduc 700WP. + Thuốc trừ bệnh: BioRosamil, Aviando 50SC, Amity Top 500SC,… Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng vải Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải Đặc điểm sinh trưởng của cây vải    
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sầu riêng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sầu riêng
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY SẦU RIÊNG 1. THIẾT KẾ VƯỜN - ĐÀO MƯƠNG LÊN LIẾP Mương rộng 2m, liếp rộng 5-6 m (nếu trồng hàng đơn) và 7-8 m (nếu trồng hàng đôi). - TRỒNG CÂY CHẮN GIÓ Chọn những cây có độ cao hợp lý, chắc gỗ, khó đỗ ngã để trồng quanh vườn và phân lô làm cây chắn gió cho vườn sầu riêng. - KHOẢNG CÁCH TRỒNG + Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: 8 x 6-7 m, mật độ 178 – 208 cây/ha. + Miền Đông Nam Bộ: 10 x 8 m, mật độ 125 cây/ha. 2. THỜI VỤ Cây sầu riêng trồng được quanh năm, nhưng thường trồng vào đầu mùa mưa để giảm chi phí chăm sóc. 3. CHỌN GIỐNG Những giống phổ biến - Giống Ri 6: có nguồn gốc từ Mianma, khá dễ trồng, cây sinh trưởng mạnh, phân cành ngang đẹp, tán hình tháp, năng suất khá cao và ổn định, phù hợp để trồng diện tích lớn, được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Thời gian từ khi đậu trái đến khi thu hoạch vào khoảng 100-105 ngày. Cây cho trái khá sớm sau 3 năm trồng, nếu được trồng bằng cây ghép và chăm sóc tốt + Đặc điểm quả: Hình bầu dục, to, tròn, cân đối, trọng lượng trung bình vào khoảng 2,5-3 kg/trái, có từ 4-5 khía múi/trái, có thể để chín tự nhiên. Khi chín, vỏ trái có màu xanh, cơm dày và có màu vàng đậm bắt mắt, dẻo, vị ngọt, không xơ, mùi thơm nồng, hạt lép. - Giống Mongthong: Có nguồn gốc từ Thái Lan, dễ trồng tán hình tháp, cần chú ý xử lý sâu bệnh kịp thời, bón phân cân đối để cây đảm bảo năng suất ổn định. Thời gian từ khi đậu trái đến khi thu hoạch vào khoảng 115-120 ngày. Trồng cây ghép sẽ cho trái khá sớm sau 3 năm trồng, nếu được chăm sóc tốt.  + Đặc điểm quả: Hình trứng, cân đối, đỉnh trái nhọn, trọng lượng trung bình từ 2,5-4,5 kg/trái, có từ 5-6 khía múi/trái, khe múi đồng đều. Khi chín vỏ có màu xanh nhạt, mỏng, hơi bóng, khi múi lộ rõ, cơm dày, mịn có màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ, không xơ, vị ngọt thanh, béo vừa phải, hạt lép.. - Giống Musang King: Có nguồn gốc từ Malaisia, cây sinh trưởng rất khỏe mạnh. Cây phát triển tốt ở những nơi có khí hậu nóng, có nhiệt độ trung bình 30-35oC, cần ánh sáng cao và cho trái khi trồng được từ 3-5 năm, chiều cao tối đa 5m. Khác với những giống sầu riêng khác phải cắt thẳng trái từ cây khi chín thì sầu riêng Musang King sẽ tự rụng. + Đặc điểm quả: Hình dạng quả thay đổi từ hình oval đến hình elip, nhận dạng giống rõ nhất ở đặc điểm hình ngôi sao do các khe giữa các múi tạo thành ở phía cuối quả, cân đối, trọng lượng trung bình từ 1,8-2,5 kg/trái. Khi chín, vỏ có màu xanh nhạt hoặc vàng nâu, cơm có màu vàng đậm và ráo, hạt lép hoàn toàn, có vị béo như bơ, vị ngọt thanh, để lâu hơi đắng, thịt quả rất mịn, không xơ. 4. CHUẨN BỊ ĐẤT + Chuẩn bị mô đất rộng 1m cao 50-60 cm, đào một hố trồng trên mô vừa đấp với kích thước 0,6 x 0,6 x 0,6 m. Sau đó bón lót: 10 kg phân chuồng + 200 g NPK (15:15:15) hoặc N:P:K:Mg (15:15:6:4), vôi 0,5-1 kg lấp đất để 1 tháng sau mới trồng. + Đặt cây con: đặt cây vào hố, lấp đất ngang mặt bầu cây con, cắm cọc giữ cho khỏi đỗ ngã, che bớt ánh sáng và tưới nước ngay sau khi trồng. Dùng rơm hoặc cỏ khô tủ gốc (cách gốc cây 10-50 cm) giữ ẩm cho cây. 5. TỈA CÀNH TẠO TÁN - Các cành cần tỉa bỏ: + Cành mọc đứng, cành bên trong tán. + Cành ốm yếu, cành bị sâu bệnh. + Cành mọc quá gần mặt đất. - Cần thực hiện tỉa cành tạo tán thường xuyên, liên tục mới có thể tạo được cây sầu riêng có bộ tán thông thoáng cần đối. * Chú ý: Quét sơn cho vết cắt >1 cm. 6. BÓN PHÂN CHO SẦU RIÊNG - Giai đoạn cây con và những năm đầu cho trái: + Bón 5-10 kg phân gà/ gốc với phân vô cơ theo công thức N:P:K:Mg (18:11:5:3) theo liều lượng và số lần bón như sau: Tuổi cây Liều lượng (kg/cây/năm) Số lần bón trong năm 1 0.3 4 2 0.6 4 3 1.0 3 4 2 3 5 2.5 3 + Sử dụng kết hợp tưới Bio One/ Bio Delta định kỳ 2 tuần/lần, phun Ra rễ sầu riêng định kỳ 10 ngày/lần ở giai đoạn cây 1-2 năm đầu.   - Giai đoạn cây cho trái ổn định: đối với cây có đường kính tán 5-6 m đang phát triển bình thường có thể bón cho mỗi cây như sau: + Lần 1: Ngay sau khi thu hoạch xong cần cắt tỉa cành, bón phân gà hoai mục 20-30 kg/cây kết hợp 800g N: 400g P2O5: 400g K2O. + Lần 2: Trước khi ra hoa 30 – 40 ngày bón phân vô cơ có hàm lượng lân cao 400g N: 800g P2O5: 400g K2O. + Lần 3: Khi trái sầu riêng to bằng trái chôm chôm cần bón phân có hàm lượng kali cao 400g N: 400g P2O5: 800g, K2O. + Lần 4: Trước khi trái chín 1 tháng bón 500-700 K2O để tăng chất lượng trái. * Chú ý, đây là lần bón phân thứ 4 sau khi thu hoạch vụ trước cũng là lần bón phân cuối cùng của vụ trái năm này, lần bón phân này không bón trễ hơn 1 tháng trước thu hoạch. Bởi vì bón như vậy sẽ dễ làm trái bị sượng, nhão. * Lưu ý: không dùng phân bón có chứa Clo như (KCl) để bón cho cây sầu riêng, vì Clo có thể làm giảm phẩm chất trái gây sượng trái. + Có thể phun phân bón lá 5 lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần, bắt đầu từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 9 sau khi đậu trái như: Lớn trái sầu riêng (50ml/25 lít). Vào thời điểm này tránh phun phân bón lá có hàm lượng đạm cao, vì sẽ kích thích cây ra lá mới cạnh tranh dinh dưỡng với trái đang phát triển làm rụng trái hàng loạt. + Phun Canxi bo (50ml/25 lít nước) vào các tuần thứ  11,12,13 sau khi hoa nở để khắc phục hiện tượng sượng trái sầu riêng.       7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI SẦU RIÊNG a/ SÂU HẠI * Sâu đục trái: Thành trùng cái đẻ trứng trên vỏ trái non, sâu non nở ra thường ăn ở phần vỏ sau đó đục vào trong trái. Sâu gây hại từ khi trái còn non đến trưởng thành, đặc biệt gây hại nặng trên các chùm trái hơn là trái đơn độc, trái non bị hại sẽ biến dạng và rụng, trái lớn bị hại sẽ làm giảm giá trị thương phẩm. - Phòng trị + Cắt tỉa các trái xấu, phát triển kém, trái bị sâu hại trong chùm trái. + Dùng cành cây ngăn cách các trái đóng cặp để hạn chế thiệt hại. + Phun Vua sâu và bao trái. * Rầy phấn Đây là đối tượng gây hại rất quan trọng trên cây sầu riêng, trưởng thành và ấu trùng thường sống ở mặt dưới lá và chích hút các lá non, lá bị hại thường có những chấm vàng, khi bị hại nặng lá thường khô, cong lại và rụng hàng loạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển, ra hoa đậu quả của cây. Rầy phát triển nhiều trong các tháng mùa nắng. - Phòng trị + Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt để dễ trừ rầy. + Phun nước khi lá vừa mở để giảm mật số rầy. + Phun các loại thuốc trị rầy như Super King 500SL, VDC Penalduc 145EC, Chetsduc 700WP. * Rệp sáp Chúng tấn công trên trái từ khi trái còn non, chích hút làm trái non chậm lớn. Rệp sáp bám trên trái lớn làm giảm giá trị thương phẩm của trái. - Phòng trị + Phun nước vào trái có thể tạm thời rửa trôi bớt rệp sáp trên trái. + Tỉa bỏ những trái bị nhiễm nặng. + Sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng Việt 100WG, Voiduc 42EC, VDC Penalduc 145EC kết hợp với dầu khoáng làm tan lớp sáp bên ngoài của rầy để hiệu quả diệt trừ rầy cao. b/ BỆNH HẠI - BỆNH XÌ MŨ CHẢY NHỰA Do nấm Phytophthora palmivora - Triệu chứng + Đây là bệnh quan trọng trên cây sầu riêng. Nấm tấn công rễ non gần mặt đất và lan dần đến phần vỏ của gốc cây sát mặt đất và di chuyển lên phần vỏ của thân cây làm vỏ cây biến màu nâu, sau đó vỏ cây bị thối và chảy nhựa ra, phần gỗ tại vết bệnh cũng hóa nâu. + Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa, nấm phát tán theo gió, theo nước mưa và dễ dàng gây hại trong các vườn trồng dày có tán lá rậm rạp và chăm sóc kém. + Nấm còn tấn công trên trái làm thối trái hàng loạt và trên lá sầu riêng nhất là các lá non ở các cành gần mặt đất. - Phòng trị + Đối với vườn mới trồng: nên lên liếp cao ráo và vị trí trồng phải cách mực nước cao nhất hằng năm từ 70-100 cm. + Trồng với mật độ thấp, khoảng cách từ 8-10 m, tạo thuận lợi cho cây sầu riêng phát triển tốt trong điều kiện thông thoáng. + Tạo hệ thống thoát nước thật tốt trong mùa mưa, tránh bộ rễ bị thối do ngập nước hay trồng thấp. + Phát hiện sớm cây bị bệnh chảy mủ và cạo sạch vết bệnh dùng BioRosamil hoặc Mancoszeb 50g/1 lít nước để quét lên vết bệnh vài lần. + Có thể dùng thuốc để tưới xung quanh gốc theo liều lượng 50g/10 lít nước. * BỆNH THÁN THƯ - Triệu chứng Vết bệnh bắt đầu từ mép lá hay từ chóp lá lan dần vào bên trong phần phiến lá có màu nâu đậm, vết bệnh điển hình là để lại các đường viền tròn có màu nâu đậm dọc theo 2 bên gân chính của lá. Thường xuất hiện vào mùa nắng ở các lá già. - Phòng trị + Tạo vườn thông thoáng. + Cung cấp nước và phân bón đầy đủ để cây phát triển bình thường. + Phun thuốc khi cây vừa xuất hiện bệnh bằng các loại thuốc như: BioRosamil, Mancozeb, Aviando 50SC,… * BỆNH CHÁY LÁ CHẾT NGỌN - Do nấm Rhizoctonia sp. - Triệu chứng + Vết bệnh xuất hiện ban đầu là những đốm nâu sũng nước, sau đó lan rộng dọc theo 2 mép lá làm cho lá không phát triển được và co dúm lại cuối cùng lá khô và rụng. Cành non cũng khô dần và chết. Bệnh thường xuất hiện và phát triển mạnh trong mùa mưa. - Phòng trị + Tỉa cành tạo tán cho vườn thông thoáng. + Phun các loại thuốc như: BioRosamil, Mancozeb, Aviando 50SC, Amity Top 500SC,… Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng mít thái Xử lý ra hoa xoài trái vụ Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long        
Kỹ thuật trồng vải
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng vải
KỸ THUẬT TRỒNG VẢI 1. THỜI VỤ - Vụ Xuân: Tháng 2-3 và đầu tháng 4. - Vụ Thu: Tháng 8, tháng 9 và tháng 10. - Ở đồng bằng, đất trồng nên đào mương, lên liếp cao. Khoảng cách trồng ở đồng bằng 10m x 10m, đất gò đồi: 8m x 8m. - Hố đào theo kích thước 1m x 1m, mỗi hố bón 30 – 50 kg phân chuồng hoai trước khi trồng 2 đến 3 tháng. 2. CHỌN GIỐNG - Các giống vải chủ yếu: + Vải chua: là loại vải chín sớm (cuối tháng 4 đầu tháng 5), ra hoa đậu quả nhiều, năng suất ổn định, quả vải có vị chua. + Vải nhỡ: chín vào giữa tháng 5 đầu tháng 6. Khi chín vỏ quả vẫn còn xanh, đỉnh quả màu tím đỏ, vị ngọt, ít chua. + Vải thiều: quả chín đầu tháng 6 đến đầu tháng 7, tỷ lệ thịt quả cao (70-80%). Hiên nay giống vải thiều có giá trị thương phẩm cao hơn nhiều so với các giống khác. - Ngoài các giống vải trên, còn một số giống vải lai như: Vải lai Bình Khê, vải lai Hưng Yên, vải Hùng Long. - Tiêu chuẩn chọn giống: phải chọn giống đúng quy định. Với các giống chín sớm phải có đường kính gốc là: 1-1,5 cm, đường kính cành ghép: 0,7 cm, chiều dài cành ghép trên 40 cm. Với các giống chính vụ, các chỉ tiêu tương ứng là: 0,8-1cm, 0,5-0,7 cm và 30-40 cm. Cây giống phải có 2 – 3 cành cấp 1 trở lên, không được nhiễm các loại sâu bệnh nguy hiểm. 3. PHƯƠNG PHÁP TRỒNG     Đào một lỗ nhỏ ở chính giữa hố, đặt bầu đất sao cho cổ rễ cao hơn mặt đất 3-5cm (ở vùng đồng bằng) và thấp hơn mặt đất 3-5 cm (ở vùng đồi), xé bỏ túi bầu, lấp đất, ấn nhẹ tay xung quanh bầu. Cắm cọc buộc dây giữ cây, tưới đẫm nước và tủ gốc giữ ẩm cho cây. 4. KỸ THUẬT CHĂM SÓC CÂY VẢI - Bón phân cho cây: Tuổi cây Lượng phân bón cho 1 cây/năm (g) Đạm Lân super KCl 1 100 400 100 2 150 600 150 3 220 900 220   + Hàng năm chia đều làm 4 lần vào các tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 11 để thúc cây ra lộc tạo bộ khung tán tốt. + Cách bón: Cuốc 3-4 hố, sâu 5-7 cm, cách gốc 30-40 cm bón phân rồi lấp đất. Có thể hòa với nước để tưới. + Mỗi năm bón bổ sung thêm phân chuồng 30 kg/cây và vôi bột 0,5 kg/cây vào tháng 8. - Cắt tỉa tạo tán: + Khi cây con đạt chiều cao 45-50 cm cần bấm ngọn để tạo cành cấp I. Chỉ để lại 3-4 cành cấp I khỏe và phân bố đồng đều về các hướng. Cành cấp I dài 25-30 cm thì bấm ngọn tạo cành cấp II. Sau đó tạo cành cấp III, cấp IV bằng phương pháp tương tự. + Tỉa bỏ các cành trong tán, cành sâu bệnh và vặt bỏ quả ở 3 năm đầu để cây sinh trưởng tạo bộ khung tán tốt, thuận lợi cho ra hoa, đậu quả về sau. - Tưới nước: + Cần tưới nước sau khi trồng và tưới đủ ẩm cho cây khi cây lớn để cây có thể cho năng suất cao và phẩm chất tốt. 4. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI - Sâu hại     Sâu đục gân lá, sâu đục cuốn quả, nhện lông nhung, bọ xít, rệp sáp, rệp muội… sử dụng các loại thuốc như: Penalduc 145EC, Rồng Việt, Super King, Chet 700WG, Voiduc,… - Bệnh hại:             Bệnh sương mai, thán thư làm thối và rụng trái non, bệnh chết rũ, bệnh sùi cành,… sử dụng các loại thuốc như: Amity top 500SC, BioRosamil 72WP, Mancozeb, Aviando 50SC,… 5. THU HOẠCH - Thu hoạch khi quả vải chuyển từ màu xanh sang đỏ hồng. Gai quả nhọn chuyển sang thưa, quả mềm có vị thơm. - Thu hái tránh va chạm gây dập quả. Nếu có điều kiện cho phép, ngay sau khi thu hái nên nhúng quả trong nước lạnh tốt nhất là nước đá đang tan trong thời gian 1-3 phút. Sau khi vớt ra phải để ráo rồi mới được đóng gói. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải Đặc điểm sinh trưởng của cây vải Cách xử lý cây Na ra quả trong thân  
Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải
NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÂY VẢI - Cây vải cần nhiều kali và đạm, sau đó đến lân. Ở thời kỳ cây con cây cần nhiều đạm và lân còn ở giai đoạn sinh trưởng và phát triển cây vải cần nhiều kali nhất đến đạm và lân. - Do đó, để giúp cây phát triển tốt cần phải hiểu rõ thời điểm cây cần loại dinh dưỡng nào và lượng bao nhiêu để bổ sung đầy đủ và kịp thời cho cây. 1. NHU CẦU DINH DƯỠNG VỀ ĐẠM (N) - Đạm có tác dụng rất lớn trong quá trình phát triển lá, thân, cành và tạo tán của cây vải nên có vai trò quyết định đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây. - Đạm còn có tác dụng lớn đến việc ra hoa, đậu quả, số lượng và trọng lượng quả nên có tác dụng quyết định đối với năng suất quả vải. - Trong một năm nhu cầu đạm của cây vải cao vào thời kỳ sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu cho việc ra quả ở năm sau (tháng 7-8), sau đó giảm mạnh khi chuẩn bị phân hóa mầm hoa (tháng 12), tiếp tục tăng mạnh vào đầu xuân (tháng 2-3) khi cây phát triển cành xuân, ra hoa đậu quả và giảm dần cho đến trước thu hoạch quả. 2. NHU CẦU DINH DƯỠNG VỀ LÂN (P2O5) - Lân có tác dụng lớn đối với sự phát triển của hệ rễ và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây vải. Lân thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, hình thành quả, sự hoàn thiện của quả và hạt nên có tác dụng nâng cao năng suất và sớm cho thu hoạch. Lân cũng ảnh hưởng tới phẩm chất của quả vải và đặc biệt còn tăng khả năng chống hạn, chống rét và chống chịu sâu bệnh hại cho cây. - Cây vải thiếu lân có lá tối màu, thiếu nhiều thì ở ngọn lá và mép lá có màu vàng nâu cục bộ và lan dần ra đến gần gân chính. Thiếu lân không chỉ ảnh hưởng xấu đến khả năng hút dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển của cây vải mà còn ảnh hưởng xấu đến việc ra hoa, đậu quả. * Lưu ý: Không bón nhiều lân, vì khi cung cấp quá nhiều lân sẽ làm cho hàm lượng nitơ và kali trong cây giảm, có thể ảnh hưởng không tốt đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. - Trong một năm nhu cầu lân của cây vải cao vào thời kỳ từ sau khi thu hoạch và chuẩn bị phân hóa mầm hoa (từ tháng 7-8 đến tháng 12) sau đó giảm dần cho đến trước thu hoạch. 3. NHU CẦU VỀ DINH DƯỠNG KALI (K2O) - Kali là yếu tố dinh dưỡng mà cây vải cần nhiều nhất. Kali có tác dụng trong việc tổng hợp các chất glucid, giúp cho cấu tạo các mô cứng cáp, vận chuyển sản phẩm quang hợp đến các cơ quan dự trữ của cây được thuận lợi. Kali còn cón tác dụng làm tăng độ ngọt và phẩm chất quả. Kali làm tăng khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp cho quả nhanh lớn và hoàn thiện. - Thiếu kali màu sắc lá hơi nhạt ở ngọn lá có hiện tượng trắng màu tro, khô; mép lá có màu nâu lan dần xuống gốc lá. - Nhu cầu kali của cây vải cũng tăng hàng năm tương tự như đối với đạm. Nhu cầu kali hàng năm của cây vải tăng dần từ sau thu hoạch quả và đạt cao nhất ở thời kỳ cây ra hoa rồi giảm dần từ khi đậu quả cho đến lúc thu hoạch. Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây vải_Nhà xuất bản Thời đại Bài viết liên quan Đặc điểm sinh trưởng của cây vải Cách xử lý cây na ra quả trong thân        
Đặc điểm sinh trưởng của Cây Vải
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Đặc điểm sinh trưởng của Cây Vải
ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÂY VẢI Tên khoa học: Litchi chinensis 1. NGUỒN GỐC - Vải là loại cây thân gỗ vùng nhiệt đới, có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc, tại đó người ta gọi là Lệ Chi, phân bố trải dài về phía nam tới Indonesia và về  phía đông tới Philippines (tại đây người ta gọi nó là alupag). - Vải được trồng nhiều nhất ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, giống vải được ưa chuộng nhất ở Việt Nam là Vải Thiều trồng tại khu vực huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, quả vải ở vùng này thông thường có hương vị thơm và ngọt hơn vải được trồng ở các khu vực khác. 2. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÂY VẢI - Rễ cây vải + Đa số vải trồng bằng cành chiết nên rễ ăn nông, tập trung ở độ sâu từ 0-60 cm . Nhưng cây trồng bằng hạt hoặc cây ghép trồng chỗ đất tốt tầng đất dày, rễ cọc ăn sâu đến 1,6 m, rễ tơ phát triển. + Thông thường, bộ rễ vãi ăn rộng hơn so với tán 1,5 – 2 lần, rễ tơ tập trung ở khu vực hình chiếu tán và ở tầng sâu 0-20 cm, rễ vải trong quá trình sống có nấm cộng sinh giúp cho rễ vải sinh trưởng và hút dinh dưỡng tốt hơn. Nhiệt độ thích hợp cho rễ phát triển 23-26oC, pH thích hợp 6,0-6,5. - Thân và tán cây Cây trưởng thành cao 10-15 m, vải chua, vải sớm tán hình cây rơm, vải thiều tán hình mâm xôi đường kính tán từ 8-10 m. - Sinh trưởng lộc Một năm vải ra được từ 3-5 đợt lộc (xuân 1 đợt, hè 2 đợt, thu 1 đợt và 1 đợt lộc đông) với những cây vải khi chưa cho quả hoặc cho quả không đều thì ra được 4-5 đợt lộc, cây cho quả đều thì một năm có 3 đợt lộc (xuân 1 đợt, hè 1 đợt, thu 1 đợt và không có đợt lộc đông). - Quá trình sinh trưởng và phân hóa mầm hoa của cây vải                 Cây vải trong quá trình sinh trưởng của mình, trước thời kỳ ra hoa đậu quả, có thời kỳ nghỉ sinh trưởng để phân hóa mầm hoa trong mùa đông (tháng 12 - tháng 1), để nghỉ sinh trưởng thực hiện phân hóa mầm hoa vải cần có 1 quỹ khô và lạnh trong thời gian 200 giờ, với nhiệt độ từ 13 độ trở xuống, nếu không có đủ quỹ khô lạnh này thì cây vải sẽ không nghỉ sinh trưởng, tức là tiếp tục ra lộc đông và không thực hiện được quá trình phân hóa mầm hoa dẫn đến vụ xuân của năm sau vải sẽ không ra hoa mà ra lộc. 3. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA CÂY VẢI - Ra hoa, đậu quả trên cây vải + Vải là cây ăn quả ra hoa ở đầu cành, từ khi ra hoa - đậu quả đến quả lớn không có khả năng ra lộc trên cành mang quả, dẫn đến tính ra quả cách năm khá rõ rệt. + Quá trình ra hoa của vải có thể chia thành các thời kỳ: * Thời kỳ xuất hiện mầm hoa * Thời kỳ xuất hiện hoa * Thời kỳ nở hoa và thụ phấn * Thời kỳ tàn hoa và đậu quả + Hoa vải ra ở dạng chùm và thực hiện thụ phấn chéo (giao phấn), có cả 3 loại hoa (hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính) số lượng hoa đực thường lớn hơn rất nhiều so với hoa cái và hoa lưỡng tính, hoa đực nở trước hoa cái nở sau và kết thúc nở là hoa đực, do sự nở lệch pha của hoa đực và hoa cái hoặc hoa đực và hoa lưỡng tính nên quá trình thụ phấn thụ tinh gặp khó khăn, làm cho tỷ lệ đậu quả ở các năm khác nhau, năm đậu nhiều quả, năm đậu ít quả.   - Sinh trưởng của quả Sau khi thụ phấn thụ tinh quả bắt đầu phát triển và chín vào mùa hè cho đến mùa thu. Quá trình lớn của quả có đặc điểm rụng quả vào các thời kỳ sau tàn hoa từ 10-20 ngày, khi quả lớn và khi quả sắp được thu hoạch, đặc điểm này làm hạn chế đến năng suất quả khi thu hoạch, cần có biện pháp kỹ thuật thích hợp với từng loại cây ăn quả để khắc phục hiện tượng rụng quả. 4. YÊU CẦU VỀ SINH THÁI - Yêu cầu về khí hậu + Nhiệt độ cần cho sự sinh trưởng của vải từ 16-28oC thích hợp nhất là từ 24-29oC. Vải chịu lạnh giỏi hơn một số cây ăn quả Á nhiệt đới khác. Cây chiết cành chịu lạnh kém hơn cây ghép trong những năm đầu. + Cây vải không bị ảnh hưởng khi nhiệt độ tới 40oC, dưới 20oC thì cây vải sinh trưởng chậm, dưới 15-16oC thì cây vải ngừng tăng trưởng. Biên độ nhiệt ngày đêm càng lớn thì sự sinh trưởng của vải càng tốt. + Cây vải yêu cầu nhiệt độ tháng 12 đến tháng 1 dưới 13oC để phân hóa mầm hoa.  Năm có mùa đông ít lạnh thì vải ra hoa kém. Nhiệt độ thích hợp cho vải ra hoa thụ phấn thụ tinh là 18-24oC. + Lượng mưa tốt nhất cho cây vải từ 1250-1700 mm mỗi năm. Vải là cây chịu khô hạn giỏi nhiệt độ không quá cao và ẩm độ không khí lớn là điều kiện thuận lợi cho quả vải phát triển. - Ánh sáng: Nắng càng nhiều càng thuận lợi cho sự hình thành hoa vào tháng 2-3 có nắng thì thụ phấn rất tốt. 5. YÊU CẦU VỀ ĐẤT ĐAI - Cây vải không kén đất, thích hợp nhất đất phù sa, có tầng canh tác dày. - Vải trồng bằng cành chiết, bộ phận rễ phát triển kém, nếu trồng trên đồi phải giữ ẩm tốt và cắm cọc buộc cành giữ cho cây khỏi lay gốc để đảm bảo tỷ lệ sống sau trồng cao. Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Cẩm nang cây trồng Bài viết liên quan Đặc tính thực vật của cây Điều Kỹ thuật thâm canh cây Điều Cách xử lý cây Na ra hoa trong thân  
Sâu xanh da láng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Sâu xanh da láng
SÂU XANH DA LÁNG Tên khoa học: Spodoptera exigua Họ: Noctuidea Bộ: Lepidoptera - Sâu xanh da láng là côn trùng ăn tạp (Tương tự như Sâu ăn tạp).Với phổ ký chủ rộng, nó đã trở thành một loài dịch hại nghiêm trọng đối với thực vật đặc biệt là các loại rau ngắn ngày như: Củ cải đường, bông cải, bắp cải, cần tây, đậu nành, đậu xanh, hành, ớt, bắp, đậu đũa, cà tím, rau diếp, khoai tây, khoai lang, cà chua,… 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Vòng đời - Giai đoạn trứng + Trứng được đẻ thành từng cụm từ 50-150 trứng/ ổ. Sản lượng trứng bình thường khoảng 300-400 trứng trên mỗi con. + Trứng thường được đẻ ở mặt dưới lá, thường gần hoa và phần đọt của cành. + Trứng có hình tròn khi nhìn từ trên xuống, nhưng khi nhìn từ phía khác thì trứng hơi có đỉnh và thuôn nhọn. Đường kính từ 0,4-0,5 mm. Trứng mới đẻ màu xanh đến vàng nhạt, sau chuyển sang màu trắng đục, sắp nở có một chấm đen trên vỏ trứng, đó là mắt của sâu, trên phủ lớp lông màu trắng ngà. + Trứng nở sau 2-3 ngày trong thời tiết ấm áp. - Giai đoạn ấu trùng + Ấu trùng tuổi 1: Sâu tuổi 1 có màu xanh lá hoặc màu vàng, đầu đen bóng, mang nhiều lông. Trên lung có nhiều chấm to màu nâu nhạt, ở mỗi chấm có một lông dài màu nâu, cơ thể có chiều dài từ 1,2-1,5 mm, thường phần đầu có chiều ngang lớn hơn chiều ngang thân mình và các sọc trên cơ thể chưa rõ ràng. + Ấu trùng tuổi 2: Sâu mới lột xác có màu vàng nhạt hoặc màu xanh lá cây, màu sắc trên mình sâu bắt đầu thể hiện rõ dần. Bụng màu vàng xanh, các đốt trên thân rõ dần. Cơ thể sâu có ba sọc màu trắng mờ, một sọc giữa lưng và 2 sọc bên thân, cả ba sọc trên chạy từ đốt thứ nhất đến đốt cuối của bụng. Ở tuổi này sâu có kích thước cơ thể trung bình là 0,45-3,7 mm, kích thước vỏ đầu trung bình 0,36x0,25 mm. Thời gian phát triển của sâu tuổi 2 dao động từ 2-4 ngày. + Ấu trùng tuổi 3: Khi sâu bước sang tuổi 3 các sọc nhạt màu chạy dọc cơ thể sâu xuất hiện rõ hơn. Lúc mới lột xác sâu có màu vàng xanh, sau chuyển sang màu xanh lá cây. Đầu màu vàng nhạt, bóng, vẫn còn mang nhiều lông. Các chấm trên mình sâu nhỏ dần, lông ngắn hơn. Bụng có màu xanh nhạt, chân trong suốt, phần đầu cuối chân có màu hồng. Kích thước thân lúc mới lột xác trung bình 6,5 mm x 0,25 mm, kích thước vỏ đầu trung bình là 0,56 mm x 0,39 mm. Thời gian phát triển của sâu ở tuổi này dao động từ 2-3 ngày. + Ấu trùng tuổi 4: Biểu bì của sâu tuổi 4 bóng láng và sẫm màu hơn các giai đoạn từ tuổi 1 đến tuổi 3, có một sọc đen chạy dọc mặt lưng của sâu. + Ấu trùng tuổi 5: Mặt lưng màu xanh lá hoặc hồng, dưới bụng màu vàng. Các sọc chạy dọc cơ thể sâu hiện ra rất rõ. Cuối tuổi 5, sâu co rút lại, không ăn, không hoạt động và chuôi xuống đất để hóa nhộng. - Giai đoạn nhộng + Sâu làm nhộng trong đất. Nhộng có màu vàng nâu, thời gian phát triển của nhộng dao động từ 6-7 ngày. - Giai đoạn thành trùng + Ngài sâu xanh da láng, màu trắng xám, chiều dài thân từ 7-10 mm, sải cánh rộng từ 20-25 mm. Đầu màu xám, mang nhiều lông. + Cánh trước màu xám hơi ngả nâu, thon dài, hình tam giác, góc cánh hơi bầu, có nhiều vân. Cánh sau là cánh màng, màu xám trắng, càng ra cạnh ngoài cánh các gân có màu đậm, kế đó là một đường viền màu nâu đậm, ngoài cùng là rìa lông trắng. + Thời gian sống của ngài từ 5-10 ngày và một ngài cái có thể đẻ từ 300-400 trứng trong vòng từ 3-5 ngày. 2. TẬP QUÁN GÂY HẠI - Sâu mới nở sống tập trung xung quanh ổ trứng, sâu gây hại mạnh vào ban đêm, ban ngày khi nắng nóng thường chui xuống đất. - Sâu gây hại bằng cách ăn phần diệp lục của lá, chừa lại lớp biểu bì trắng. Cuối tuổi 1 trở về sau sâu phân tán sang các lá lân cận, ăn phần thịt lá còn lại gân lá, khi mật số cao sâu ăn trụi cả lá, cuống và trái non. - Sâu có tập quán nhả tơ buông mình xuống đất khi bị động.                  - Trên cây hành lá và hành củ: Ngài đẻ trứng bên ngoài cọng hành, sâu nở ra và chui vào bên trong ăn phần nhu mô lá, làm lá mất chất diệp lục, giảm khả năng quang hợp làm bụi hành còi cọc, lá bị cạp thũng chỗ chỗ, gãy gập đứt ngọn. Sâu thải phân bên trong ống hành. Trường hợp mật số cao sâu ăn trụi hết lá, không còn lá để bó khi thu hoạch, sâu còn gây hại cả củ làm mất giá trị thương phẩm. - Trên đậu nành và đậu xanh: Sâu gây hại từ khi cây đậu còn nhỏ đến khi trổ hoa, tượng trái. Sâu có thể ăn trụi cả lá, đọt non, hoa và trái non. - Trên cây ớt: Sâu ăn phá đọt non, ăn lủng lá, hoa và trái. Trên trái ớt sâu thường ăn ở phần đầu trái nới tiếp giáp với đài hoa hay đục lổ ở giữa trái, trái bị sâu ăn thường thối và rụng sớm. 3. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Biện pháp canh tác + Thăm đồng thường xuyên, phát hiện sớm ổ trứng và ngắt bỏ. Bắt sâu non bằng tay khi sâu còn nhỏ sống tập trung. + Luân canh với lúa nước để diệt nhộng sâu trong đất. + Cày ải diệt sâu, nhộng. Trồng mật độ thích hợp, tránh quá dày. + Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch, dọn sạch tàn dư thực vật. + Bón phân cân đối, tránh thừa phân đạm cây quá xanh tốt dễ bị sâu tấn công. - Biện pháp sinh học         Sử dụng các chế phẩm nấm xanh Metarhizium anisopliae, nấm trắng Beauveria bassiana, Bacillus thuringiensis var. phun để tạo sự đối kháng tiêu diệt sâu… Các loại chế phẩm này nên phun thuốc vào các buổi chiều mát, không được phối trộn chung với thuốc hóa học. - Biện pháp hóa học + Khi mật độ sâu xuất hiện nhiều, gây hại rộng thì phải sử dụng thuốc hoá học đặc trị có một trong các hoạt chất như Abamectin (Rồng Việt, VoiDuc, Penalduc, B52 Duc,…), Emamectin, Thiosultap - sodium,… . * Lưu ý: Thời gian thích hợp nhất để phun thuốc là vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối, khi đó sâu chui lên phá hại cây trồng nên dễ tiếp xúc với thuốc hơn. Thời điểm phát hiện thấy sâu non mới nở hoặc còn nhỏ sống tập trung thì nên tiến hành phun thuốc luôn. Do sâu có tính kháng thuốc mạnh nên cần phải áp dụng phun luân phiên thuốc có các hoạt chất khác nhau như trên để đạt hiệu quả cao. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Rầy phấn trắng Bọ dưa Sâu ăn tạp  
Sâu khoang, sâu ăn tạp, sâu keo
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Sâu khoang, sâu ăn tạp, sâu keo
SÂU KHOANG, SÂU ĂN TẠP, SÂU KEO      Sâu khoang (còn được gọi là sâu ăn tạp, sâu keo) gây hại trên tất cả các loại rau, là đối tượng gây hại nặng trên cây rau muống. Sâu non tuổi nhỏ thường gây hại nghiêm trọng nhất bởi hàng trăm con sâu non tập trung lại ăn lá cây và nhanh chóng làm lá cây xơ xác. Sâu non có thể gặm vỏ quả làm giảm phẩm chất. Tên Khoa học: Spodoptera litura Họ: Noctuidae Bộ: Lepidoptera 1. VÒNG ĐỜI 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - Trứng + Hình bán cầu, đường kính 0,4-0,5 mm. Trứng được đẻ thành ổ trên lá và được bao phủ một lớp lông màu trắng bảo vệ. + Trứng mới đẻ có màu trắng hơi ngã vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm. + Trứng nở trong khoảng 4 ngày ở điều kiện ấm áp, hoặc lên đến 11-12 ngày vào mùa đông. - Ấu trùng + Sâu non mới nở có màu xanh sáng, sống tập trung và phân tán khi lớn. Sâu tuổi lớn có màu từ xám xanh đến nâu đen với những sọc vàng sáng ở hai bên hông chạy từ đốt thứ nhất của bụng đến đốt cuối. Dọc theo đường ấy có những điểm hình bán nguyệt. Từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám của bụng mỗi đốt có 1 chấm đen rõ, đây là điểm đặc biệt của loài sâu này để phân biệt với các loài sâu khác cùng giống, trong số đó 2 chấm đen ở đốt thứ nhất to nhất và càng lớn 2 chấm này gần như giao nhau thành một khoang đen trên lưng nên sâu này còn có tên là “Sâu Khoang”. Sâu lớn đủ sức dài khoảng 35-53 mm, hình ống tròn. + Khi sắp hóa nhộng, sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó để hóa nhộng bên trong. + Sâu ăn rất mạnh, ấu trùng tuổi 1 đến tuổi 3 ăn theo nhóm trên lá, thường chừa lại lớp mỏng lá. Ấu trùng tuổi 4 đến tuổi 6 sống phân tán, dành cả ngày trốn trong đất, chỉ lên ăn vào ban đêm và sáng sớm. Không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành, trái non. - Nhộng Nhộng dài từ 18-20 mm, màu nâu hoặc nâu tối. Cuối bụng có một đôi gai ngắn, thời gian nhộng từ 7-10 ngày. - Thành trùng + Ngài có chiều dài thân từ 20-25 mm, sải cánh rộng từ 35-45 mm. Cánh trước màu nâu vàng. Phần giữa từ cạnh trước cánh đến cạnh sau cánh có một vân ngang rộng, màu trắng. Trong đường vân trắng này có 2 đường vân màu nâu. Cánh sau màu trắng óng ánh. + Ngài thường vũ hóa vào buổi chiều tối và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày ngài đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ. Ngài hoạt động từ tối đến nữa đêm. Ngài bay rất mạnh, có khi bay xa đến vài chục mét và bay cao đến 6-7 m. + Sau khi vũ hóa vài giờ ngài có thể bắt cặp và một ngày sau đẻ trứng. Con cái đẻ 100-300 trứng ở mặt dưới lá của cây ký chủ, thành trùng cái gặp điều kiện thuận lợi có thể đẻ 1000-2000 trứng. 3. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ - Tiến hành cài bừa, phơi ải kỹ đất trước khi trồng rau, kết hợp làm cỏ xung quanh bờ ruộng để tiêu diệt chỗ ẩn náo của thành trùng. Có thể cho ruộng ngập nước 2-3 ngày để diệt nhộng. - Phát hiện và tiêu diệt ổ trứng sâu. Phun thuốc khi sâu còn nhỏ để tiêu diệt sâu hiệu quả nhất. - Sử dụng luân phiên nhiều loại thuốc để tránh làm sâu kháng thuốc. Nên phun thuốc bảo vệ cây con khi vừa xuống giống, tránh thất thoát cây giống.  Các sản phẩm trừ sâu, rầy Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Bọ dưa Quản lý sâu hại trên cây ớt Rầy phấn trắng    
Cách thụ phấn bổ sung cho Cây Na sai quả
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Cách thụ phấn bổ sung cho Cây Na sai quả
CÁCH THỤ PHẤN BỔ SUNG CHO CÂY NA SAI QUẢ       Cây Na rất nhiều hoa nhưng tỉ lệ đậu quả thấp, do nhị đực và nhụy cái thường nở lệch pha nhau. Do nhị đực nở trước, phấn tung rất lâu sau đó nhụy cái mới nở quả do đó quả đậu ít, thường nhờ côn trùng thụ phấn. Muốn cho Na sai quả, quả to không bị lép, chất lượng tốt thì cần phải thụ phấn bổ sung bang tay cho Na. 1. CHUẨN BỊ DỤNG CỤ THỤ PHẤN CHO HOA CÂY NA - “Ống nhựa lấy phấn hoa” có đường kính khoảng 3,5 mm. Có thể sử dụng ống hút uống sữa có kích thước đường kính tương đương. Cắt ống có chiều dài 6-8 cm, tiến hành cắt răng cưa ở 2 đầu ống nhựa, chiều sâu răng cưa khoảng 1 mm, để thuận tiện cho việc lấy phấn hoa. - “Ống nhựa đựng phấn hoa mang đi thụ”: Chọn ống nhựa có đường kính khoảng 4,5 mm. Chiều dài ống khoảng 8 cm. - “Ống tre đẩy hạt phấn hoa” thụ phấn cho cây Na: Vót ống tre thành 2 phần, một phần là tay cầm và một phần có kích thước nhỏ hơn ống nhựa đựng phấn hoa. Sao cho phần ống tre có kích thước vừa lòng trong của ống đựng phấn hoa mang đi thụ và cho chiều dài ngắn hơn khoảng 1,5 mm. 2. CÁCH LẤY PHẤN HOA CHUẨN KỸ THUẬT - Việc lấy phấn hoa tốt nhất vào chiều mát 16 - 17 giờ hoặc sáng sớm từ  6 – 8 giờ sáng. - Nếu cần thụ phấn với lượng hoa nhiều để tăng hiệu suất thụ phấn cho hoa, có thể tập trung lấy hoa Na vào ngày hôm trước rồi lấy phấn hoa tập trung thụ phấn vào hôm sau. Hoặc có thể lấy phấn xong tiến hành thụ phấn luôn, phương pháp này hiệu quả thụ phấn cao, nhưng hiệu suât thụ phấn kém hơn (không thụ phấn được nhiều hoa). - Cách lấy phấn hoa tập trung: Vào thời điểm lấy phấn hoa tốt nhất tiến hành hái các hoa hé nở (3 cánh chuyển sang màu trắng ngà vàng và tách khỏi nhau), hoa mọc ở đầu cành, nên chọn hoa to để chất lượng hạt phấn và số lượng hạt phấn nhiều. Sau khi lấy hoa xong đem gói vào giấy báo đậy kín để qua một đêm. Sáng hôm sau tháo ra lấy hết cuống cánh hoa, còn phần nhị phấn rơi trên mặt báo. Dồn phấn hoa vào ống nhựa đã chuẩn bị ở trên (1) và có thể đem đi thụ phấn cho cây Na. - Cách lấy phấn hoa đơn lẻ: hái các hoa hé nở ở đầu cành, hoa to. Tiến hành hái hết cánh hoa, để lộ phần nhị hoa. Lấy ống nhựa lấy phấn, đưa phần răng cưa vừa vào vị trí phấn hoa xoay nhẹ nhàng, phấn hoa rơi trên mặt báo. Dồn phấn hoa có thể mang mang đi thụ phấn ngay là tốt nhất. 3. CÁCH THỤ PHẤN CHO CÂY NA ĐẬU QUẢ - Thời điểm thụ phấn tốt nhất từ 18h hôm trước đến 9h sáng hôm sau. - Cách thụ phấn: Lấy “ống nhựa đựng phấn hoa mang đi thụ”, cho hạt phấn vào đầy ống nhựa (chuẩn bị ở mục 2). Chọn thụ phấn các hoa bên trong thân là chất lượng quả đậu sau này có giá trị năng suất nhất. Tiến hành thụ khi hoa bắt đầu hé nở, đưa ống nhựa đựng hạt phấn vào bên trong phần nhụy hoa đẩy nhẹ ống tre lên phía trên, phấn hoa nhẹ bám dính vào phần nhụy rồi rút ống nhựa ra khỏi hoa. Sau khi thụ phấn xong có thể bấm cánh hoa để đánh dấu hoa đã được thụ phấn, tránh nhầm lẫn hoa chưa được thụ phấn. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Cách xử lý cây Na ra quả trong thân và Na gối Cách tỉa cành – tạo tán cho cây Na    
Cách xử lý cây Na ra quả trong thân
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Cách xử lý cây Na ra quả trong thân
CÁCH XỬ LÝ CÂY NA RA QUẢ TRONG THÂN       Trong quá trình chăm sóc cây Na có rất nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất và chất lượng quả như: tỉa cành tuốt lá, thụ phấn bổ sung kết hợp chăm sóc bón phân hợp lý. Song song đó, kỹ thuật xử lý cho Na ra quả trong thân đang được nhiều nhà vườn áp dụng, bình thường những cây ra quả đầu cành khoảng 125 - 130 ngày cho thu hoạch thì những quả xử lý ra quả trong thân chỉ khoảng 90 - 95 ngày đã cho thu hoạch. Áp dụng kỹ thuật này cũng đã tăng tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng mỗi quả na lên 300 - 400g  (so với trước đây 200g). Quả Na dai to, đẹp hơn, để được lâu hơn khi quả đã chín khoảng 5 – 7 ngày. QUY TRÌNH XỬ LÝ CÂY NA RA QUẢ TRONG THÂN - Bước 1: Tạo mầm chồi trong thân + Việc này được tiến hành sau khi thu hoạch cắt tỉa hết các cành, thu gọn tán cây Na. Thời điểm đốn cành vào khoảng tháng 9-10 dương lịch hàng năm. Tạo mầm chồi trong thân + Càng thu gọn tán thì tỷ lệ bật mầm trong thân càng nhiều. Sau khi cắt tỉa tán cây xong tiến hành thu dọn tàn dư trong vườn sạch và phun thuốc trừ nấm bệnh lên thân cây để giúp các mắt trên thân sạch bệnh, tạo điều kiện cho mắt bật chồi khỏe. - Bước 2: Tỉa cành mầm chồi trong thân + Thời gian trung tuần tháng 9 -10 dương lịch. Thời tiết thu, không mưa, khi cây Na bắt đầu vàng lá và rụng đi thì đây là thời điểm thích hợp nhất để tiến hành tỉa hết cành tăm, cành sâu bệnh và bấm cành trong thân. + Tất cả cành tăm, cành sâu bệnh, cành nhỏ được cắt tỉa hết tạo độ thông thoáng cho cây Na. Những cành có sức sống thì để lại để xử lý quả trong thân. Lưu ý, chia đều khoảng cách giữa các cành trong thân để khi xử lý ra quả, để khoảng cách quả trong thân đều. Tỉa các cành tăm, cành sâu bệnh - Bước 3: Bấm cành vượt và các cành trong thân xử lý ra chồi mang hoa + Thời điểm trước tết 10 ngày hoặc tết âm lịch xong. + Tiến hành bấm các cành sát với thân càng ngắn càng tốt. Khoảng cách để lại sát cành tầm 1cm. Bấm cành trong thân còn khoảng 1cm + Trường hợp muốn rãi vụ thì có thể tiến hành lựa chọn quả chính. Sau đó khi quả phát triển có kích thước bằng cái chén thì tiến hành bấm cành bên để tạo mầm chồi mới mang hoa, Xử lý thụ phấn để tạo quả vụ sau. Mầm trong thân mang hoa * Lưu ý: Việc tỉa hoa, thụ phấn, đậu quả cần thực hiện sao cho số lượng quả để lại phù hợp với sức sống của cây. Tránh tình trạng để cây mang nhiều quả. Nếu để nhiều quả thì cây dễ bị suy kiệt, thậm chí vụ sau cây không thể ra hoa đậu quả. Cần cung cấp dinh dưỡng cho cây kịp thời giúp cây nuôi quả. Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Cẩm nang cây trồng - Hoa quả sạch Hữu Lũng Bài viết liên quan Cách tỉa cành - tạo tán cho cây Na Đặc điểm thực vật Cây Na    
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA