KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Vai trò của Naphthalene Acetic Acid (NAA) trên cây trồng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Vai trò của Naphthalene Acetic Acid (NAA) trên cây trồng
VAI TRÒ CỦA NAPHTHALENE ACETIC ACID (NAA) TRÊN CÂY TRỒNG - Naphthalene Acetic Acid (NAA) là chất điều hòa sinh trưởng thực vật tổng hợp thuộc nhóm Auxin có công thức phân tử là C10H7CH2COOH. Công thức hóa học của NAA - Hiện nay, NAA được sử dụng rộng rãi trong canh tác cây trồng. NAA có tác dụng nhiều mặt lên quá trình sinh lý của cây trồng như hình thành rễ, chồi ngọn, sự già của lá, sự rụng lá, quả, sự ra hoa, sự hình thành quả, kéo dài tế bào, phát triển mô. 1. Vai trò của NAA đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng - Kích thích mạnh lên sự giãn nở của tế bào làm cho tế bào phình to ra, đặc biệt theo hướng ngang của tế bào. Sự giãn dài của tế bào tạo nên sự tăng trưởng của các cơ quan và toàn cây. - Kích thích sự hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan dinh dưỡng. Do vậy, NAA được sử dụng trong kỹ thuật nhân giống vô tính cây trồng để kích thích nhanh sự ra rễ cho cành giâm, cành chiết, nuôi cấy mô… - Điều chỉnh sự hình thành, sự sinh trưởng của quả và tạo quả. Có vai trò quan trọng trong việc tạo quả không hạt. - Một số nghiên cứu cho thấy NAA kết hợp Gibberellin thường thúc đẩy sự nảy mầm và tăng trưởng của phấn hoa in vitro. Việc xử lý NAA có thể làm thay đổi giới tính của hoa trên một số loài cây, khi xử lý NAA đã làm tăng số lượng hoa cái trên họ bầu bí, và làm tăng số lượng hoa đực trên cây chôm chôm. - Vai trò của NAA đối với sự phát triển của cây trồng tùy thuộc vào loại cây và nồng độ xử lý. - Sự rụng của hoa, lá, quả là do sự hình thành tầng rời ở cuống, cắt rời cơ quan khỏi cơ thể. NAA có hiệu quả rõ rệt trong việc ức chế sự hình thành tầng rời vốn được cảm ứng hình thành bởi các chất ức chế sinh trưởng, do đó nó có thể kìm hãm sự rụng của lá, hoa và của quả. Việc xử lý NAA để ngăn ngừa rụng trái non, tăng tỉ lệ đậu trái và góp phần tăng năng suất quả. - NAA kìm hãm, làm chậm sự chín của quả, vì vậy trong trường hợp muốn quả chậm chín có thể xử lý NAA cho quả xanh trên cây hoặc sau khi thu hoạch. 2. Một số ứng dụng của NAA trong nông nghiệp - Phun Bo nồng độ 100-150 ppm (3-5 ngày trước khi hoa nở) kết hợp với NAA 20 ppm (3-5 ngày trước khi hoa nở) hay phun 2 lần NAA 40 ppm có hiệu quả cải thiện tỷ lệ đậu trái và năng suất xoài Ba Màu. - Xử lý 75 ppm NAA cho kết quả tốt ở hầu hết các chỉ tiêu như tổng số lá, trọng lượng tươi, trọng lượng khô của lá và rễ cao nhất, làm tăng số quả và chiều dài quả trên cây mè. - Xử lý NAA nồng độ 100 ppm trên 2 giống lúa MTL 560 và IR50404 cho năng suất hạt gạo cao nhất so với đối chứng không xử lý. - Xử lý NAA với nồng độ 40 ppm trên cây ớt cho kết quả năng suất cao nhất. - Phun NAA ở nồng độ 400 ppm trên cây quýt và cây ổi góp phần giảm sự rụng trái, tăng kích thước trái. - Phun NAA ở nồng độ 20 ppm trên nhãn Xuồng Cơm Vàng cho tỉ lệ rụng trái non thấp hơn so với đối chứng không phun ở giai đoạn 30 ngày sau khi đậu trái.     Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan PACLOBUTRAZOL - PHÂN BÓN ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG CÂY TRỒNG VAI TRÒ CỦA ĐẠM ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG VAI TRÒ CỦA LÂN (P) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG VAI TRÒ CỦA KALI (K) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG VAI TRÒ CỦA CALCIUM (CA) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG      
Bệnh thối nhũn trên cây thanh long
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh thối nhũn trên cây thanh long
BỆNH THỐI NHŨN TRÊN CÂY THANH LONG     Tác nhân gây thối nhũn do Erwinia sp. 1. Triệu chứng thối nhũn - Triệu chứng thối nhũn biểu hiện đầu tiên là một vùng mất màu, mọng nước, sau đó lan rộng ra nhanh chóng do sự chết của tế bào. Vùng bị nhiễm trở nên mềm nhũn ra và bề mặt trở nên thối nhũn. - Mô bên trong vùng bị nhiễm có màu như kem và nhầy nhụa, tan chảy trong một khối chât nhầy của tế bào cây bị phá vỡ và vi khuẩn gây bệnh. - Mặt ngoài của vùng nhiễm bệnh có thể vẫn còn giữ được trạng thái nguyên vẹn trong khi bên trong thì các mô đã chuyển đổi hoàn toàn thành một khối chất nhầy nhụa, khối chất này từ từ rịn ra bên ngoài qua những khe hở trên bề mặt vết bệnh, khi ra ngoài không khí chúng sẽ chuyển sang màu hơi nâu hoặc nâu đậm. 2. Cơ chế gây bệnh, lưu tồn và lan truyền - Vi khuẩn Erwinia tiết ra một số enzyme như: Pectase, lysase, polygalacturonase, cellulase và proteinase để phân hủy vách tế bào cây ký chủ và tấn công gây bệnh. - Vi khuẩn Erwinia tồn tại qua mùa đông trong tàn dư thực vật nhiễm bệnh và sẽ gây bệnh cho cây trồng vào mùa sau. Luân canh với cây trồng không phải ký chủ của Erwinia sẽ hạn chế được bệnh do vi khuẩn gây ra trong mùa vụ sau, do vi khuẩn không thể tồn tại trong đất một khoảng thời gian dài mà không tìm được cây ký chủ để xâm nhiễm. - Vi khuẩn lan truyền dựa vào nước mưa, nước tưới, đất, côn trùng và xâm nhiễm vào cây qua vết thương cơ giới, vết thương tự nhiên do gió, côn trùng cắn phá. 3. Biện pháp phòng trị - Chọn giống sạch bệnh. - Luân phiên với cây trồng không phải là ký chủ của vi khuẩn Erwinia gây ra. - Thu gom và xử lý tàn dư thực vật của vụ trước. - Trồng cây theo hàng để tạo điều kiện thông thoáng trong vườn. - Sử dụng các loại thuốc có hoạt chất đặc trị vi khuẩn để phòng trừ như: Ningnanmycin (PYRAMOS 40SL) , Kasugamycin (KASUDUC 20SL),…   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH ĐỐM TRẮNG TRÊN THANH LONG QUẢN LÝ BỆNH HẠI SẦU RIÊNG BỆNH HẠI CAM, QUÝT BỆNH HẠI CHUỐI        
Bệnh thối đỏ trên cây mía (Mía rượu)
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh thối đỏ trên cây mía (Mía rượu)
BỆNH THỐI ĐỎ TRÊN CÂY MÍA - Tác nhân: do nấm Colletotrichum falcatum Went. - Triệu chứng + Bệnh gây hại chủ yếu ở mía lớn, cây mía bị bệnh còn được gọi là mía rượu. + Bệnh xuất hiện trên thân, lá và gân mía. + Trên thân: Khi chẻ thân mía ra thấy có vết nâu đỏ theo mạch dẫn có mùi rượu. Số lượng không nhiều, có khi liên tiếp mấy đốt hình dáng giống như con thoi, về sau vết đỏ phát triển mạnh, cả đốt trở nên đỏ thẩm. + Trên lá: Bệnh xuất hiện ở gân chính trong lòng máng, sống lá. Ban đầu vết bệnh là một điểm nhỏ màu hồng sau lan rộng dọc theo gân chính có hình bầu dục dài, đôi khi chỉ là 1 vệt dài 5-6 cm có màu đỏ huyết. Mô bệnh dễ vỡ, nứt, rách lá và gãy dập chỗ bị bệnh. + Bệnh lây qua gió, vết thương cơ giới, côn trùng đặc biệt là sâu đục thân. - Cách phòng trị + Xử lý hom bằng nước ấm 2 sôi 3 lạnh trong 2 giờ. + Dùng giống kháng. + Thu hoạch sớm trong trường hợp bị bệnh tấn công nghiêm trọng. + Trừ sâu đục thân mía ví chính vết sâu đục tao điều kiện cho nấm bệnh phát triển. + Sử dụng thuốc BVTV để phòng ngừa như Mancozed, AVIANDO 50SC, AMITY TOP 500SC     Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH RỈ SẮT TRÊN CÂY ĐẬU NÀNH BỆNH ĐỐM TRẮNG TRÊN THANH LONG BỆNH HẠI CHUỐI      
Vai trò của Calcium (Ca) đối với cây trồng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Vai trò của Calcium (Ca) đối với cây trồng
VAI TRÒ CỦA CALCIUM (Ca) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG - Calcium (Ca) rất cần thiết cho sự tăng trưởng của cây trồng, tốc độ tăng trưởng giảm khi cắt nguồn cung cấp Ca cho cây. - Calcium là một nguyên tố hóa trị 2 tương đối lớn. Tốc độ hấp thu của Ca vào trong tế bào rất hạn chế và dường như được liên kết một cách rời rạc trong quá trình biến dưỡng. - Trong cây, Ca có tác động như một chất giải độc, trung hòa các acid hữu cơ trong tế bào giúp tăng cao pH trong tế bào. - Calcium đóng vai trò là cầu nối giữa các thành phần hóa học của chất nguyên sinh nối giữa AND và protein trong nhân, ARN và protein trong riboxom hoặc giữa các nucleotit với nhau. Vì vây, Ca có vai trò ổn định cấu trúc không gian của các bào quan trong tế bào ảnh hưởng đến cấu trúc cũng như tính thấm của màng tế bào. - Tham gia hoạt hóa nhiều enzyme liên quan đến quá trình sinh tổng hợp, các quá trình trao đổi chất khác như sự sinh trưởng kéo dài tế bào, quá trình quang hợp, các quá trình vận chuyển khác. - Trên cây bắp, Ca giúp thành lập vách tế bào và trung hòa các acid hữu cơ, Ca cần cho sự hoạt động của những phản ứng biến dưỡng. * Dạng Ca cây trồng hấp thụ - Calcium được cây trồng hấp thu từ dung dịch đất dưới dạng ion Ca2+. Nồng độ Ca của bề mặt trái đất vào khoảng 3,64%. Hàm lượng Ca trong đất thây đổi tùy theo loại đất. Điển hình, trên đất cát có hàm lượng Ca thấp. * Thiếu Ca - Ca2+ hầu như không di chuyển trong mô libe và kết quả là triệu chứng thiếu thường được phát hiện trên những mô non. - Cây trồng thiếu Ca có thể do 2 nguyên nhân: Do bón nhiều K hay N, đất thiếu Ca hay Ca ở dạng không hòa tan. - Thiếu Ca vách tế bào dễ bị phá vỡ, các mô non mới được hình thành dễ bị tổn thương, bìa của lá bị uốn cong vào trong, các cơ quan mới được hình thành (như lông hút, rễ non) sẽ dễ bị rụng, đỉnh sinh trưởng, đỉnh sinh trưởng của cây bị khô khi thiếu nặng. - Thiếu Ca sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành ống phấn, ảnh hưởng đến sự thụ tinh tạo quả, tạo hạt, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. - Thiếu Ca sẽ bị ngộ độc các nguyên tố vi lượng như Mg2+, K+, NH4+. - Thiếu Ca còn làm làm thối đít trái trên một số cây rau ăn quả và cây ăn trái. * Một số triệu chứng thiếu Ca trên cây trồng Thiếu Ca trên cây ớt Thiếu Ca trên cây dưa leo Thiếu Ca trên cà chua Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan VAI TRÒ CỦA ĐẠM ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG VAI TRÒ CỦA LÂN (P) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG VAI TRÒ CỦA KALI (K) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG
Vai trò của Kali (K) đối với cây trồng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Vai trò của Kali (K) đối với cây trồng
VAI TRÒ CỦA KALI (K) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG    Kali là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng thứ ba đối với cây trồng (sau đạm (N) và lân (P)). Kali được cây hấp thu với số lượng lớn hơn các nguyên tố khác, ngoại trừ đạm (N). - Vai trò của Kali trong đời sống cây trồng + Làm tăng tính chống chịu hạn của cây bởi sự điều chỉnh đóng mở khí khổng trong lá. + Là thành phần liên kết với độ cứng chắc của cây làm giảm đỗ ngã, làm tăng cường khả năng đẻ nhánh trên lúa. + Kích hoạt hơn 60 enzyme ảnh hưởng sự trao đổi chất. + Kích hoạt quang hợp và biến đổi các đường thành tinh bột và cellulose, làm tăng số hạt và hạt chắc trên cây lúa cũng như chất lượng trái cây. + Giúp vận chuyển dinh dưỡng trong cây, tăng protein, tinh bột và hàm lượng đường trong cây, cũng là thành phần kháng lại bệnh cây trồng. + Cải thiện chất lượng nông sản, cũng như giúp gia tăng chất lượng và thời gian bảo quản sau thu hoạch.    Người ta nói “phân đạm là dưỡng chất làm gia tăng năng suất cây trồng quan trọng nhất, nhưng kali là dưỡng chất có tầm quan trọng trong việc ổn định năng suất”. - Dạng hấp thụ của cây trồng    Cây trồng hấp thu Kali dưới dạng K+. Dạng này chỉ chưa một lượng nhỏ từ 0,1-2 % trong dung dịch đất mà cây trồng có thể hấp thụ được. Còn lại là 90-98% Kali không hữu dụng và 1-10 % Kali hữu dụng chậm. * Thiếu Kali + Cây trồng thiếu kali thường có triệu chứng như sau: + Cây trở nên còi cọc và hệ thống rễ phát triển kém. + Triệu chứng thiếu hụt thường được quan sát trên lá già hay những lá dưới thấp vì K rất dễ chuyển vị trong cây trồng. Triệu chứng thiếu K thường xuất hiện bắt đầu ở chóp lá và rìa lá màu vàng đến cháy khô (theo hình chữ V úp). Vết cháy lan dần vào phía trong cho đến khi lá cháy khô và rụng. + Sự thiếu hụt nhiều K có thể làm cho lá rụng nhiều, do đó giảm khả năng quang hợp tạo carbohydrate, tinh bột và có thể gây giảm năng suất trong trường hợp thiếu K nặng. + Đặc biệt lúa và bắp rất dễ ngã và lốp đỗ khi thiếu K. Sự thiếu hụt nghiêm trọng K có thể làm rụng cả lá chưa trưởng thành, trì hoãn sự chín và cuối cùng gây chết cây. * Một số triệu chứng thiếu Kali (K) trên cây trồng Thiếu Kali trên cà chua Thiếu Kali trên cây bắp Thiếu Kali trên cây lúa Thiếu Kali trên cây cà phê Thiếu Kali trên cây đậu nành   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan VAI TRÒ CỦA ĐẠM ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG VAI TRÒ CỦA LÂN (P) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG DINH DƯỠNG LÚA PHÂN BÓN ACID HUMIC
Vai trò của lân (P) đối với cây trồng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Vai trò của lân (P) đối với cây trồng
VAI TRÒ CỦA LÂN (P) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG    Phân lân (P) là loại phân cần thiết cho cây trồng, chỉ xếp thứ hai sau phân đạm (N) về số lượng được bón cho cây trồng hằng năm. - Vai trò của lân (P) đối với cây trồng + Lân là thành phần cấu tạo của acid nucleic, nucleo-protid, phosphatid, glucophosphat, phytin, các hợp chất muối, men và các vitamin. + Chất lân tham gia cấu tạo năng lượng của tế bào sống (ADP, ATP), giúp hệ thống rễ phân nhánh và ăn sâu, cây tăng trưởng nhanh, chống chịu hạn tốt. + Lân cũng rất cần thiết cho một vài phản ứng sinh hóa như quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và một vài chuyển hóa khác cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. + Lân rất cần thiết trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng của thực vật cũng như đóng vai trò chuyển hóa năng lượng biến dưỡng trong suốt mùa vụ. + Lân giúp rễ cây phát triển mạnh, ăn sâu lan rộng, giúp cây đứng vững, hút được nhiều nước và dưỡng chất khác trong đất. Thúc đẩy việc ra rễ bên đặc biệt là lông hút. + Lân rất cần thiết cho kích thích sự phát triển của rễ non vào giai đoạn cây con và lúc cây ra hoa, kết trái sớm, trái lớn và chắc hạt.         + Hàm lượng lân thường tập trung nhiều trong hạt và trái và ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành hạt. + Lân làm tăng cường  khả năng hút đạm (N) do nó có tác dụng chống chế độ độc của lượng đạm khoáng, tăng cường chuyển hóa đạm thành protid. - Dạng lân cây trồng có thể hấp thụ + Cây trồng hấp thụ P chủ yếu dưới hai dạng HPO42- và H2PO4-. Tuy nhiên, ở hầu hết đất nông nghiệp thì các ion này tồn tại ở mức rất thấp (dưới 1% của tổng lượng P trong đất). *  Thiếu lân + Sự thiếu hụt lân ảnh hưởng mạnh mẽ đến tỷ lệ tăng trưởng của cây và năng suất cây trồng. + Thiếu lân kéo dài cây trồng lùn đi và lá có màu xanh đậm bất thường, nghiêm trọng hơn mặt dưới lá hay dọc theo gân lá có màu tím do tích tụ anthocyanin. + Thiếu lân cây đẻ nhánh chậm, thậm chí không đẻ nhánh được, hệ thống rễ phát triển kém và ngắn, ít hoa, thụ phấn kém, năng suất và phẩm chất giảm. * Thừa lân + Lân (P) không bị rửa trôi trong đất, nên chính vì vậy mà không cần bón nhiều lân. Bón nhiều lân không nhứng làm tăng chi phí sản xuất mà còn hạn chế sự hấp thụ của một số dưỡng chất vi lượng khác. + Điển hình bón thừa lân dễ gây thiếu kẽm. Một số hình ảnh cây trồng bị thiếu lân (P) Thiếu lân trên cây bắp Thiếu lân trên cây đậu nành Thiếu lân trên lúa Thiếu lân trên một số cây trồng khác   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan VAI TRÒ CỦA ĐẠM ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG DINH DƯỠNG LÚA DINH DƯỠNG BO ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG  
Vai trò của đạm đối với cây trồng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Vai trò của đạm đối với cây trồng
VAI  TRÒ CỦA ĐẠM (N) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG - Đạm là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho các loại cây trồng vì đó là thành phần chủ yếu của protein, axit nucleic, nhất là của protein nhân chiếm khoảng 40-75% chất khô của nguyên sinh chất, đạm còn là cơ cấu của diệp lục tố, pyrimidine và purin. - Đạm giữ vai trò quan trọng đối với việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh, nảy chồi và cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của thân và lá. Đạm không những ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, mà còn ảnh hưởng đến chất lượng (hàm lượng protein, hàm lượng đường) của từng loại cây trồng. - Thực vật hấp thu đạm chủ yếu từ đất dưới hai dạng là NH4+ và NO3-. Sự hấp thu và đồng hóa đạm cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng quan trọng không kém so với quá trình quang hợp. - Thiếu đạm cây sinh trưởng còi cọc, trên lá xuất hiện màu xanh nhợt đến vàng nhạt, bắt đầu từ chóp lá, tiếp đó cây bị rụng lá hoặc chết tùy mức độ thiếu. - Thừa đạm lá cây có màu xanh đậm, lá nhiều nhưng số rễ hạn chế, làm giảm phẩm chất trái, làm giảm khả năng chống chịu bệnh và điều kiện bất lợi của thời tiết, làm chậm quá trình hình thành cơ quan sinh sản. Đạm dư thừa có khả năng tích lũy trong cây (đặc biệt là rau) dưới dạng NO3 hay NO2 gây ngộ độc mãn tính cho người tiêu thụ. * Triệu chứng thiếu đạm Thiếu đạm trên cây bắp Thiếu đạm trên cây cam Thiếu đạm trên cây lúa * Triệu chứng thừa đạm Ruộng lúa bị đỗ ngã do thừa đạm Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan PACLOBUTRAZOL - PHÂN BÓN ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG CÂY TRỒNG DINH DƯỠNG LÚA PHÂN BÓN ACID HUMIC
Bệnh rỉ sắt trên cây đậu nành
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh rỉ sắt trên cây đậu nành
BỆNH RỈ SẮT TRÊN CÂY ĐẬU NÀNH    Bệnh xuất hiện khắp các vùng trồng đậu nành trên thế giới. Ở Thái Lan, trên các giống nhiễm, năng suất có thể bị giảm 10-40% và trên các giống nhập nội, năng suất có thể bị mất trắng. Ở ĐBSCL, bệnh xuất hiện khắp các vùng trồng trồng đậu nành và trên các hết các giống, rõ nét nhất là ở giai đoạn cây ra hoa tạo trái. 1. Tác nhân: Bệnh do nấm Phakopspora sojae, thuộc lớp nấm Đảm (Basidiomycetes) 2. Triệu chứng - Bệnh có thể xuất hiện trên lá, thân và trái, chủ yếu là ở lá. - Vết bệnh đầu tiên là những đốm nhỏ lấm chấm như đầu kim, rải rác đều trên mặt lá, màu nâu, dạng tròn, sau đó phát triển thành dạng có góc cạnh, kích thước tối đa khoảng 1 mm. - Vết bệnh phát triển gồ gề trên mặt lá, mặt dưới cao hơn, vết lồi này chứa các cơ quan sinh sản là bào tử, bệnh nặng các vết bệnh liên kết lại với nhau làm cháy thành từng mảng, lá khô và dễ rụng. - Bệnh phát triển trong suốt giai đoạn sinh trưởng của cây đậu. Đặc biệt, bệnh gây hại nặng ở giai đoạn trước trổ bông, khi cây đậu nành có từ 3 lá kép. Trong giai đoạn trổ bông –kết trái về sau, bệnh phát triển rất mạnh và rõ nét, tốc độ xâm nhiễm và lây lan rất nhanh. Bệnh càng nặng thì lá cây càng vàng nhanh và rụng sớm. Đôi khi có thể bị héo rũ đột ngột. - Bệnh có thể lan truyên đi rất xa nhờ gió, bão và con người. 3. Phương pháp phòng trị - Vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy cây bị bệnh. - Luân canh với lúa nước hoặc các loại cây hòa thảo. - Có thể phun các loại thuốc: Aviando 50SC, Titt gold … Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH HẠI CAM, QUÝT NGUYÊN NHÂN GÂY VÀNG LÁ TRÊN RAU HÚNG QUẾ BỆNH ĐỐM TRẮNG TRÊN THANH LONG  
Kỹ thuật trồng cây khoai lang
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng cây khoai lang
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KHOAI LANG 1. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển - Khoai lang được nhân giống bằng thân (dây) hay từ mầm củ, rất ít khi nhân giống bằng hạt. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của cây khoai lang khoảng 20-30oC. Thời gian từ khi trồng cho đến khi thu hoạch kéo dài từ 3-10 tháng, tùy theo giống và điều kiện nhiệt độ. - Mỗi năm có thể trồng 2 vụ khoai lang, thời gian xuống giống tùy theo tập quán canh tác của từng vùng. Vụ sớm: khoảng tháng 11-12 dương lịch, thu hoạch vào tháng 2-3. Vụ muộn: vào tháng 4-5  dương lịch, thu hoạch vào tháng 7-8. - Đời sống cây khoai lang có 2 giai đoạn: (1) giai đoạn phát triển rễ sợi, thân, lá và (2) giai đoạn hình thành và phát triển củ. 2. Kỹ thuật canh tác a/ Chọn giống - Khoai lang hiện nay có một số giống được trồng phổ biến như: khoai lang tím Nhật, trắng sữa, trắng giấy, bí đường, dương ngọc, có phẩm chất ngon, năng suất cao. - Hiện nay, ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đa số hộ nông dân trồng khoai lang tím Nhật. Vì loại này phù hợp với thổ nhưỡng, năng suất cao và có thị trường tiêu thụ. b/ Kỹ thuật làm đất - Khoai lang có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất nhẹ hoặc đất thịt pha cát, tơi xốp, thấm và thoát nước tốt, thích hợp trồng luân canh với cây lúa cung cấp nhiều chất hữu cơ cho đất. - Đất được cày bừa kỹ để nhặt hết cỏ và đảm bảo đất tơi xốp. Trước khi gieo trồng đất phải được lên thành nhiều luống, mỗi luống rộng 80-90 cm, cao 40-50 cm và mương nước rộng 50-60 cm để dễ thoát nước. - Lên luống và bón phân lót: Lên luống kết hợp với bón phân lót ở giữa luống với độ cao cách đáy luống bằng khoảng 2/3 độ cao luống. c/ Gieo trồng - Trồng lúc trời mát, đất ẩm, hom sẽ mau hồi phục, hướng trồng từ Đông sang Tây. Trồng hàng đơn hoặc hàng đôi, mật độ trồng 1400-2000 hom/công. Khi trồng vùi 2/3 đoạn dây giống ở giữa dọc theo luống và nối đuôi nhau (hàng đơn), nếu hàng đôi đặt dây giống thành 2 hàng song song cách nhau 30cm, khoảng cách nối giữa các hom trên 2 hàng phải xen kẻ nhau. d/ Bón phân - Phân bón tính cho 1 ha: 10 tấn phân chuồng + 90kg N + 60kg P2O5 + 90kg K2O. - Bón phân nên bón nhiều lần để tránh thất thoát, ít nhất là 3 lần bón như sau: + Bón lót: 100% phân chuồng + 100% phân lân + 30% phân đạm + 20% phân kali. Bón lót trước khi lên luống. + Bón thúc lần 1 (sau trồng 20-25 ngày): 50% phân Đạm + 30% phân Kali kết hợp với xới đất, làm sạch cỏ. + Bón thúc lần 2 (sau trồng 40-45 ngày): 25% phân Đạm + 30% phân Kali tiếp tục làm cỏ, xới đất để dây khoai có thể hấp thu chất dinh dưỡng tạo củ. e/ Chăm sóc - Trồng dặm: Sau trồng 5-10 ngày, nhằm đảm bảo mật độ cây, kết hợp làm cỏ kết hợp bón thúc, xới đất vun nhẹ, nhổ những cây bị bệnh để tránh lây lan. Thường xuyên giữ ẩm. - Bấm ngọn: Tiến hành chỉ 1 lần sau trồng khoảng 25-30 ngày để tăng cường sinh trưởng, phát triển thân lá giai đoạn đầu, tăng cường tích lũy phân hữu cơ, làm cho năng suất tăng từ 6-15%. - Nhấc dây: việc làm này thường được tiến hành song song với làm cỏ, thực hiện hai lần vào lúc 30-45 ngày và 60-75 ngày. Nhấc dây nhằm hạn chế không cho rễ phụ của các mắc trên thân phát triển, giúp dinh dưỡng tập trung ở củ và còn làm luống khoai thông thoáng. 3. Phòng trừ sâu bệnh - Thường xuyên thăm đồng phát hiện kịp thời sâu bệnh hại để có biện pháp phòng ngừa kịp thời. - Phòng trừ bọ hà và sâu đục củ vào các giai đoạn + Lần 1: Khi khoai được 45-50 ngày. + Lần 2: Khi khoai được 75-80 ngày. + Lần 3: Khi khoai được 105-110 ngày. 4. Thu hoạch    Khi dây khoai lang có biểu hiện ngừng sinh trưởng, nhiều lá chuyển sang màu vàng sáng, dấu hiệu cho việc tăng trưởng chậm lại, lá bắt đầu chậm phát triển và rụng nhiều, lúc này củ đã đạt kích thước mong muốn. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan SÙNG ĐỤC CỦ KHOAI LANG BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY KHOAI LANG KỸ THUẬT TRỒNG RAU XÀ LÁCH XOONG KỸ THUẬT TRỒNG DƯA HẤU  
Paclobutrazol - Phân bón điều hòa sinh trưởng cây trồng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Paclobutrazol - Phân bón điều hòa sinh trưởng cây trồng
PHÂN BÓN ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG­ - PACLOBUTRAZOL (PBZ) - Tên hóa học của PBZ là: (2RS, 3RS)-1- (4-chlorophenyl)-4,4-dimethylethyl-2-(1H-1,2,4-triazol-l-yl) pentan-3-ol và có công thức hóa học tổng quát là C16H20ClN3O. - PBZ là một chất làm chậm tăng trưởng thông qua ức chế quá trình sinh tổng hợp GA. PBZ có thể được hấp thụ qua lá, tán cây, thân và rễ, được di chuyển qua mô xylem đến bên dưới chồi sinh mô. Ở đó nó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp GA và làm chậm tốc độ phân chia tế bào, làm cho thực vật trở nên già cỗi hơn làm gia tăng việc sản xuất hoa và nụ trái. - PBZ là chất lưu dẫn có thể được mang lên bằng rễ, đi xuyên qua lỗ thân hoặc cả tế bào chết. PBZ di động trong mô xylem và di chuyển lên bằng sự thoát hơi nước. * Một số nghiên cứu ứng dụng Paclobutrazol lên cây trồng - Trên măng cụt: Xử lý ra hoa với paclobutrazol nồng độ 1500ppm kết hợp xiết nước 50 ngày và đậy nylon phủ gốc. - Trên cam soàn: Xử lý ra hoa bằng cách phun Paclobutrazol nồng độ 0,2% kết hợp khấc cành vào tháng 6 cho tỷ lệ ra hoa và năng suất cao gấp 2,17 lần so với tự nhiên. - Trên chanh tàu: Xử lý ra hoa với PBZ ở các nồng độ 500, 1000, 1500 ppm đều có tác dụng làm tăng tỷ lệ ra hoa. - Trên dâu Hạ Châu: Xử lý PBZ ở các liều lượng 0,5g a.i và 1g a.i/1 m đường kính tán cho thời gian ra hoa sớm hơn 8-14 ngày, giúp cây ra hoa tập trung, tăng tỷ lệ cành ra hoa, tăng số trái đậu. - Trên hoa lan Dendrobium: Bổ sung PBZ ở nồng độ 0,1mg/l làm gia tăng số lá và số chồi, nồng độ 0,05 mg/l làm gia tăng chiều cao trong môi trường nuôi cây mô. - Trên xoài: Sử dụng PBZ nồng độ 1-2g a.i/m đường kính tán (nồng độ thay đổi tùy độ tuổi của cây) để xử lý ra hoa mùa nghịch và giúp cây ra hoa đồng loạt trong mùa thuận. - Trên sầu riêng: Phun PBZ nồng độ 1000-1500 ppm để kích thích cây ra hoa mùa nghịch. - Trên chôm chôm: Phun PBZ ở nồng độ 400 ppm khi kết hợp với xiết nước và phủ gốc để kích thích cây ra hoa mùa nghịch. * Một số lưu ý khi sử dụng Paclobutrazol - Sử dụng đúng liều lượng khuyến cáo, sử dụng quá liều chùm hoa sầu riêng phát triển không kiễm soát, dị thường, phát hoa xoài bị chùn lại, phát triển không bình thường. - Liều cao sẽ ức chế mạnh đến việc hình thành các chất kích thích sinh trưởng nên cây trở nên suy kiệt, cháy lá, cằn cỗi. - Việc sử dụng quá liều gây ảnh hưởng bất lợi cho cây trồng thì việc lưu tồn trong đất và trong các bộ phận của cây cũng là một vấn đề quan trọng. Paclobutrazol có thể lưu tồn trong đất 3 tháng khi phun lên lá và lưu tồn 11 tháng nếu xử lý tưới vào đất. => Nên bổ sung dinh dưỡng đạm trong bón gốc vì chất đạm sẽ thúc đẩy hình thành các chất kích thích sinh trưởng, tăng cường phân hữu cơ để tái tạo nguồn vi sinh vật có ích, bổ sung vi lượng nhất là kẽm (Zn) với GA để hóa giải PBZ lưu tồn, thúc đẩy sinh trưởng và phục hồi lại sau thu hoạch. Một số sản phẩm nổi bật Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan XỬ LÝ RA HOA NGHỊCH VỤ CHO SẦU RIÊNG XỬ LÝ RA HOA XOÀI TRÁI VỤ XỬ LÝ RA HOA VÀ CHĂM SÓC CÂY VẢI GIAI ĐOẠN KINH DOANH CÁCH XỬ LÝ CÂY NA RA QUẢ TRONG THÂN    
Bệnh đốm trắng trên thanh long
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh đốm trắng trên thanh long
BỆNH ĐỐM TRẮNG TRÊN THANH LONG    Tác nhân do nấm Neoscytalidium dimidiatum 1. Triệu chứng - Bệnh đốm trắng còn được gọi là bệnh đốm nâu hay nám da tắc kè ở một số vùng do cây bệnh xuất hiện các đốm có màu từ trắng sau đó đến nâu, xuất hiện trên bề mặt thân, quả như là nám như da tắc kè. - Các triệu chứng phổ biến như: + Trên thân cành: Khi mới xuất hiện, triệu chứng ban đầu là các vết bệnh màu trắng, thành những đốm tròn nhỏ. Trong điều kiện thuận lợi bệnh phát triển mạnh, các vết bệnh liên kết với nhau thành các mảng sần sùi, gây thối. + Trên quả: tương tự như trên thân cành, những đốm màu nâu làm cho quả trở nên sần sùi, thối khô từng mảng. Bệnh nặng có thể gây nám quả, thối quả làm giảm giá thành. 2. Cơ chế gây bệnh - Với tốc độ lây lan nhanh và gây hại trên diện rộng, bệnh đã ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng quả. Bệnh phát sinh và lây lan trong điều kiện ẩm ướt, ẩm độ không khí cao, nhất là vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. - Bào tử nấm tồn tại trong đất thời gian dài, gặp điều kiện mưa ẩm sẽ nảy mầm trên bề mặt tiếp xúc với cây, đặc biệt là các vết loét do cơ học và côn trùng dễ dàng để chúng xâm nhập vào mô cây gây hoại tử làm chết cả cây. 3. Biện pháp phòng trị - Phát hiện sớm và tiêu hủy các cành bị bệnh. - Cần chú trọng phòng ngừa bệnh hại ngay từ ban đầu: + Rắc vôi khử trùng bề mặt đất + Khi phát hiện bệnh mới chớm xuất hiện sử dụng các loại thuốc có gốc đồng hoặc Mancozeb để phòng trị. Ví dụ: BioRosamil, Mancozeb Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan QUẢN LÝ BỆNH HẠI SẦU RIÊNG BỆNH HẠI CAM, QUÝT QUẢN LÝ BỆNH HẠI TRÊN CÂY XOÀI BỆNH HẠI CHUỐI      
Sâu tơ
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Sâu tơ
SÂU TƠ Plutella xylostella Linnaeus    Sâu tơ có tên khoa học là Plutella xylostella Linnaeus thuộc họ Ngài rau (Yponomeutidae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera). Sâu thường có tập tính nhả tơ buông xuống đất khi bị động nên còn gọi với tên là “sâu dù”. 1. Phân bố và ký chủ - Sâu tơ gây hại chủ yếu trên  cây rau họ thập tự như: cải bắp, bông cải trắng, bông cải xanh, cải bẹ trắng, cải bẹ xanh, cải dầu, cải thìa, cải tùa xại, cải xà lách xoong, cải xoăn,… - Ngoài ra, sâu còn phá hại trên khoai tây, cà chua,… 2. Đặc điểm hình thái và sinh học - Vòng đời - Trứng Trứng hình bầu dục, dẹp, màu vàng hoặc xanh nhạt, kích thước nhỏ 0,3-0,5 mm. - Ấu trùng + Ấu trùng sâu tơ có 4 tuổi. Cơ thể sâu nở to, thon nhọn ở hai đầu, phân đốt rõ rệt và có 3 đôi chân giả tính từ đốt bụng thứ 5, trên lưng có nhiều lông ngắn thẳng đứng. + Kích thước cơ thể tối đa từ 8-11 mm, phát triển trong khoảng từ 7-15 ngày. Trong đó, sâu tuổi 1 có màu trắng đục, dài 1,2-1,5 mm, phát triển 2-4 ngày. Sâu tuổi 2 màu xanh nhưng vẫn còn đục, dài 1,5-3,5 mm phát triển từ 1-3 ngày. Sang tuổi 3 sâu chuyển màu lục tươi với kích thước cơ thể từ 3,5-5,5 mm thời gian phát triển 1-3 ngày. Ở tuổi 4, sâu có màu xanh lục sậm hơn, dài 5,5-9 mm và thời gian phát triển từ 1-4 ngày. + Sâu phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ từ 20-30oC. Ấu trùng tuổi 1 thường ăn và lột xác dưới bề mặt lá. Trong suốt giai đoạn phát triển, nếu bị động sâu nhanh nhẹn lẫn trốn hoặc nhả tơ máng trên các lá ngọn của cây rau. Khi đạt kích thước tối đa, sâu tuổi 4 quay đầu về phía sau đuôi nhả tơ bao phủ phần đuôi đến phần đầu và lột xác lần cuối để hóa nhộng. - Nhộng + Nhộng có màu xanh nhạt, sau khoảng 2 ngày chuyển sang màu vàng nhạt, kích thước dao động từ 5-7 mm. Mắt rất rõ, kén mỏng và có hình thoi. Thời gian nhộng kéo dài từ 4-7 ngày. - Thành trùng + Thành trùng sâu tơ tương đối nhỏ, mảnh mai, dài 6-10 mm và có đôi râu rất linh hoạt. Cánh trước màu nâu xám có nhiều chấm nhỏ màu nâu, từ chân đến mép ngoài của cánh có một dải hình răng cưa gợn sóng. Cánh sau có rìa lông rất dài. Khi đậu đuôi cánh nhô lên cao giống hình máy nhà. Thời gian trống của thành trùng khá dài, 8-27 ngày đối với ngài đực và 6-26 ngày đối với ngài cái. - Tập quán sinh sống và gây hại + Thành trùng hoạt động vào ban đêm, mạnh nhất là khi trời bắt đầu tối đến nửa đêm, ban ngày ẩn ở mặt dưới lá, gốc rau hoặc cỏ. Khả năng bay của thành trùng rất kém, thông thường chỉ khoảng 2m trên mặt đất và thường di chuyển nhờ gió. Sự bắt cặp cặp có thể xảy ra ngay sau khi vũ hóa. Thời gian đẻ trứng 1-2 ngày sau khi bắt cặp. Mỗi ngài cái có thể đẻ 200 trứng. Phần lớn trứng được đẻ trước giữa đêm với cao điểm từ 7-8 giờ. Trứng được đẻ phân tán hay thành từng khóm từ 3-5 cái ở mặt dưới lá, hai bên gân hoặc chỗ lõm dưới lá. + Sâu tơ là loài gây hại nguy hiểm nhất ở cây họ thập tự. Sự phá hại của sâu chủ yếu ở giai đoạn cây con hoặc giai đoạn mới trồng. Chỉ có ấu trùng ăn lá và khi hiện diện ở mật số cao có thể làm giảm năng suất rõ rệt. + Sâu tuổi 1 đục một lỗ nhỏ ở dưới lá, xong chui đầu vào ăn nhu mô lá, chỉ chừa lại phần biểu bì. + Sâu tuổi 2 gặm ăn mặt dưới lá để lại lớp biểu bì mặt trên lá tạo thành những đốm trong mờ rất đặc trưng. Cuối tuổi 2, sâu gặm ăn tất cả biểu bì tạo những lỗ thủng trên lá. Khi mật số cao 100-300 sâu/cây cây có thể bị phá hại hoàn toàn.   3. Biện pháp phòng trừ - Vệ sinh đồng ruộng trước khi trồng vụ mới để giảm bớt mật số sâu. - Luân canh với cây không phải ký chủ như lúa, bắp,… - Xen canh với cà chua, cải lấy dầu,… nhằm hạn chế mật số sâu tơ, đồng thời làm tăng số lượng thiên địch trên đất canh tác. - Sử dụng luân phiên các loại thuốc trừ sâu để tránh sâu kháng thuốc.   - Các loại thuốc trừu sâu như: VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, B52 DUC 40EC, VDC PENALDUC 145EC Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỌ DƯA SÂU XANH DA LÁNG SÂU KHOANG, SÂU ĂN TẠP, SÂU KEO SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU)  
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA