KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Thiết kế mương líp cho vườn cây ăn trái
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Thiết kế mương líp cho vườn cây ăn trái
THIẾT KẾ MƯƠNG LÍP CHO VƯỜN CÂY ĂN TRÁI 1. Kích thước mương - Kích thước mương thường được quyết định tùy theo các yêu tố  như địa hình cao hay thấp, độ sâu của tầng sinh phèn, giống cây trồng và chế độ nuôi trồng xen trong vườn. - Bề mặt và chiều sâu của mương thường phụ thuộc chặt vào chiều cao của líp. Tỉ lệ mương/líp thường là ½. Chiều sâu mương từ 1-1,5 m tùy địa hình, tầng sinh phèn,… - Vách bên của mương (cũng như mặt bên của líp) luôn luôn phải có độ nghiên (tà ly) khoảng 30-45 độ để tránh sụp lở. Tỷ lệ mương chiếm khoảng 30-35 %. Trồng cỏ dọc theo bờ mương giữa đất hạn chế sụp lở là việc cần phải làm trong thiết kế xây dựng vườn. 2. Kích thước líp - Líp đơn: Ở những vùng đất có độ dày tầng canh tác mỏng, mùa mưa bị ngập sâu hay đất có phèn thì có thể thiết kế líp đơn để có đủ đất làm líp, giúp rửa phèn nhanh. Líp đơn thường rộng 4-5 m, trồng cây 1 hàng. - Líp đôi: Ở những vùng đất có tầng canh tác dày, ngập khộng sâu vào mùa mưa, đất tốt thì líp đôi thường được thiết kế. Líp đôi được dùng trồng 2 hàng, có khi 3 hàng (dạng tam giác, chữ ngũ). Chiều rộng líp thay đổi tùy loại cây, từ 6-12 m. Trong trường hợp muốn thoát nước nhanh trong mùa mưa có thể xen kẻ các rãnh nước nhỏ trên líp. Khi sử dụng líp đôi cần phải làm cho phần giữa líp cao hơn để tránh cho các hàng trồng giữa líp bị úng nước trong mùa mưa. - Chiều cao líp tùy thuộc vào độ sâu ngập sâu nhất trong năm, thường thì chiều cao líp thích hợp cho hầu hết các loại cây ăn trái ở ĐBSCL là cách mực nước cao nhất trong năm khoảng 30 cm. - Hướng líp + Cần xây hướng líp song song hay thẳng góc với bờ bao, để dễ dàng điều tiết nước trong vườn. Đối với các loại cây ưa trảng, nên bố trí líp theo hướng Bắc – Nam để nhận được nhiều ánh sáng, ngược lại bố trí theo hướng Đông – Tây cho những loại cây thích bóng râm. Cũng cần lưu ý là bố trí hướng líp song song với hướng gió để vườn thông thoáng, khô ráo, ít sâu bệnh. 3. Kỹ thuật lên líp - Lên líp theo lối cuốn chiếu (Hình 1) + Ở những vùng có lớp đất mặt tốt và lớp đất dưới không phèn thì kỹ thuật lên líp theo lối “cuốn chiếu” được áp dụng. + Đào lớp đất mặt mương để làm chân líp, sau đó trải lớp đất sâu làm mặt líp. Cách làm này đỡ tốn chí phí, tuy nhiên sau đó cần lên mô bằng đất tốt (dùng đất mặt ruộng, bãi sông, bùn mương phơi khô hay đất vườn cũ) để trồng, tránh gây ngộ độc cho cây con. Có thể trồng một vài bụi chuối, cây phân xanh trước khi trồng cây trồng chính. Hình 1: Lên líp kiểu cuốn chiếu - Lên líp theo lối kê đất (Hình 2) + Ở những vườn có lớp đất mặt mỏng, lớp đất dưới không tốt có phèn,.. thì có thể lên líp theo lối kê đất. + Đào lớp đất mặt ở mương thứ nhất đưa qua líp thứ nhất bên trái, sau đó đưa lớp sâu của mương thứ nhất trải lên làm chân líp thứ hai bên phải, tiếp đến lấy lớp đất mặt ở mương thứ hai trải lên làm mặt líp thứ hai. Lấy lớp đất sâu của mương thứ hai trải làm chân líp thứ ba và đào lớp đất mặt mương thứ ba trải làm mặt líp thứ ba. Tiếp tục như vậy cho đến líp cuối cùng. Hình 2: Lên líp theo lối kê đất - Lên líp theo băng (Hình 3) + Đào lớp đất mặt ở mương trải dài thành một băng ở giữa chạy dọc theo líp, sau đó đào lớp đất sâu của mương ốp vào hai bên băng. Cây được trồng ngay trên băng giữa líp. + Cần lưu ý đắp lớp đất ở hai bên băng luôn luôn thấp hơn mặt băng, để có thể rửa được các độc chất khi mưa, không thấm vào băng. Hình 3: Lên líp theo băng - Đắp mô: Trong trường hợp đắp thành mô thì lớp đất mặt được tập trung đắp thành các mô để trồng cây ngay sau khi thiết kế (kích thước, khoảng cách tùy theo loại cây trồng., phần đất xấu của mương được đắp vào phần còn lại của líp và thấp hơn mặt mô. (Hình 4) Hình 4: Đắp mô - Điểm quan trọng cần lưu ý khi đào mương lên líp là không nên đào mương sâu quá tầng sinh phèn (lớp đất sét màu xám xanh) vì sẽ đưa phèn lên líp gây độc cho cây. Công ty cổ phần BVTV Delta  
Phương pháp nhân giống vô tính trên cây ăn trái
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Phương pháp nhân giống vô tính trên cây ăn trái
PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH TRÊN CÂY ĂN TRÁI 1. Nhân giống bằng phương pháp chiết cành Là phương pháp làm cho một bộ phận của cây (thân, cành, rễ) ra rễ và hình thành một cá thể sống độc lập với cây mẹ. a/ Ưu điểm - Dễ làm, cây trồng giữ được đặc tính của cây mẹ - Thời gian nhân giống tương đối nhanh (1-6 tháng), mau cho trái. - Thích hợp cho những vùng đất thấp, mực nước ngầm cao vì hệ thống rễ mọc cạn. - Nhân được những giống không hột. b/ Khuyết điểm - Cây mau cỗi, dễ đỗ ngã hơn. - Số lượng giống nhân ra thường thấp. - Có thể mang theo mầm bệnh (nhất là bệnh do virus và vi khuẩn) từ cây mẹ. c/ Phương pháp chiết - Chọn cành chiết + Chọn cành từ những cây mẹ có năng suất cao, phẩm chất tốt, ổn định tính trạng. Cần chọn cành có tuổi sinh trưởng trung bình, không non, không già. Tuy nhiên, ở một số loại cây như sầu riêng, cần chọn cành con hơi non mới có khả năng ra rễ. Cành có từ 3 đến 4 nhánh phân bố đồng đều, đường kính khoảng 1-1,5 cm. - Chất độn bầu + Chất độn bầu phải đủ dinh dưỡng và giữ ẩm tốt. Thường dùng rễ lục bình, rơm rạ, bèo dâu, mạt cưa trộn đất, tro trấu, xơ dừa,… - Cách thực hiện + Dùng dao bén khoanh một đoạn vỏ trên cành dài khoảng 3-5 cm cách ngọn cành 0,5 - 1m. Lột hết phần vỏ được khoanh, cạo sạch lõi gỗ để tránh liền vỏ trở lại. + Dùng chất độn bầu bó chặt lại nơi khoanh, tạo thành một bầu hình thoi dài khoảng 8-10 cm, đường kính dài khoảng 5 cm om đều chung quanh cành. Dùng nylon trong để bao bên ngoài bầu chiết lại, mục đích là giữ nhiệt độ và ẩm độ tốt, giảm công tưới và dễ quan sát khi rễ mọc ra. Lưu ý giữ không để mối, kiến làm tổ ảnh hưởng đến rễ (Hình 1). - Cắt cành + Thời gian ra rễ nhanh, chậm tùy theo loại cây, tốt nhất là quan sát thấy trong bầu chiết có rễ cấp 2 mọc ra dài khoảng 2-3 cm thì cắt cành. Dùng cưa hoặc kéo bén cắt phía dưới bầu chiết cách khoảng 1-2 cm để hạ bầu xuống. Có thể đem trồng ngay, nhưng tốt hơn là giâm vào đất một thời gian để cho nhiều rễ giúp tăng tỉ lệ sống sau khi trồng. Hình 1: Chiết cành Chiết cành ổi 2. Nhân giống bằng phương pháp ghép - Chọn giống để nhân Chon cây mẹ là cây đầu dòng, chất lượng tốt. - Chon gốc ghép Chọn gốc ghép phải đồng đều, chọn hạt chắc mẩy ươm làm gốc ghép từ cây sạch bệnh, sung sức. Khi gốc ghép được 6-10 tháng tuổi có thể đem ghép lúc đó đường kính gốc ghép khoảng 1 cm, cây đã ra được 2 đợt lá là đem đi ghép được. - Điều kiện để tăng tỷ lệ ghép thành công + Cành ghép và gốc ghép đang ở tình trạng sung sức, đang lên nhựa, nẩy chồi, bắt đầu một đợt sinh trưởng mới. Nếu ghép mắt, cành ghép không lên nhựa thì khó và có thể không bóc được mảnh vỏ có mắt ghép. + Cành ghép và gốc ghép phải non hay tương đối non cây ghép mới dễ sống. Cần chuẩn bị gốc ghép có từ 6-24 tháng tuổi. Cành ghép cũng phải là cành non, 6-12 tháng tuổi, lấu ở cây còn trẻ. + Tầng sinh gỗ (mô phân sinh) của cành ghép phải tiếp xúc đều và chặt với tầng sinh gỗ của gốc ghép, đây là điều kiện cơ bản nhất để ghép thành công. Do đó, khi ghép không được để dính bụi bẩn, phải buộc chặt, che chắn tốt, không cho không khí và nước mưa ngấm vào làm chết mắt ghép.Các phương pháp ghép a/ Ghép áp - Thường được áp dụng ở Ấn Độ - Ở phương pháp này, gốc ghép áp được trồng bằng cách gieo hạt, ương trong bầu hoặc ương trên luống. Nếu ương trên luống thì khi đem đến cây mẹ để ghép phải ra bầu. Có người cẩn thận đánh cây giống lên, trồng đi trồng ại vài lần, cắt bớt rễ cọc cho rễ cám ra nhiều, làm như vậy khi trồng cây sẽ dễ sống. - Có thể ghép gốc ghép với cành ghép hoặc ghép 2 hoặc 3 cây lại với nhau. - Cách thực hiện: + Trên cả cành ghép và gốc ghép cắt lẹm vào vỏ lấy đi một ít gỗ dài 6-7,5 cm. Ở gốc ghép vết cắt cách mặt đất khoảng 20-22 cm. Sau đó buộc áp vào nhau.(Hình 2) + Có thế cắt cành (hoặc gốc ghép) và gốc ghép thành “lưỡi” có chiều ngược nhau, lồng chúng khít nhau và buộc lại. (Hình 3) + Sau khi vết ghép đã liền nhau, cành ghép phát triển tươi tốt, tiến hành cắt gốc của cành ghép và cắt cành của gốc ghép để tạo 1 cây hoành chỉnh. (Hình 4) Hình 2: Ghép áp Hình 3: Ghép áp "lưỡi" Hình 4: Cắt gốc của cành ghép và cắt cành của gốc ghép để tạo 1 cây hoành chỉnh Ghép áp cành trên cây ổi Ghép áp nhiều gốc lại với nhau trên cây sầu riêng Ghép áp cành trên cây sầu riêng b/ Ghép nêm - Cành ghép được vạt nhọn 2 bên giống cái nêm, gốc ghép được chẻ nhẹ xuống sao cho vừa với phần vạt của cành nêm. Sau đó, nhét cành nên vào giữa đường chẻ của gốc ghép, buộc dây nilon lại cố định vị trí ghép. (Hình 5) Hình 5: Ghép nêm - Có thể ghép bằng cách khác, đó là ghép chẻ trên cành lớn. Cách này thường được áp dụng trên cây táo rừng. - Cưa ngang gốc ghép, chẻ đôi gốc ghép, sau đó nhét nêm cành ghép vào, buộc chặt. Đường kính của gốc ghép có thể lớn hơn cành ghép. Vị trí cành nêm nhét vào 2 bên đường chẻ. (Hình 6) Hình 6: Ghép nêm trên cành lớn - Cách khác của ghép nêm là ghép nêm vỏ, dùng dao rạch một đường ở vỏ cây, tách nhẹ phần vỏ tạo một khoảng trống, cành ghép được vát xéo một bên, sau đó nhét cành ghép vào gốc ghép sao cho vị trí vát áp sát vào phần gỗ của gốc ghép, cuối cùng dùng dây buộc chặt. Ghép nêm vỏ trên cây táo   c/ Ghép mắt - Là phương pháp được áp dụng phổ biến, sử dụng trong nhân giống nhiều loại cây ăn trái. - Cách thực hiện (Hình 7) + Trên gốc ghép khoảng 18-20 tháng tuổi, cách mặt đất khoảng 22-23 cm, dùng dao ghép cắt ngang gốc đến thân gỗ, vết cắt rộng 2cm, cắt xẻ dọc 2 bên dài 3-4 cm, bóc vỏ cẩn thận không để bị bẩn. Chiều rộng chỉ cắt 1 bên, còn để 1 bên dính vỏ vào gốc ghép. + Liền sau đó, cắt một mảnh vỏ có mắt ở cành ghép có chiều rộng x dài tương ứng 2 x 3-4 cm. + Sau đó áp mắt ghép vào vị trí đã cắt ở gốc ghép, sao cho mắt ghép hướng lên để khi nhú mầm ra cành hướng lên trên. Tránh làm bẩn mắt ghép. Lưu ý, mắt ghép phải áp sát vào phần thân của gốc ghép. + Dùng dây mềm hoặc nylon, quấn chặt từ chỗ vỏ cây dính gốc ghép xuống dần qua chỗ ghép một chút, quấn liền nhau, buộc chặt. + Sau 10 ngày, mở dây buộc, thấy mắt ghép vẫn còn tươi là có nhiều khả năng thành công. + Khi thấy mắt ghép hơi nhú mầm thì cắt ngọn, thấy nhú mầm dài, đâm cành thì bấm ngọn gốc ghép sát chỗ ghép cho cành ghép phát triển mạnh. Nếu thấy mắt ghép khô teo đi thì tiến hành ghép lại, không bấm ngọn gốc ghép. Hình 7: Ghép mắt   Công ty cổ phần BVTV Delta
Bọ rùa nâu
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bọ rùa nâu
BỌ RÙA NÂU - Tên khoa học: Epilachna vigintioctopunctata (Fabricius) - Họ bọ rùa: Coccinellidae - Bộ cánh cứng: Coleoptera 1. Ký chủ    Bọ rùa nâu tấn công trên các họ bầu, bí, dưa và cả cà chua, đậu bắp, ớt, các loại đậu. 2. Đặc điểm hình thái và sinh học - Thành trùng    Thành trùng là một loài bọ cánh cứng có hình bán cầu, phía lưng vòng lên, phía bụng thẳng, có cánh màu đỏ cam, có 28 chấm đen trên cánh. Cơ thể có chiều dài từ 5 - 7 mm và rộng từ 4 - 6 mm. Thành trùng cái sống khoảng 51 ngày và thành trùng đực sống từ 40 - 45 ngày. Mặt lưng Mặt bụng - Trứng    Trứng hình thoi, màu vàng, thường được đẻ thành từng khóm từ 9 - 55 cái ở mặt dưới lá và được xếp thẳng đứng với mặt lá. Trứng dài từ 1,2 - 1,5 mm. Một thành trùng cái có thể đẻ từ 250 - 1.000 trứng trong thời gian từ 3 - 5 ngày. Thời gian một thành trùng cái đẻ một ổ trứng kéo dài 20 - 30 phút. Khi sắp nở trứng có màu vàng sậm. Trứng - Ấu trùng    Ấu tùng có 4 tuổi, phát triển trong thời gian từ 16-23 ngày. Khi sắp nở, ấu trùng cắn đỉnh vỏ trứng rồi dùng cử động của chân để chui ra ngoài. Ấu trùng màu vàng khi mới nở, lớn đủ sức màu đậm. Trên khắp mình có gai nhỏ màu nâu đậm mọc thẳng góc với da. Sau khi nở, ấu trùng tập trung lại vỏ trứng từ 12 - 15 giờ và ăn hết vỏ trứng mới phân tán tìm thức ăn. Ấu trùng mới nở Ấu trùng tuổi lớn - Nhộng    Nhộng màu vàng nhạt gần như trắng với nhiều đốm màu nâu đậm trên thân và chuyển sang vàng khi sắp vũ hóa. Nhộng có chiều dài từ 5 - 6 mm, rộng từ 3 đến 4 mm. Nhộng phát triển trong thời gian từ 2 - 7 ngày và thường được hình thành ở mặt dưới lá. Phần cuối nhộng có phủ một lớp gai. Nhộng 3. Đặc điểm gây hại    Cả thành trùng và ấu trùng đều sống ở mặt dưới lá, cạp biểu bì và nhu mô diệp lục của lá, chỉ còn lại biểu bì trên và gân. Mật số cao bọ rùa có thể ăn trụi lá trên cây và sau đó có thể tấn công tiếp phần ngọn, trái non và cạp cuống trái. Ấu trùng có khả năng ăn mạnh hơn thành trùng, nhất là ấu trùng tuổi 4, ăn mạnh gấp 2-3 lần thành trùng. Thành trùng gây hại Ấu trùng gây hại   4. Biện pháp phòng trừ - Luân canh cây trồng họ cải. - Thăm ruộng thường xuyên để có biện pháp phòng trừ kịp thời. - Có thể sử dụng một số loại thuốc như  VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, B52 DUC 40EC, VDC PENALDUC 145EC,… để phòng trị.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỌ DƯA RẦY PHẤN TRẮNG RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU) SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) BỌ NHẢY SÂU BA BA, BỌ RÙA XANH, BỌ RÙA KIM TUYẾN (MIỄNG KIẾNG)      
Bệnh sọc trắng lá bắp
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh sọc trắng lá bắp
BỆNH SỌC TRẮNG LÁ BẮP - Tác nhân do nấm Peronosclerospora maydis gây ra. 1. Triệu chứng    Cây bắp thường bị xâm nhiễm và gây hại nặng khi cây con được 2 đến 3 lá. Cây bị nhiễm bệnh phát triển kém, lá hẹp có màu vàng hoặc vàng xanh. Triệu chứng đặc trưng của bệnh là khi những sọc màu trắng hoặc vàng từ gốc lá chạy dọc theo gân lá (Hình 1). Từ vết bệnh ban đầu sợi nấm lan dần sang các lá khác và biểu hiện bệnh lên toàn cây (Hình 2). Bào tử được sinh ra ở những vị trí có sọc trên lá. Khi thời tiết mát mẻ, ban đêm có sương, ẩm độ cao thì vào hôm sau ở những vết bệnh có phủ một lớp mốc xám trắng (Hình 3). Hình 1 Hình 2 Hình 3 2. Sự xâm nhiễm      Bào tử nấm Peronosclerospora maydis mọc mầm tạo ống mầm tấn công trực tiếp vào lỗ khí khẩu trên lá của cây bắp còn non. Sau khi xâm nhập vào khoảng trống dưới lỗ khí khẩu sợi nấm phình to ra, mọc ra vài sợi nấm len lỏi giữa các khoảng trống gian bào và lan dần ra. Sợi nấm phát triển hướng tới mô phân sinh chồi gây nhiễm toàn cây. Nhiệt độ  từ 8-36 oC thích hợp cho sự lây nhiễm toàn cây. 3. Biện pháp quản lý - Cày ải, phơi đất. Dọn sạch cỏ dại và tàn dư thực vật ở vụ trước. - Ngoài ra, cần chú ý thực hiện việc lên luống, hoặc nếu không lên luống thì phải có rãnh thoát nước tốt, bón lót vôi bột trước khi gieo hạt. Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng hoạt chất Metalaxyl. - Khi cây chớm biểu hiện bệnh như đọt hơi chùn lại thì xử lý một trong hai loại thuốc như BioRosamil 72WP và  AMITY TOP 500SC,… để phòng trị.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH ĐỐM LÁ LỚN TRÊN BẮP BỆNH THÁN THƯ TRÊN HÀNH LÁ BỆNH THỐI ĐẾ CỦ HÀNH TÍM BỆNH KHẢM VIRUS TRÊN CÀ CHUA BỆNH CHẾT GỤC CÂY CON      
Bệnh đốm xám trên cây cà chua
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh đốm xám trên cây cà chua
BỆNH ĐỐM XÁM TRÊN CÂY CÀ CHUA - Tác nhân do nấm Cercospora fuligena Roldan - Triệu chứng + Bệnh bắt đầu ở các lá già và lan dần lên trên. Dấu hiệu đầu tiên là những mảng màu vàng trên mặt lá với mép lá không rõ ràng ở cả hai mặt (Hình 1). Ở mặt dưới lá tại các vết bệnh xuất hiện tơ nấm có màu nâu hoặc nâu sẫm có chứa các bào tử (Hình 2). Hình 1 Hình 2 + Các vết bệnh liên kết lại với nhau làm lá bị khô, rủ xuống và chết sau đó lá bị rụng. - Lây lan: Bào tử được phát tán nhờ gió, mưa và nếu thời tiết ẩm ướt có gió liên tục trong vài ngày sẽ làm bệnh lây lan rất nhanh làm rụng lá hàng loạt. - Lưu tồn: Nấm lưu tồn trong trong các tàn dư thực vật, ở những cây trồng bị bệnh ở vụ trước. - Biện pháp phòng trừ + Luân canh cây trồng khác họ. + Hạn chế sử dụng tưới phun trên cao, vì sẽ tạo điều kiện cho bào tử sinh sản và lây nhiễm. + Tỉa bớt lá ở dưới gốc của cây tạo độ thông thoáng cho cây. + Tiêu hủy các lá bị nhiễm bệnh. + Dọn sạch và tiêu hủy các tàn dư thực vật sau khi thu hoạch vụ trước. + Có thế sử dụng các loại thuốc có gốc đồng, mancozeb (BioRosamil 72WP, Mancozeb), difenoconazole (AMITY TOP 500SC) để phòng trừ bệnh. * Chú ý: cần phun đều trên cả 2 mặt của lá.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH KHẢM VIRUS TRÊN CÀ CHUA BỆNH HÉO MUỘN TRÊN CÀ CHUA BỆNH HÉO RŨ TRÊN CÀ CHUA BỆNH THÁN THƯ TRÊN HÀNH LÁ    
Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp
ẢNH HƯỞNG CỦA XÂM NHẬP MẶN ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP     Trong những năm gần đây, xâm nhập mặn đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng nghiêm trọng ở các tỉnh ven biển ĐBSCL làm thay đổi tính chất đất theo chiều hướng bất lợi, diện tích đất nhiễm mặn ngay càng mở rộng và gây trở ngại cho sản xuất nông nghiệp. 1. Xâm nhập mặn là gì ? - Xâm nhập mặn là quá trình thay thế nước ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biển bằng nước mặn do sự dịch chuyển của khối nước mặn vào tầng nước ngọt và cũng là sự tích tụ muối hòa tan của các chất hóa học như Mg, Na, Ca,.. trong nước. - Xâm nhập mặn làm giảm nguồn nước ngọt dưới lòng đất ở các tầng chứa nước ven biển do cả hai quá trình tự nhiên và con người gây ra. Vào mùa khô, quá trình xâm nhập mặn diễn ra mạnh nhất do nguồn nước ngọt trữ trong sông ngòi, kênh rạch bị giảm xuống mức thấp nhất và đây cũng là thời điểm nước biển theo triều cường xâm việc khai thác nước ngọt phục vụ nhu cầu kinh tế - xã hội ở vùng ven biển. - Đất nhiễm mặn có chứa muối hòa tan chủ yếu là Sodium chloride, sodium sulphate, calcium chloride, calcium sulphate, magnesium chloride, magnesium sulphate, postasium chloride. Độ mặn thường liên kết với tính sodic. Độ mặn sodic là đất có chứa hàm lượng muối natri cao trên phức hệ hấp thu của đất, Na+ và Cl- gây độc và trở ngại cho phát triển của cây trồng 2. Cách nhận biết xâm nhập mặn - Những thay đổi trên mặt đất + Bề mặt đất trở nên ngập nước thường xuyên hoặc theo mùa sau một khoảng thời gian mưa kéo dài. + Dòng chảy bị gián đoạn trong một thời gian dài. + Tại các khu vực đất trống, trong trường hợp xấu nhất sẽ xuất hiện những tinh thể muối. + Làm tăng độ chịu mặn của thực vật trong một khu vực. + Tăng độ ẩm trong các công trình. + Suy giảm chất lượng nước ngầm hay nước mặt. + Thiếu nguồn nước để phục vụ chăn nuôi và tưới tiêu. + Đường xá bị xuống cấp và hư hỏng. + Mực nước ngầm dân cao trong những đợt triều lên. - Những thay đổi trong thảm thực vật + Những loại thực vật không chịu mặn sẽ bị thay thế bằng những loài thực vật chịu mặn. + Những loài thực vật ở vùng trũng sẽ không thể sống sót. Thực vật không thể nảy mầm và phát triển. Sầu riêng chết hàng loạt do ảnh hưởng của mặn + Thành phần loài tại các cánh đồng cỏ sẽ bị thay đổi và giảm sự đa dạng sinh học do các loài cây chịu mặn chiếm ưu thế, điển hình là cỏ nước mặn. 3. Ảnh hưởng của mặn lên sự hấp thu dinh dưỡng của cây trồng - Mặn ảnh hưởng đến sinh lý cây trồng thông qua những thay đổi trong tình trạng nước và trạng thái ion của tế bào. - Khi trồng trong dung dịch NaCl, cây tích lũy Na+ và Cl- tùy theo khá năng chống chịu của chúng. Nồng độ Na+ và Cl- trong đất cao không những gây ra tình trạng thiếu nước mà còn ảnh hưởng thừa ion. Sự ức chế sinh trưởng cây trồng có thể do ảnh hưởng của Na+ và Cl- hạn chế sự hấp thu các ion khác và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng. Bởi vì, Na+ cạnh tranh với K+, Ca2+, Mg2+, Fe2+ và Mn2+, Cl- hạn chế sự hấp thu NO3-, PO42- và SO42-. - Điều kiện khô hạn và những thay đổi trong độ ẩm, mực nước và độ mặn trong lớp đất bề mặt sẽ làm suy giảm chức năng rễ, làm giảm sự hấp thu chất dinh dưỡng của cây, giảm hoạt động quang hợp và tác động nhiều đến các chức năng sinh lý khác. Một trong những yếu tố chính gây ra sự lão hóa của lá là giảm hàm lượng chất diệp lục trong điều kiện mặn, làm lá bị úa vàng. - Mặn gây chết lá do đó sự vận chuyển của các chất đồng hóa tổng số tới nơi đang sinh trưởng dẫn đến sự giảm mạnh về năng suất. - Đối với  các mô hình lúa, rau màu, cây ăn trái… thì không thể cho năng suất cao khi bị nhiễm mặn và năng suất sẽ thay đổi tùy theo mức độ nhiễm mặn. Lúa chết do ảnh hưởng của hạn mặn Bảng 1: Thang đánh giá mức độ mặn theo 5 cấp bậc thang mặn STT Mức độ mặn Chỉ tiêu 1 Nước rất mặn S >= 30 (‰) 2 Nước mặn S = 18-30 (‰) 3 Nước lợ S = 4 – 18 (‰) 4 Nước hơi lợ S = 0,4 – 4 (‰) 5 Nước ngọt S <= 0,4 (‰)   Công ty cổ phân BVTV Delta Bài viết liên quan CÁC GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG CỦA RỄ LÚA VAI TRÒ CỦA ĐẠM ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG PHÂN BÓN ACID HUMIC
Cơ chế tác động của hoạt chất Hexaconazole
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Cơ chế tác động của hoạt chất Hexaconazole
CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT CHẤT HEXACONAZOLE - Công thức: C14H17Cl2N3O - Tên hệ thống: 2-(2,4-Dichlorophenyl)-1-(1H-1,2,4-triazol-1-yl)hexan-2-ol - Hexaconazole là một thuốc diệt nấm triazole, thuốc trừ nấm phổ rộng. Thuốc có tác động nội hấp trừ được nhiều loại nấm bệnh như: khô vằn, mốc sương, đốm lá, rỉ sắt, thán thư, phấn trắng, bệnh giả sương mai, bệnh nấm hồng…. trên nhiều loại cây trồng khác nhau như lúa, rau màu cây ăn trái và cây công nghiệp. - Cơ chế tác động của hexaconazole là kìm hãm sự tách methyl của steroid dẫn đến sự kìm hãm sinh tổng hợp ergosterol (chất cấu tạo nên màng tế bào nấm bệnh) làm ngừng sự phát triển của ống mầm và sợi nấm, ngăn cản sự hình thành giác bám, giác mút và ức chế sự nảy mầm bào tử. Nấm bệnh sẽ bị cô lập và ngừng phát triển do chúng không thể hình thành được tế bào mới. * Một số nghiên cứu về hexaconazole - Một nghiên cứu tại Malaisis đã đánh giá hiệu quả của hexaconazole ở 50 μg / ml đã kiểm soát tuyệt vời cả bệnh gỉ sắt trắng (Puccinia horiana) trên hoa cúc và bệnh phấn trắng (Sphaerotheca pannosa) trên hoa hồng, khi thực hiện phun lên lá hàng tuần. - Nghiên cứu của Penz và Sacc đã chứng minh rằng hoạt chất hexaconazole có hiệu quả ức chế hoàn toàn sự phát triển của nấm bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides) đạt 100% ở cả ba nồng độ 50 ppm, 100 ppm và 200 ppm trong điều kiện phòng thí nghiệm. - Nghiên cứu ảnh hưởng của nano-hexaconazole lên nấm Rhizoctonia solani f.sp. sasakii gây ra bệnh đốm lá và bệnh khô vằn ở cây bắp của tác giả Bheemaraya và cộng sự (2014) đã chứng minh rằng, nano-hexaconazole có hoạt tính ức chế mạnh sự phát triển của sợi nấm, giảm sự hình thành hạch nấm, giảm sự phát triển vết bệnh trên cây ký chủ.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH ĐỐM VẰN BỆNH THÁN THƯ TRÊN HÀNH LÁ BỆNH ĐỐM LÁ LỚN TRÊN BẮP BỆNH RỈ SẮT TRÊN CÂY ĐẬU NÀNH BỆNH THỐI ĐỎ TRÊN CÂY MÍA (MÍA RƯỢU) BỆNH CHẾT GỤC CÂY CON    
Bệnh thán thư trên hành lá
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh thán thư trên hành lá
BỆNH THÁN THƯ TRÊN HÀNH LÁ - Tác nhân do nấm Collectotrichum spp. 1. Triệu chứng - Bệnh có thể gây hại trong suốt giai đoạn sinh trưởng của cây. Bệnh tấn công bất cứ vị trí nào trên cây hành, từ chóp lá đến phần thân sát mặt đất. Bệnh xuất hiện cả trên lá và cổ lá. Bệnh gây hại trên thân hành - Triệu chứng ban đầu trên hành lá xuất hiện những vết tròn mất màu hoặc màu trắng xám xung quanh màu vàng nhạt, sau đó lớn dần, bên trong vết bệnh có màu trắng xám và có nhiều vòng đồng tâm nhô lên, những vòng đồng tâm có màu nâu đen nhạt đến đậm làm lá nơi đó héo và gãy gục. Bệnh nặng là khi nhiều vết bệnh liên kết lại làm cháy cả lá hoặc chết cả cây. Vết bệnh điển hình Vết bệnh mới hình thành Vết bệnh nặng làm gãy gục lá 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh - Bệnh thán thư trên hành thường gây hại mạnh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, ẩm độ cao khoảng 80%. - Nhiệt độ 27oC là nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của bệnh. - Ngoài ra, bệnh còn gây hại năng ở những ruộng bón nhiều phân đạm. 3. Sự lưu tồn và lan truyền của nấm bệnh - Bệnh thường xảy ra vào những tháng có mưa nhiều. Bệnh lây lan chủ yếu do mưa, sương, gió hoặc lây lan bởi con người và bằng con đường cơ học. - Nấm lưu tồn trong đất, trong tàn dư cây bệnh nằm trong đất hoặc trên cây giống. 4. Biện pháp phòng trị - Chọn cây giống khỏe, trồng đúng mật độ. Luân canh với cây trồng khác họ. Bón phân cân đối hợp lý. - Có thể sử dụng các loại thuốc như: BioRosamil, Amity Top 500SC, AVIANDO 50SC,…để phòng trị.       Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH THỐI ĐẾ CỦ HÀNH TÍM BỆNH ĐỐM LÁ LỚN TRÊN BẮP BỆNH KHẢM VIRUS TRÊN CÀ CHUA BỆNH THÁN THƯ ỚT BỆNH HÉO RŨ TRÊN CÂY DƯA HẤU    
Sâu ba ba, Bọ rùa xanh, Bọ rùa kim tuyến (Miễng Kiếng)
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Sâu ba ba, Bọ rùa xanh, Bọ rùa kim tuyến (Miễng Kiếng)
SÂU BA BA, BỌ RÙA XANH, BỌ RÙA KIM TUYẾN (MIỄNG KIẾNG) - Tên khoa học: Cassida curcumdata - Bộ Coleoptera - Họ Chrysomelidae - Sâu ba ba còn được gọi là bọ rùa kim tuyến, bọ rùa xanh,…. Gây hại chủ yếu trên cây rau muống và khoai lang (họ Bìm bìm (Convolvulaceae)). 1. Đặc điểm hình thái và sinh học - Trứng + Trứng được đẻ đơn lẻ trên cả hai bề mặt lá, dài khoảng 1,5 mm, dài gấp 4 lần chiều rộng, màu xanh lục nhạt được bao phủ bởi màng mờ giống như giấy da màu nâu vàng với hai đường gờ dọc. Trứng được ủ trong 4-7 ngày. Ổ trứng được bao phủ bởi một màng giống giấy da Ổ trứng được phóng to - Ấu trùng + Ấu trùng có màu xanh lục, dẹt, giống như con sên với hai cặp gai màu xanh lục ở hai bên phân nhánh trên mỗi đoạn. Ấu trùng có 5 tuổi, mỗi giai đoạn kéo dài từ 1-6 ngày. Da từ lần lột xác cuối cùng được gắn với một cặp gai dưới hậu môn, được giữ thẳng đứng và có màu nâu sẫm. Ấu trùng tuổi lớn chuyển từ màu xanh lục sang xanh lục vàng, trở nên vàng hơn khi gần hóa nhộng. Ấu trùng trưởng thành đạt 5,5 mm. Tổng thời gian phát triển của ấu trùng từ 7-26 ngày. - Nhộng + Nhộng màu vàng lục, hình bầu dục, dẹt với lá chắn trước ngực nổi rõ. Đầu ẩn và bụng có một hàng gai màu trắng ở rìa. Tất cả các lớp da của ấu trùng khi lột xác được gắn vào phần cuối phía sau xuất hiện dưới dạng một khối màu đen không đều. Nhộng gắn chặt vào bề mặt lá bằng đầu đuôi của nó. Thời kỳ nhộng từ 4-8 ngày. - Trưởng thành + Con trưởng thành là một con bọ rùa nhỏ với cơ thể màu vàng lục ánh kim loại. Các cánh có 3 dải màu đen dọc không đều ở mép trong của cánh với phần mở rộng về phía bên giống như một cái khiên. Dải màu đen ở giữa chia cánh ra làm 2 phần đồng đều. Mặt lưng lòi lõm (bề mặt lưng bị rỗ). Tuổi thọ của con trưởng thành kéo dài từ 2-29 ngày. 2. Tập quán sinh sống và cách gây hại - Sâu ba ba sinh sản quanh năm, thường gây hại vào mùa mưa. Con cái có thể đẻ khoảng 250 trứng trong 2-5 ngày sau khi thành thục. Sau mỗi lần lột xác, lớp vỏ ngoài (da đúc) gắn liền với các gai ở cuối bụng. Những tấm da này luôn luôn được ấu trùng mang theo. Khi bị động, ấu trùng đặt lớp da đó lên cơ thể và được sử dụng như lá chắn bảo vệ. - Ấu trùng cạp phần diệp lục màu xanh của lá để lại một màng mỏng mờ nhạt, ấu trùng lớn ăn thủng lá thành những lổ tròn không đồng đều. Khi mật số cao, chúng ăn phá trên lá thành nhiều lỗ tròn, làm mất khả năng quang hợp và thậm chí làm cây bị rụng lá hoàn toàn. - Thành trùng cũng ăn thũng lá thành những lổ tròn không đồng đều và có thể ăn hết phần thịt lá chỉ còn lại gân lá. Khi mật số cao, thành trùng có thể ăn cạp cả thân cây. 3. Biện pháp quản lý - Luân canh với cây trồng khác rau muống và khoai lang. - Thăm ruộng thường xuyên để có biện pháp phòng trừ kịp thời. - Có thể sử dụng một số loại thuốc như  VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, B52 DUC 40EC, VDC PENALDUC 145EC,… để phòng trị.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỌ DƯA RẦY PHẤN TRẮNG RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU) SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) SÂU TƠ      
Bọ nhảy
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bọ nhảy
BỌ NHẢY Phyllotreta striolata Fabricius    Bọ nhảy là loài gây hại quan trọng trên các loại rau nhất là họ rau cải (họ thập tự), làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất, thậm chí có thể gây mất 100% nếu không phòng trừ kịp thời. 1. Triệu chứng và mức độ gây hại - Bọ nhảy gây hại trên các loại cây thuộc họ cải. Bọ nhảy trưởng thành ăn lá tạo thành những lỗ nhỏ li ti hoặc răng cưa trên lá, khi mật độ cao thì có thể ăn hết cả gân lá làm cho lá rau xơ xác, cây còi cọc phát triển kém. - Ấu trùng ăn hại rễ phụ, đục vào gốc rễ chính và củ tạo thành những đường lõm ngoằn ngoèo hay từng lỗ sâu, nếu mật độ sâu cao có thể làm cho cây dễ bị héo, bị thối gốc, thối củ và chết, nhất là giai đoạn cây con. 2. Đặc điểm hình thái và sinh học - Vòng đời - Trưởng thành + Có chiều dài thân từ 1,8 - 2,4 mm, hình bầu dục, toàn thân màu đen bóng. Trên cánh trước có 8 hàng chấm đen lõm chạy dọc cánh và hai vân sọc cong màu vàng nhạt có hình dáng tương tự vỏ đậu phộng. + Đốt đùi chân sau to khỏe giúp thành tùng nhảy xa rất nhanh nhẹn. Kích thước cơ thể con cái thường lớn hơn con đực. Một con cái có thể đẻ trung bình 135 trứng và cao nhất có thể tới 230 trứng. - Trứng + Trứng được đẻ dưới mặt đất, sâu khoảng 2-3 cm gần gốc cây ký chủ. Trứng có màu vàng sữa, hình bầu dục, dài khoảng 3 mm. Thời gian ủ trứng kéo dài khoảng 5-7 ngày. - Ấu trùng + Ấu trùng hình ống tròn màu vàng nhạt, tuổi lớn dài khoảng 3,5-4 mm, có 3 đôi chân ngực rất phát triển và các đốt đều có những u lồi bên trên có lông nhỏ. Ấu trùng có 3 tuổi và phát triển từ 3-4 tuần. - Nhộng + Nhộng hình bầu dục, khi mới hình thành nhộng có màu trắng kem, mềm, dần chuyển sang màu vàng nhạt và đến nâu đen khi sắp vũ hóa. Nhộng dài khoảng 2-2,5 mm, mầm cánh và mầm chân sau rất dài, đốt cuối cùng có 2 gai lồi rất rõ ràng. Thời gian phát triển của nhộng kéo dài từ 4 đến 5 ngày. 2. Tập quán sinh sống và cách gây hại - Bọ nhảy trưởng thành nhảy xa và bay khỏe, thường hoạt động lúc sáng sớm và chiều mát, khi có nắng chúng thường ẩn nấp vào nơi râm mát, ở sát mặt đất. Trời mưa to hoặc khi tưới nước cho cây, đất ướt chúng ít hoạt động. Con trưởng thành không ưu thích ánh sáng đèn. - Bọ nhảy thường bò lên mặt lá ăn phá vào sáng sớm và chiều mát, chúng ăn thủng lá cải thành những lỗ đều đặn trên khắp mặt lá rất dễ nhận diện, làm cho lá có thể bị vàng và rụng. Ấu trùng sống trong đất, ăn rễ cây làm cây bị còi cọc. 3. Biện pháp phòng trừ - Làm đất thật kỹ trước khi trồng cải. - Luân canh với một số cây trồng khác. - Cần kiểm tra ruộng thường xuyên nhất là khi cây cải còn non. - Có thể sử dụng một số loại thuốc như  VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, B52 DUC 40EC, VDC PENALDUC 145EC,… để phòng trị. - Thời gian phun thuốc: bọ nhảy hoạt động mạnh vào ban ngày nếu phun thuốc vào thời gian này bọ nhảy sẽ di chuyển sang ruộng khác tránh thuốc và khi hết mùi chúng trổ lại gây hại, nhưng đêm ít hoạt động và thường tập trung giữa nõn cải nên tiến hành phun thuốc lúc chập tối sẽ cho hiệu quả phòng trừ cao nhất.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỌ DƯA RẦY PHẤN TRẮNG RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU) SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) SÂU TƠ  
Bệnh đốm lá lớn trên bắp
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh đốm lá lớn trên bắp
BỆNH ĐỐM LÁ LỚN TRÊN CÂY BẮP - Tác nhân do nấm Helminthosporium turcicum. Nấm thuộc họ Pleosporaceae, lớp nấm bất toàn. 1. Triệu chứng - Bệnh phát sinh trước hết ở các lá già, lá bánh tẻ rồi lan dần lên các lá phía trên ngọn, lây cả vào áo bắp. - Vết bệnh dài có dạng sọc hình thoi không đều đặn, màu nâu hoặc xám bạc, không có quầng vàng. Kích thước vết bệnh lớn 16-25 x 2-4 cm, có khi vết bệnh kéo dài tới 5 đến 10 cm và chạy dọc theo gân lá. - Khi điều kiện thời tiết ẩm ướt, tại vị trí vết bệnh của các lá bị bệnh rất dễ mọc ra một lớp nấm đen nhỏ đó là các cành bào tử và bào tử phân sinh của nấm gây bệnh. Khi bệnh nặng các bào tử nấm có thể có ở cả hai mặt của lá. Ngoài ra, các đốm bệnh có thể liên kết lại làm lá bị cháy, nhiều vết bệnh có thể liên kết nhau làm cho lá dễ khô táp, rách tươm ở đoạn chót lá. 2. Sự lưu tồn và lây lan - Nấm bệnh sinh trưởng trong suốt mùa vụ, lưu tồn trong đất và tàn dư thực vật dưới dạng đính bào tử và bì bào tử. Bào tử phân sinh tồn tại trên hạt giống và sợi nấm tồn tại trong tàn dư lá cây ở đất là nguồn bệnh quan trọng. - Bệnh đốm lá lớn trên bắp được lan truyền qua tàn dư thực vật hoặc nhờ gió, mưa và lan truyền từ vùng này sang vùng khác một cách nhanh chóng. Bệnh lây lan nhanh chóng bằng bào tử phân sinh xâm nhập qua khí khổng hoặc trực tiếp qua biểu bì. Trong điều kiện ẩm ướt hoặc sau cơn mưa nấm bệnh tạo bào tử ở cả hai mặt của vết bệnh, làm cho bệnh lây lan lên các lá trên. 3. Điều kiện phát sinh và phát triển bệnh - Bệnh phát triển ở nhiệt độ trung bình 18-27oC và lượng sương mù cao trong giai đoạn tăng trưởng. Mưa nhiều bệnh sẽ phát triển nhanh chóng ở giai đoạn cây lớn , nhất là từ khi cây bắt đầu có cờ. - Bệnh phát triển mạnh ở những ruộng trồng quanh năm, không áp dụng biện pháp luân canh, xen canh, không thu dọn tàn dư thực vật và bón quá nhiều đạm. 4. Biện pháp quản lý bệnh - Biện pháp canh tác: + Sử dụng giống kháng bệnh. + Luân canh cây trồng. + Chọn đất và vệ sinh đồng ruộng. + Bón phân đầy đủ và cân đối. - Biện pháp hóa học: + Xử lý hạt giống trước khi trồng. + Phun thuốc khi cây mới nhiễm bệnh bằng các loại thuốc như BIOROSAMIL, AVIANDO 50SC, AMITY TOP 500SC,…   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH KHẢM VIRUS TRÊN CÀ CHUA BỆNH CHẾT GỤC CÂY CON BỆNH HÉO XANH TRÊN CÂY ỚT BỆNH HÉO RŨ TRÊN CÂY DƯA HẤU    
Bệnh thối đế củ hành tím
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh thối đế củ hành tím
BỆNH THỐI ĐẾ CỦ HÀNH TÍM - Bệnh xuất hiện ở hầu hết các vùng trồng hành, tỏi trên thế giới và được xem là một trong những bệnh quan trọng nhất trên hành tím. - Các ruộng bị nhiễm bệnh thối đế củ có thể bị giảm năng suất từ 3-35%. Phần lớn năng suất hành bị giảm là do bệnh phát triển trên đồng ruộng nhưng bệnh thối đế củ cũng có thể xảy ra trong quá trình tồn trữ và vận chuyển. - Tác nhân do nấm Fusarium oxysporum f. sp. cepae 1. Triệu chứng - Đầu tiên lá hành sẽ bị héo từ từ, sau đó sẽ héo luôn mầm lá non, thời gian biểu hiện giai đoạn này có thể kéo dài trong nhiều tuần. Phần đế củ xuất hiện các chấm nâu đỏ, lân rộng và ăn sâu vào thịt củ gây thối nhũn, rễ bị thối rửa, đế củ có màu xám và từ từ chuyển sang nâu. - Dưới điều kiện ẩm, sợi nấm trắng sẽ phát triển ở vùng bị thối còn dưới điều kiện khô ráo, các mô sẽ dần dần khô và co lại. Nếu củ hành bị nhiễm bệnh vào giai đoạn gần thu hoạch thì bệnh có thể không xuất hiện triệu chứng rõ ràng cho đến khi lưu trữ vì bị nhiễm tiềm ẩn.   2. Đặc điểm phát sinh và phát triển bệnh - Mầm bệnh xâm nhập vào cây thông qua rễ và thân gốc thông qua đất. - Bệnh phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 15-30oC. Độ ẩm cao trên đồng hay trong tồn trữ sẽ làm bệnh phát triển mạnh hơn. 3. Biện pháp phòng trị - Chon giống sạch bệnh. - Tránh làm tổn thương củ trong quá trình cày ải hay thu hoạch, chế biến và vận chuyển. - Trước khi tồn trữ, hành phải được phơi ráo, để ở điều kiện thoáng mát. - Sử dụng các loại thuốc như BIOROSAMIL, AVIANDO 50SC, AMITY TOP 500SC kết hợp với thuốc trừ vi khuẩn PYRAMOS 70SL hoặc KASUDUC 3SL để tăng hiệu quả phòng trị.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỆNH KHẢM VIRUS TRÊN CÀ CHUA BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY KHOAI LANG BỆNH CHẾT GỤC CÂY CON BỆNH HÉO MUỘN TRÊN CÀ CHUA BỆNH HÉO XANH TRÊN CÂY ỚT          
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA