KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Bọ cắt lá
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bọ cắt lá
BỌ CẮT LÁ Deporaus marginatus 1. Đặc điểm sinh học - Thành trùng là loài cánh cứng, chiều dài thân từ 5 – 8 mm, mỏ dài gần bằng nữa thân mình. Đầu ngực và bụng màu đỏ. Râu đầu, cánh và chân màu nâu. Một thành trùng cái đẻ từ 70 – 200 trứng. - Trứng được đẻ vào gân chính của lá, tính từ chop lá trứng nằm ở khoảng 0,5 cm. Trứng có chiều dài khoảng 0,5 mm, thời gian ủ trứng từ 2 – 3 ngày. - Ấu trùng phát triển từ 6 – 10 ngày sẽ hóa nhộng. - Nhộng được hình thành trong đất và phát triển từ 10 – 15 ngày sẽ lột xác thành thành trùng. Thành trùng và ấu trùng bọ cắt lá 2. Tập quán sinh sống và cách gây hại - Đẻ trứng xong thành trùng cắt đứt lá, vết cắt có chiều dài từ 5 – 10 cm tính từ chân cuống và rất sắc, trông như lá được cắt bằng dao hay kéo. Phần bị cắt rời ra sẽ rơi xuống đất. Ấu trùng nở ra sẽ sống ngay trên phần lá rơi xuống đất, khi lớn đủ sức chui xuống đất làm nhộng. Lá xoài bị bọ cắt lá gây hại - Thành trùng vũ hóa khi xoài vừa có lá non và gây hại cây xoài bằng 2 cách: + Ăn phá lá non làm cây mất sức. + Cây bị mất lá, đỉnh sinh trưởng bị kích thích, cây đâm nhiều chồi non, ảnh hưởng đến sự ra trái. Bọ cắt lá gây hại đọt non 3. Biện pháp phòng trị - Gom các lá bị cắt lại đốt để làm giảm mật số của thế hệ sau. - Cày xới đất để diệt nhộng. - Dùng thuốc Song hổ để diệt trừ thành trùng. Thuốc trừ sâu, rầy: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Ruồi đục trái xoài: https://congtydelta.com/bai-viet/73/ruoi-duc-trai-xoai
Bệnh hại khóm
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh hại khóm
BỆNH HẠI KHÓM 1. Bệnh thối trái, thối gốc chồi - Tác nhân: do nấm Thielaviopsis paradoxa gây ra. - Triệu chứng + Bệnh xảy ra trên trái, chồi hay lá. Nấm xâm nhiễm qua các vết bầm dập ở trái khi thu hoạch hay chuyên chở, từ vết cắt ở cuống trái hay chồi, hoặc do các lá va chạm nhau. Nhiệt độ thích hợp cho nấm bệnh phát triển là từ 24-270C và ẩm độ cao (trên 90%). + Bệnh trên trái: Trái có đốm úng hình tròn, chuyển dần sang màu vàng rồi đen và thối rất nhanh. Nấm còn xâm nhiễm qua mặt cắt của cuống trái khi thu hoạch, lan dần vào trái gây thối. + Bệnh trên chồi: Nấm xâm nhiễm vào mặt cắt ở đáy chồi, làm chồi bị thối đen. + Bệnh trên lá: Lá bị bệnh có những đốm xám, viền nâu. Đốm bệnh sẽ biến dần sang màu nâu nhạt hay xám trắng, sau đó khô đi, làm lá biến dạng. Triệu chứng thối trên trái - Cách phòng trị: + Tiêu hủy các cây bị nhiễm bệnh + Xử lý chồi trước khi trồng bằng Bordeaux hoặc Bio Rosamil,… Xử lý chồi trước khi trồng + Thu hoạch nhẹ nhàng tránh làm xây xát trái, tránh bầm dập vết cắt ở cuống trái + Sát trùng dụng cụ thu hoạch Thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 2. Bệnh thối đọt và thối rễ - Tác nhân do nấm Phytophthora parasitica gây ra - Triệu chứng + Bệnh thối đọt thường xảy ra trên lá non, lá mất tính trương nước và cong, sau đó héo khô và có màu đỏ vàng hay nâu. Khi héo nhẹ, các lá đọt sẽ tách khỏi thân dễ dàng. + Gốc lá và ngọn thân bị thối nhũn, có mùi hôi. Trường hợp bệnh xảy ra trên rễ sẽ làm rễ bị thối đen, thường thấy ở các chân đất thoát thủy kém. + Bệnh phát triển mạnh ở nhiệt độ 24-270C. Nấm bệnh lưu tồn trong đất, xâm nhiễm vào ngọn thân, gốc lá, gốc thân hay ở rễ. Triệu chứng thối nỏn - Cách phòng trị + Cần có biện pháp thoát thủy tốt ở đất trồng khóm + Ngâm chồi trong các dung dịch Bordeaux hoặc Bio Rosamil,… + Tránh vun gốc hoặc làm cỏ trong mùa mưa làm văng các bào tử lên cây. + Trồng chồi thân có tính kháng bệnh cao hơn chồi cuống. 3. Bệnh thối nhũn trái - Tác nhân do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra. - Triệu chứng + Bệnh thường xuất hiện khi tồn trữ trái trong kho vựa hoặc trên các trái chín ngoài đồng. + Bệnh phát triển rất nhanh, trong vòng 24 giờ có thể làm thối toàn trái, bên trong thịt trái có những lỗ hổng to, thịt rời rạc trong khi vỏ bên ngoài vẫn bình thường. + Bệnh phá hoại nặng trong mùa mưa. Triệu chứng thối bên trong thịt trái - Cách phòng trị + Loại bỏ ngay các trái bệnh tránh lây lan. + Tránh làm xây xát khi thu hoạch và vận chuyển. + Kho chứa phải thoáng mát, không chất khóm thành đống. + Trữ lạnh trái ở nhiệt độ 8-100C càng sớm càng tốt. 4. Bệnh khô nâu mắt trái - Tác nhân do vi khuẩn Erwinia ananas gây ra. - Triệu chứng + Xảy ra trên mắt trái (trái con) ở vùng noãn khổng. + Vết bệnh có màu rỉ sắt nhạt hay sậm, đôi khi có màu đen. Các mô chung quanh vùng bệnh thì cứng lại. Có thể có nhiều mắt trái bị bệnh trên cùng một trái, cắt trái ra thấy có những đốm nâu sẫm xen kẻ trên nền thịt trái vàng. + Bệnh làm giảm sút nghiêm trọng đến phẩm chất trái. + Vi khuẩn xâm nhập vào trái ở giai đoạn ra hoa, thường xuất hiện trong các tháng có nhiệt độ và ẩm độ không khí cao (cuối mùa khô). Triệu chứng khô nâu mắt trái khóm - Cách phòng trị + Nên bố trí thu hoạch vào trước cuối mùa khô. + Phun ngừa Pyramos 40SL ở giai đoạn trước ra hoa và giai đoạn trái non. Chi tiết: https://congtydelta.com/san-pham/496/pyramos-40sl Thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 5. Bệnh héo khô đầu lá - Tác nhân do virus ( rệp sáp là môi giới lan truyền). - Triệu chứng + Diễn biến triệu chứng trên toàn bộ lá có thể chia ra làm 4 giai đoạn: + Giai đoạn 1: Trước tiên các lá già đỏ dần lên, sau đó rìa phiến lá cuốn lại về phía mặt dưới lá, đầu lá cong xuống đất. + Giai đoạn 2: Lá không trương nước nữa và chuyển qua màu hồng vàng, các đầu lá chuyển sang màu nâu và khô dần. + Giai đoạn 3: Các lá mọc từ giữa thân lá lần lượt cong xuống, mép lá vàng ra, các lá còn lại chuyển sang màu hồng tía, đầu lá cuốn lại. + Giai đoạn 4: Các đầu lá còn lại cuối cùng cuốn lại và héo khô. Triệu chứng héo khô đầu lá + Thời gian từ khi nhiễm bênh đén lúc xuất hiện triệu chứng tùy theo tuổi cây. + Trung bình từ 2 - 3 tháng đối với cây bị nhiễm ở giai đoạn 5 tháng sau khi trồng và 4 - tháng đối với cây bị nhiễm ở giai đoạn 9 tháng sau khi trồng. + Khi bị nhiễm triệu chứng héo, cây vẫn có thể ra hoa, phát triển trái nhưng trái nhỏ và thường chín héo, phẩm chất kém tháng và nặng hơn trong mùa gốc. + Trên các vùng trồng dứa ở đồng bằng sông Cửu Long, triệu chứng héo thường xảy ra nặng trong mùa nắng (từ tháng 12 dương lịch trở đi). Dứa vụ gốc thường bị nặng hơn dứa vụ tơ. Nhóm Cayenne bị nhiễm nặng hơn nhóm Queen. - Cách phòng trị + Xử lý chồi trước khi trồng bằng Bordeaux hoặc Bio Rosamil,… + Phòng trị rệp sáp ngăn chăn nguồn lan truyền virus. + Tiêu hủy các cây bệnh tránh lây lan.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Quản lý bệnh hại trên cây xoài: https://congtydelta.com/bai-viet/77/quan-ly-benh-hai-tren-cay-xoai Kỹ thuật trồng khóm: https://congtydelta.com/bai-viet/78/ky-thuat-trong-khom    
Quản lý bệnh hại trên cây xoài
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Quản lý bệnh hại trên cây xoài
QUẢN LÝ BỆNH HẠI TRÊN CÂY XOÀI 1. BỆNH THÁN THƯ - Tác nhân: do nấm Collectotrichum gloeosporioides - Triệu chứng + Nấm tấn công lên hoa, trái, lá và cành non, nhất là vào mùa mưa hoặc khi có sương mù. + Trên lá: Bệnh chủ yếu xuất hiện trên lá non, triệu chứng bắt đầu có những đốm nhỏ như mũi kim có màu nâu sẫm đến đen, hình dạng bất định, về sau vết bệnh phát triển liên kết với nhau thành từng mảng và lan rộng ra, ở giữa vết bệnh lớp tế bào bị khô và có những lỗ thủng làm lá non không phát triển đôi khi bị biến dạng, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây. + Trên bông: Bệnh phát triển cả chùm bông làm đen bông và rụng, bệnh còn phát triển trên các cành non của cây. + Trên trái: Bệnh nhiễm từ lúc trái non đến thu hoạch, lúc đầu vết bệnh là những đốm nhỏ hình tròn, có màu nâu hoặc nâu đen, sau lan dần ra, nhiều đốm kết hợp với nhau thành những đốm lớn hơn lõm vào phần thịt trái, khoảng 5 – 10 mm và có thể lan ra bao quanh trái, làm cho thịt trái bị chai sượng và thối, sau đó sẽ rụng. Triệu chứng thán thư - Cách phòng trị: + Trong vườn ươm: Luôn vệ sinh vườn sạch sẽ thoáng mát, có đầy đủ ánh sáng, tránh ẩm độ không khí cao. Cần chú ý, khi thấy bệnh bắt đầu xuất hiện cần phải phun thuốc nhằm ngăn chặn sự lây lan của bệnh. + Ngoài đồng: Tiêu hủy các cành lá bệnh tránh lây lan. Không trồng quá dầy tạo ẩm độ cao làm cho bệnh phát triển mạnh. Luôn vệ sinh vườn thoáng mát tránh sự lây lan của bệnh. + Trong các đợt ra lộc non, ra bông, trái non cần chú ý đến bệnh, đặc biệt trong mùa mưa nếu thấy có triệu chứng bệnh cần phun thuốc để phòng trị. Giai đoạn bông và trái non, cần phun định kỳ 7 – 10 ngày/ lần bằng các loại thuốc như Bio Rosamil 72WG, Amity Top 500SC, Manco Nhật,… + Tiến hành bao trái sau giai đoạn trái rụng sinh lý nhằm hạn chế bệnh thán thư và các loại bệnh và côn trùng khác gây hại. 2. BỆNH PHẤN TRẮNG - Tác nhân: Do nấm Oidium mangiferae - Triệu chứng: + Bệnh thường gây hại trong điều kiện thời tiết nóng ẩm hoặc có sương đêm. Nấm bệnh đóng thành lớp phấn trắng trên lá non, phát hoa và trái non. Bệnh thường phát triển từ ngọn của phát hoa, lan dần đến cuống hoa, trái non và cành. + Thường hoa bị nhiễm bệnh bệnh trước khi thụ phấn và trái bị nhiễm bệnh khi còn rất nhỏ. + Trái bị nhiễm bệnh sẽ bị biến dạng, méo mó, nhạt màu, bị khô và rụng sớm. Bệnh gây thiệt hại năng nhất trong giai đoạn trổ hoa đến tạo trái trong điều kiện nóng ẩm, có sương về đêm, bệnh bộc phát và lây lan rất nhanh. Bệnh phấn trắng gây hại trên bông và trên lá - Cách phòng trị: + Cắt tỉa tạo tán cho cây phát triển mạnh, tránh tạo cơ hội cho bệnh phát triển, cung cấp phân bón đầy đủ. + Cần chú ý sự phát triển của bệnh trong giai đoạn cây ra bông và tạo trái non. Nếu thấy bệnh xuất hiện cần xịt thuốc để phòng trị ngay bằng các loại thuốc như Bio Rosamil 72WG, Amity Top 500SC, Manco Nhật,… 3. BỆNH NẤM HỒNG - Tác nhân: do nấm Corticium salmonicolor - Triệu chứng: + Đầu tiên trên mặt vỏ thân hay nhánh có tơ nấm trắng bò lan. Sau đoa nấm tạo thành những mảng màu hồng. Đôi khi không thấy mảng màu hồng mà chỉ thấy các gai nấm màu hồng phát triển từ các vết vỏ thân hay nhánh. + Nhánh và thân bị nấm tấn công sẽ mất dinh dưỡng, sau đó sẽ bị khô và chết. Ngoài ra, vết bệnh là một lớp phấn phủ màu trắng bao xung quanh thân cành. Nấm có thể gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau, đặc biệt các loại cây ăn trái như mít, sầu riêng,… Nấm hồng gây hại trên thân cây - Cách phòng trị: + Bệnh thường phát triển trên những cây có tán lá rậm rạp và che khuất nhau, nhất là vào những tháng mưa ẩm. + Do đó, nên trồng cây với khoảng cách hợp lý, tỉa bớt cành lá vô hiệu để tránh che rợp. + Cắt bỏ và tiêu hủy các nhánh nhiễm bệnh. + Phát hiện bệnh sớm và đánh chải vùng bệnh bằng dung dịch thuốc hóa học như Unizebando, Amity Top 500SC, Titt Gold… 4. BỆNH KHÔ ĐỌT - Tác nhân: do nấm Diplodia natalensis - Triệu chứng + Bệnh gây hại trong điều kiện nóng ẩm, nhất là trong mùa mưa. + Trên nhánh đọt bị các đốm sậm màu, lan dần trên các cành non, cuống lá làm lá bị biến màu nâu. Cành bị khô, nhăn và có thể chảy mủ. Chẻ dọc cành bệnh, bên trong các mạch dẫn nhựa biến thành màu nâu tạo nên những sọc nâu. + Bệnh tấn công trên trái sau giai đoạn thu hoạch và tồn trữ hay vẫn chuyển, làm thối phần thịt trái nơi gần cuống có màu nâu sẫm lan dần làm thối nát cả trái hoặc nơi vỏ trái bị trầy. Triệu chứng gây hại trên đọt non và trái - Cách phòng trị: + Tỉa cành, tiêu hủy các cành và trái bệnh. + Thu hoạch tránh va chạm mạnh gây bầm dập trên các trái. + Phun thuốc khi phát hiện bệnh như Titt Gold, Unizebando, Amity Top,… 5. BỆNH ĐỐM VI KHUẨN - Tác nhân: Do vi khuẩn Xanthomonas campestris - Triệu chứng: + Bệnh thường gây hại trong mùa mưa và gây hại ở cành non, cuống trái, lá, trái. + Trên lá: vết bệnh thường có màu nâu đến đen và góc cạnh, vết bệnh thường bị giới hạn bởi gân phụ trên lá, đôi khi xung quanh vết bệnh có quầng màu vàng, nhiều vết bệnh liên kết lại tạo thành mảng cháy lớn. + Trên trái: vết bệnh màu đen đậm hơn trên lá, gồ ghề, làm nứt nẻ vỏ trái. Vỏ trái bị tổn thương, dịch mũ có hòa trộn với vi khuẩn làn tràn ra xung quanh và làm lan cho các bộ phận phía dưới của cây như trái, cành, lá, phát hoa. + Trên cành non: vết bệnh có màu đen, gây xì mủ. Bệnh thường làm các phát hoa, trái, đọt non ở đầu cành bị héo và có thể làm chết cành. Triệu chứng bệnh đốm vi khuẩn - Cách phòng trị: + Khi có dịch bệnh, không nên tưới phun lên toàn cây, không phun phân bón lá hoặc KNO3 sẽ làm bệnh nặng thêm. + Cắt tỉa cành bệnh và tiêu hủy, tạo thong thoáng cho vườn. + Phun thuốc có gốc trị vi khuẩn như: Pyramos 40SL, Kasuduc 3SL, Beamy – Kasu 500SC,…         Thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Ruồi đục trái xoài: https://congtydelta.com/bai-viet/73/ruoi-duc-trai-xoai Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long Kỹ thuật trồng mít thái: https://congtydelta.com/bai-viet/70/ky-thuat-trong-mit-thai Bệnh hại cây trồng: https://congtydelta.com/danh-muc-bai-viet/18/benh-hai-cay-trong          
Xử lý ra hoa thanh long
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Xử lý ra hoa thanh long
XỬ LÝ RA HOA THANH LONG Cây thanh long thuộc nhóm cây dài ngày, sự ra hoa chịu ảnh hưởng của quang kỳ, ở miền Nam thanh long bắt đầu ra hoa vào tháng 4 – 9 dl vì số giờ chiếu sáng trong ngày > 12 giờ (ngày dài). Vì vậy, muốn thanh long ra hoa nghịch vụ vào giai đoạn đêm dài ngày ngắn, nông dân áp dụng phương pháp thắp đèn trong một thời gian nhất định cây sẽ ra hoa đồng loạt. Hiện nay, phương pháp này được ứng dụng ở các vườn thanh long trên khắp cả nước. 1. Ra hoa tự nhiên - Sau khi trồng khoảng 8 – 10 tháng cây có thể cho hoa đầu tiên, tùy điều kiện dinh dưỡng. Thường nông dân để trái khi cây được 1 - 1,5 tuổi. Ở tuổi cây 3 năm cây bắt đầu cho trái ổn định. - Hoa tự nhiên xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 10, rộ nhất từ tháng 5 đến tháng 8 - Tuy nhiên, quá trình diễn ra không đồng loạt ở các cành thanh long trưởng thành nên việc ra hoa không tập trung ở mùa thuận, số đợt ra hoa tự nhiên trong mùa thuận trung bình có 4 – 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm, tốn nhiều công, năng suất thấp. - Vì vậy, việc xông đèn tạo ngày dài 12 – 14 đêm (8 giờ/ đêm) là cây ra hoa đồng loạt vào mùa thuận cũng được nông dân áp dụng. 2. Xử lý ra hoa trái vụ (Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau) Khi cây được 1 - 1,5 tuổi, có thể xử lý ra hoa. - Bón phân trước khi xử lý Nhằm mục đích giúp cây có đầy đủ chất dinh dưỡng để chuẩn bị ra hoa và nuôi trái sau này. - Bón phân gồm phân vô cơ và hữu cơ: + Lần 1: Trước khi thắp đèn 1 tháng, bón 5 kg phân chuồng hoai mục hoặc 0,5 kg phân hữu cơ sinh học/ trụ. Phun phân vi lượng Rồng đỏ liều lượng 50ml/ bình 25 lít nước. + Lần 2: Trước khi thắp đèn 15 ngày, bón 0,5 kg/ trụ phân hữu cơ sinh học. Phun phân bón lá Ruby liều lượng 50ml/ bình 25 lít nước. + Lần 3: Sau khi nụ xuất hiện bón 0,5 kg/ trụ phân hữu cơ sinh học. Phun Canxi Bo liều lượng 50ml/ bình 25 lít nước sau khi nụ xuất hiện 22 ngày. Nụ thanh long sau 4 ngày tắt đèn + Lần 4: Sau khi đậu trái 9 ngày: phun Dưỡng trái thanh long liều lượng 50ml/ bình 25 lít nước. + Lần 5: Sau khi đậu trái 18 ngày: phun Siêu to trái thanh long 50ml/ bình 25 lít nước. + Lần 6: Trước thu hoạch 15 ngày phun phân vi lượng Ruby 50ml/ bình 25 lít nước. * Phân bón lá: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon  3. Xử lý ra hoa  - Có 3 đợt trái trong mùa nghịch + Trong giai đoạn đầu vụ nghịch từ cuối tháng 9 đến tháng 11 sử dụng bóng đèn compact đỏ 20W mật độ 1100 bóng/ ha để xử lý ra hoa cho thanh long tiết kiệm được 66,7% lượng điện tiêu thụ so với bóng đèn tròn. + Trong giai đoạn vụ 2 và vụ 3 của vụ nghịch từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau sử dụng bóng đèn compact 20W với mật đô 1600 bóng/ ha. + Treo bóng đèn cách mặt đất 0, 7 – 1,2 m, khoảng cách giữa các đèn là 3m và cách tán cây 0,5 – 1m. Sử dụng đèn compact + Thời gian xông đèn 16 đêm, mỗi đêm chiếu sáng từ 7 giờ tối đến 5 giờ sáng tương ứng thời gian chiếu sáng là 10 giờ/ đêm. + Thời điểm ngừng xông đèn khi thấy 3 – 5 % số nhánh có mắt dưới gai phồng to. - Khi thực hiện xông đèn, bắt buộc phải có biển báo, tránh những nguy hiểm đáng tiếc trong quá trình xử lý ra hoa thanh long. Cấm bảng thông báo nguy hiểm + Ngoài ra, có thể sử dụng đèn cao áp 250W, khi xử lý bóng đèn cao áp 250W có khả năng kích thích thanh long ra hoa sớm. Một bóng đèn cao áp có thể thắp trung bình cho khoảng 15 trụ thanh long, đồng thời lại rất tiết kiệm điện năng, kinh tế là 30 bóng/500 trụ thanh long (tùy theo độ bằng phẳng mỗi vườn). Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu còn khá cao nên chưa được áp dụng rộng rãi. Sử dụng đèn cao áp xử lý ra hoa trái vụ cho thanh long Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long  Công ty cổ phần BVTV Delta
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY THANH LONG Dragon fruit Cây thanh long (tên tiếng Anh là Pitahaya, hay còn gọi là Dragon fruit, thuộc họ Xương rồng, có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia. Thanh 1ong được người Pháp đem vào trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay, tập trung tại Bình Thuận, Long An, Tiền Giang, TP. HCM, Khánh Hòa. Thanh long là cây ngày dài (trường quang kỳ),mùa thanh long tự nhiên xảy ra từ tháng 4 tới vườn tháng 10, rộ nhất từ tháng 5 tới tháng 8. Vào thời điểm ấy giá rẻ , một số nhà vườn tiến bộ đã phát hiện, hoàn chỉnh dần từng bước kỹ thuật thắp đèn tạo quả trái vụ để chủ động thu hoạch, nâng cao hiệu quả kinh tế. 1. Thời vụ trồng - Thường trồng vào tháng 10 - 11 dương lịch, Những nơi thiếu nguồn nước tưới như Bình Thuận, Vũng Tàu, An Giang nên trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5 - 6 dương lịch) nhưng phải chú ý đến việc chuẩn bị hom giống từ trước do lúc này cây đang ra hoa và mang quả, không thể lấy hom trực tiếp được. 2. Chuẩn bị cây giống - Có 4 loại giống được trồng : Phổ biến là Thanh long vỏ đỏ ruột trắng, thanh long vỏ đỏ ruột đỏ, thanh long vỏ đỏ ruột tím. Riêng thanh long vỏ vàng ruột trắng là giống nhập, có giá trị kinh tế cao, đang được trồng thử nghiệm tại Tiền Giang. - Cây giống chuẩn bị đủ về số lượng và tiêu chuẩn cây con đem trồng. Kiểm tra bầu thanh long giống trước khi trồng phải có rễ dài, hom có màu xanh, không sâu bệnh. Cây thanh long giống 3. Chuẩn bị đất trồng - Đào hố rộng 30-40cm để bón phân cho phù hợp: + Cây hom trong bầu ươm thì đào hố sâu khoảng 10cm + Cây hom không trồng trong bầu ươm, thì đào hố sâu 5 cm là vừa. Vì thanh long không trồng quá sâu, cây phát triển chậm. + Nơi đất bằng cần lên luống để tránh ngập úng, làm thối rễ; + Nơi đất dốc cần đào hố sâu 50 x 50 x 50cm. Cự ly giữa các hố khoảng 2,5-3m; - Hố được cuốc trước khi trồng 15 ngày. Bón lót phân vào hố trồng - Bón lót bằng 5kg phân chuồng hoai + 0,2kg phân lân hoặc 0,3kg (NPK 20-20- 15)/hố; - Trộn đều và lấp đầy hố trồng; - Khơi hỗn hợp đất và phân dưới hố lên; - Tạo hố trồng sâu hơn bầu 2 – 4cm; - Đáy hố phẳng; - Rãi thuốc trừ sâu, bệnh; - Lắp 1 lớp đất lên trên lớp phân thuốc dày 5cm. 4. Trồng cây - Mật độ trồng khoảng 700-1.000 trụ/ha, khoảng cách trồng 3 x 3 m hoặc 3 x 3,5m. Thanh long là cây cần nhiều ánh nắng, nếu trồng dầy thì quả nhỏ, bán không được giá. - Có thể bố trí trồng xen các loại cây ngắn ngày khác nhưng phải đảm bảo cho thanh long nhận đầy đủ ánh sáng - Dùng dao lam bóc vỏ bầu cây trước khi trồng sao cho không bị vỡ bầu; - Đặt cây vào giữa hố, cạnh bằng của cây thanh long áp vào cột; - Đặt từ 3 - 4 hom quanh cây chống (trụ), cần chú ý: - Đặt hom cạn 5 cm để tránh thối gốc do đất ẩm. - Đặt áp phần phẳng của hom vào mé trụ để sau này hom ra rễ và bám nhanh vào trụ. Cột hom vào trụ để gió khỏi làm lung lay lúc đầu vì rễ trên không chưa phát triển để bám vào cây trụ. Cách trồng cây thanh long - Sử dụng đất mặt tơi xốp lấp hố; - Ấn đất đảm bảo có độ chặt vừa phải, không làm vỡ bầu cây khi lấp đất; - Dùng dây cột cố định chồi vào trụ trồng tránh làm xê dịch cây ảnh hường đến ra rễ; - Tủ gốc bằng rơm, rạ, cỏ khô, bột xơ dừa; - Tưới nước vừa đủ ẩm gốc. 6. Chăm sóc thanh long sau trồng 6.1. Che tủ giữ ẩm - Có thể trồng cây cỏ đậu hoặc sử dụng rơm rạ, sơ dừa để tủ gốc để giữ ẩm cho đất - Kết hợp trồng xen các loại cây rau ngắn ngày như cà, ớt, rau cải,… vừa che bớt nắng giai đoạn đầu, vừa tăng hiệu quả kinh tế. Vườn thanh long xen cà phổi 6.2. Tưới nước - Tưới nước cho cây mới trồng: Giai đoạn cây con mới trồng chỉ tưới vừa đủ ẩm, có thể tưới 2-3 ngày một lần khoảng 5 lít nước/gốc (trụ) - Tưới nước cho cây giai đoạn phát triển: Giai đoạn kinh doanh cây cần nước rất cao, thân cây thanh long chứa nhiều nước, nên mỗi ngày nên tưới một lần, hoặc 2 ngày một lần, tưới ướt tòan bộ cây. - Tưới nước cho cây giai đoạn cây ra hoa và mang trái: Giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa kết trái thì nhu cầu nước rất cao (trừ lúc trước ra hoa 2-3 tuần không cần tưới nước, để cây chuẩn bị ra hoa), tưới ướt toàn cây. - Giai đoạn cây ra hoa tránh tưới ướt hoa vì có thể làm hoa bị thối, hư. - Giai đoạn mang trái là giai đoạn cần nhiều nước nhất của cây thanh long, vì cây vừa phát triển, vừa nuôi trái, nếu thiếu trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng. Mỗi ngày tưới một lần, tưới ướt cả cây. Tưới nước cho cây thanh long 6.3. Bón phân Bón phân cho 1 trụ (gốc): * Thời kỳ 1-2 năm đầu: Bón lót: 15-20 kg phân chuồng hoai, 100 gam super lân cho một trụ. Bón thúc: 100 g urê + 100 g NPK 16-16-8 vào các giai đoạn 20-30 ngày sau khi trồng, sau đó 3 tháng bón 1 lần. Khi cây ra hoa có thể cấp thêm 50 g phân kali (KCl). - Cách bón: xới nhẹ, rãi xung quanh gốc, lắp phân lại bằng một lớp đất mỏng, bón cách gốc 20-40cm theo tuổi cây. * Thời kỳ từ năm thứ 3 trở đi: Chia làm 8 lần trong năm - Liều lượng bón: 1,08 kg urê + 3,2 kg lân + 0,8 kg KCl. + Lần 1- Sau khi thu hoạch. 100% phân lân + phân chuồng hoai + 200g urê + Lần 2 - Cuối tháng 12: 500g urê + 150 g KCl + Lần 3 - Cuối tháng 2: 180 g urê + 150 g KCl + Lần 4 - Cuối tháng 4: 100 g urê + 100 g KCl. + Từ lần 5 đến lần 8: cứ mỗi tháng bón 1 lần, liều lượng như lần 4. + Rải phân đều trên bề mặt đất xung quanh gốc, xới nhẹ cho phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó ủ rơm hay cỏ khô, sau khi rải phân cần tưới nước. + Ngoài ra có thể phun bổ sung thêm các loại phân vi lượng bằng cách phun thêm phân bón lá vào 10 ngày sau khi đậu trái và lúc phát triển nhanh. + Đối với vườn thanh long từ 3-5 năm tuổi: theo công thức 500g N + 500g P2O5 + 500g K2O/trụ/năm tương đương 1,08kg Urea + 3,6kg lân super + 0,83kg KCl. + Đối với vườn thanh long từ 5 năm tuổi trở lên, bón lượng phân là: 750g N + 500g P2O5 + 750g K2O/ trụ/ năm tương đương 1,63kg Ure + 3,6kg lân super + 1,25kg KCl. - Cách bón: rãi đều trên mặt đất xung quanh trụ (gốc) thanh long, xới nhẹ cho hạt phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó tủ bằng rơm rạ hay cỏ khô, sau khi rãi phân cần tƣới nƣớc cho phân tan. - Thời gian bón: Chia làm 8 lần bón + Lần 1: ngay sau khi kết thúc thu hoạch vụ chính (vào khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10dl) hoặc có thể áp dụng khi đã thu hoạch 80% số lượng quả trên vườn. Bón 3,6kg phân lân + 200g Urea/ trụ (cây từ 3-5 năm tuổi) hoặc 3,6 kg phân lân + 300g Urea (cây > 5 năm tuổi). + Lần 2: cuối tháng 12 dương lịch. Bón 200g Urea + 150g KCl/ trụ (cây 3-5 năm tuổi) hoặc 300g Urea + 250g KCl (cây > 5 năm tuổi). + Lần 3: cuối tháng 2 dương lịch. Bón 200g Urea + 150g KCl/ trụ (cây 3-5 năm tuổi) hoặc 300g Urea + 250g KCl (cây > 5 năm tuổi). + Lần 4: cuối tháng 4 dương lịch. Bón 100g Urea + 100g KCl/ trụ (cây 3-5 năm tuổi) hoặc 300g Urea + 250g KCl (cây > 5 năm tuổi). + Từ lần 5- lần 8 cứ mỗi tháng/lần với liều lượng và loại phân như lần 4. Bón phân hữu cơ cho thanh long * Phân bón lá: - Sau khi thu hoạch và cắt tỉa cành tạo tán, tiến hành phun phân bón lá 30-10-10, phun 3 lần, cách nhau 7 ngày, 15g/ bình 8 lít. - Khi chuẩn bị ra hoa, phun phân bón lá 10-60-10, phun 2 lần, cách nhau 7 ngày, sau đó chuyển sang phun phân bón lá 6-30-30, phun 2 lần, cách nhau 7 ngày, 15g/ bình 8 lít. - Trong giai đoạn nuôi trái phun Dưỡng trái thanh long, Siêu nuôi trái, 7 ngày/lần, 50ml/ bình 25 lít. - Trước thu hoạch (15-20 ngày), phun phân bón lá Canxibo, 50ml/ bình 25 lít, phun 2 lần, cách nhau 7 ngày. Phun phân bón lá cho thanh long Ghi chú:  + Có thể sử dụng các loại phân bón lá có công dụng tăng chất lượng quả đạt tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu. + Để tăng chất lượng quả đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (tai lá xanh, cứng, 3 tai ở đầu chóp quả dài ≥ 7cm: phun kết hợp loại bón lá có trên thị trường theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Tốt nhất nên chọn các phân có nguồn gốc hữu cơ để phun, cần lưu ý: tránh sử dụng các loại phân bón lá có chứa phân chất kích thích sinh trưởng, vì phân có thể làm cho trái phát triển không bình thường nên phẩm chất trái không đạt. MỘT SỐ SẢN PHẨM PHÂN BÓN VI LƯỢNG CHUYÊN DÙNG TRÊN CÂY THANH LONG        Công ty cổ phân BVTV Delta
Kỹ thuật
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật "vuốt tai" trái thanh long
KỸ THUẬT “VUỐT TAI” TRÁI THANH LONG Vuốt tai thanh long là biện pháp kỹ thuật nhằm giữ cho tai trái thanh long có màu xanh, dài, dày đẹp khi chín. Từ mục đích đó có thể ứng dụng một số chất kích thích sinh trưởng ngoại sinh có tác dụng ngăn cản quá trình sinh sắc tố khi trái bước vào giai đoạn chín giữ lại màu xanh của diệp lục như Alpha-Naphthalene Acetic Acid; Beta-Naphtoxy Acetic Acid; Cytokinin. Chất kích thích sinh trưởng ngoại sinh có tác dụng kéo dài tế bào giúp tai thanh long dài ra, dày lên như Gibberellic Acid (GA3) và các yếu tố dinh dưỡng đa trung vi lượng giúp tai có màu xanh bền đẹp khi chín. 1. CÔNG THỨC VÀ CÁCH PHA THUỐC  Công thức pha thuốc: Thiên nông 100gam ( 1 gói)  + MIRACLE – Gro  1 gói  + GA3 1 gam pha cho 1 lít nước (riêng GA3 bạn có thể dùng loại gói dạng bột 1 g tai thanh long sẽ đẹp hơn) Cách pha thuốc: Cho lần lượt từng thứ một vào 1 lít nước sạch khuấy đều cho tan hết rồi cho sản phẩm tiếp theo làm như trên cho đến hết. 2. THỜI GIAN VÀ CÁCH VUỐT TAI THANH LONG 2.1. Vuốt trái thanh long sống - Có thể vuốt trái sống thanh long (tức là khi trái đang còn xanh, hoặc mới chín): Vuốt trước khi thu hoạch 15 ngày tức là sau rút râu 25 - 27 ngày). - Chỉ vuốt khoảng ¼ tai trái về phía trên, lưu ý khi vuốt trái sống không vuốt tai cụt vì rất dễ bị chảy thuốc xuống trái dẫn đến bị lem trái. Vuốt tai trái thanh long sống Lưu ý: + Vuốt tai trái thanh long khi sống ngoài việc giúp tai xanh và cứng nó còn có tác dụng giúp trái mau lớn hơn. + Hạn chế: vuốt giai đoạn này rất mạo hiểm, rất dễ bị lem trái. + Đặc biệt tránh vuốt tai thanh long sống vào những hôm trời mưa, trái bị lem, ảnh hưởng đến mẫu mã. 2.2. Vuốt tai trái thanh long chín - Lần 1: Khi trái thanh long chín đều tiến hành vuốt tai (7 hoặc 10 ngày trước khi thu hoạch). - Lần 2: Trước khi thu hoạch đi bán 2 - 3 ngày tiến hành vuốt tai 1 lần nữa. Vuốt tai trái thanh long chín Cách vuốt: Vuốt khoảng ½ tai. - Khi vuốt tai vào giai đoạn này nếu như gặp trời mưa, thì nên vuốt lại vì mưa xuống làm trôi thuốc, không có tác dụng. 3. DỤNG CỤ VÀ CÁCH THỨC VUỐT TAI THANH LONG 3.1. Dụng cụ dùng để vuốt tai thanh long - Dùng 1 chai nhựa để đựng thuốc, chai có đục 1 lỗ ở nắp. - Đeo bao tay ni nông trong cùng để tránh thuốc tiếp xúc tới da người. - Dùng 2 - 3 lớp bao tay vải ở ngoài để thấm thuốc vuốt tai thanh long. Lưu ý: Không tự ý pha thuốc liều lượng quá đặc, có thể sẽ làm cháy và vàng tai thanh long. 3.2. Cách thức vuốt tai thanh long hiệu quả - Thực hiện “Vuốt tai” bằng dung dịch thuốc vừa mới pha được. Bỏ thuốc vào trong chai có đục 1 lỗ ở nắp. - Đeo 1 bao tay ni lông trong cùng, sau đó đeo 2 - 3 lớp bao tay vải ở ngoài dùng để thấm thuốc. - Người vuốt đổ thuốc vào ngón cái và ngón trỏ rồi dùng 2 ngón ấy vuốt ướt thuốc từ gốc đến ngọn tai trái. Kỹ thuật vuốt tai trái Lưu ý: Mỗi trái thanh long có hơn chục tai, trong đó những tai ở đuôi trái dài nhất và ngắn dần về phía đầu trái. Muốn trái đẹp không nên vuốt bỏ sót một tai nào. Chỉ sau 2 - 3 ngày sau vuốt thuốc, tai trái thanh long chuyển màu xanh ngắt, tai trái có vẻ dày, thẳng, dài thêm, cho mẫu mã trái đẹp. Công ty cổ phần Delta   Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long Xử lý ra hoa thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/74/xu-ly-ra-hoa-thanh-long Sản phẩm sử dụng trên cây thanh long https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY XOÀI Mangifera indica L. - Xoài được xem như là cây ăn trái quan trọng chiếm phần lớn thị phần trái cây trong nước, được sử dụng rộng rãi từ trái còn xanh đến trái chín. Diện tích trồng xoài của cả nước năm 2017 vào khoảng hơn 92.000ha với sản lượng 790.000 tấn xoài hàng năm. - Hiện nay, xoài đang được phát triển theo hướng xuất khẩu nên các nhà vườn rất quan tâm đến kỹ thuật canh tác và chăm sóc cây xoài. Giúp tăng năng suất trên vườn xoài và đồng thời tăng thu nhập phát triển kinh tế gia đình. 1. THỜI VỤ Nên trồng vào đầu mùa mưa, từ tháng 5 – 7 dương lịch. Tuy nhiên, nếu đủ nước tưới và che mát, có thể trồng xoài bất cứ lúc nào trong năm. 2. NHÂN GIỐNG - Có nhiều giống xoài đang được trồng ở ĐBSCL như: xoài ăn chín: Xoài Cát Hòa Lộc, Xoài Cát Chu, Xoài Thanh Ca, Xoài Úc và một số giống xoài ăn sống như: Xoài Đài Loan, Xoài Thái, Xoài hòn, Xoài Tượng, Xoài ghép, Xoài Nam Doc Mai, Xoài Keo,… - Có 3 phương pháp nhân giống: trồng bằng hột, cành ghép và trồng bằng cây ghép. - Do trồng bằng hột, thời gian cho trái rất lâu (6 – 8 năm). Nên bà con thường sử dụng giống trồng bằng cây ghép mua tại các cửa hàng giống cây trồng. Cây giống xoài Thái 3. LÀM ĐẤT Lên liếp trồng xoài từ đất ruộng Lên liếp trước khi trồng, tùy vùng có độ cao địa hình khác nhau mà bà con thiết kế liếp cho phù hợp. Vùng ĐBSCL đất thấp và có nhiều sét, dễ bị úng nước nên trồng cây trên mô, đường kính mô từ 80 - 100 cm, cao 30 – 60 cm (tùy thuộc vào cao độ địa hình đất và hệ thống đê bao chống lũ). Đất làm mô có thể là đất bãi bồi ven sông, đất mặt ruộng, đất mặt vườn cây ăn trái. Đào hố trên mô kích thước 60x60x60 cm, bón lót 20kg phân chuồng hoai mục + 200- 300 g vôi bột + 0,5 kg Super Lân vào hố, lấp đất để khoảng 30 ngày mới tiến hành trồng cây. 4. KHOẢNG CÁCH TRỒNG Vì xoài là cây đại thụ có khả năng sống rất lâu (từ 30-50 năm), đồng thời xoài ưa sáng và có trái ở chồi ngoài tán cây, nên không trồng quá dầy. Có thể trồng thưa với khoảng cách 8x8 m hoặc 10x10m thuận lợi cho việc chăm sóc và di chuyển. 5. TRỒNG CÂY - Sau khi ủ hố 1 tháng, bà con đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, bỏ túi nilon và đặt bầu cây vào giữa, lấp đất sao cho vừa bằng cổ rễ, sau đó nén chặt xung quanh. Cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc lại để tránh lay gốc, dẫn đến chết cây. Sau khi trồng, phủ rơm, rác mục xung quanh gốc và tưới nước giữ ẩm cho cây trong tháng đầu để tạo độ ẩm cho rễ phát triển. - Có thể nhúng bầu đất hoặc tưới gốc bằng Bio Delta liều lượng 50ml/ 25 Lít nước để kích thích ra rễ. 6. TỈA CÀNH, TẠO TÁN - Sau khi trồng một thời gian vài tháng (thường là 3 tháng), từ phần chồi ghép có mọc lên 3 tầng lá ( 3 chồi) ta tiến hành hãm ngọn. Từ vị trí hãm, sẽ có nhiều chồi mới mọc lên, ta chỉ để lại 3 chồi khỏe mạnh nhất – gọi là tầng cấp 1. Khi mỗi chồi này mọc được 3 cơi lá tiếp theo, ta tiến hành hãm ngọn lần 2. Tiếp tục như vậy lần thứ 3 thì dừng lại để cây phát triển tự nhiên. Cây xoài con được 4 cơi đọt - Hàng năm tiến hành cắt bỏ các cành mọc sâu trong tán, cành bệnh, cành già cỗi, cành mọc quá gần mặt đất, cuống quả, cành vụn của mùa trước, việc cắt tỉa cành nên tiến hành ngay sau khi thu hoạch. 7. BÓN PHÂN - Phân bón là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc cho trái cách năm của xoài. Sau năm đạt năng suất cao (trúng mùa) cần gia tăng lượng phân bón để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây đủ sức nuôi trái ở năm sau. Bón phân - Bón phân được chia thành 2 giai đoạn: + Giai đoạn kiến thiết (2 năm đầu): Chia thành 2 đợt bón/ năm (tháng 4 – 5 và tháng 11 dl): bón 150 - 300 g phân NPK 16-16-8 và 100 - 200g Urea/ cây/ năm hoặc pha 01 muỗng canh phân NPK 16-16-8 với ½ muỗng Urea/ thùng 10 lít nước, tưới vào 5, 6 gốc, định kỳ 30 ngày/ lần. + Phân trung vi lượng: Bón bằng cách đổ gốc hoặc phun xịt qua lá Bio Delta hoặc Thần dược với liều lượng 50ml/ 25 lít nước, mỗi năm 2-3 lần, tốt nhất là giai đoạn cây đang ra chồi non, ra lá mới. Có thể kết hợp phun chung với thuốc bảo vệ thực vật để giảm công lao động. Phân bón vi lượng: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon + Giai đoạn kinh doanh (năm thứ 3 trở đi): + Sau khi thu hoạch, cắt tỉa cành: 550g – 300g – 240g (N-P-K) tương đương phân Urea 1,2 kg/ cây/ năm, Lân Long Thành: 2,3 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,4 kg/ cây/ năm. Phun phân vi lượng Ruby liều lượng 50ml/ 25 lít nước giúp cây phục hồi sau tổn thương do cắt tỉa cành. + Trước khi ra hoa (tháng 9-10): 180g – 300g – 240g (N-P-K)g/ cây/ năm tương đương phân Urea:0,4 kg/ cây/ năm, Lân Long Thành: 2,3 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,4 kg/ cây/ năm. + Sau đậu trái 30 - 35 ngày: 360g – 300g – 480g (N-P-K) g/ cây/ năm tương đương phân NPK 20-20-15: 1,5 kg/ cây/ năm, Phân Urea: 0,13 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,5 kg/ cây/ năm. Phun Canxi Bo và Siêu nuôi trái (50ml/ 25 lít nước) giúp trái to, đẹp màu, hạn chế hiện tượng nứt trái. - Cách bón phân: xới xáo nhẹ đất nơi hình chiếu tán cây, sau đó bón phân lấp đất lại và tưới nước cho cây. 8. XỬ LÝ RA HOA Xem bài Xử lý ra hoa xoài trái vụ: https://congtydelta.com/bai-viet/72/xu-ly-ra-hoa-xoai-trai-vu 9. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH - Xoài có nhiều sâu bệnh, gây thiệt hại nhiều nhất ở giai đoạn cây ra đọt non và lúc trổ bông, nhất là khi xoài trổ bông nghịch vụ trong mùa mưa. - Sâu hại quan trọng như: Rầy bông xoài, Bọ trĩ, Bọ cắt lá, Sâu ăn bông, Ruồi đục trái, Sâu đục trái,…và một số loại thuốc phòng trị như: Penalduc 145EC, Anh hung diệt sâu, Vua sâu,… Thuốc trừ sâu rầy: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray - Bệnh hại quan trọng như: Bệnh thán thư, bệnh phấn trắng, bệnh chết đọt, bệnh bồ hóng, bệnh đốm rong, Bệnh khô hoa, Đốm vi khuẩn, … và một số loại thuốc phòng trị như: Bio Rosamil 72WG, Amity Top 500SC, Pyramos 40SL,… Thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 10. BAO TRÁI Bao trái xoài là vấn đề cần thiết trong hệ thống sản xuất trái cây thương phẩm. Bao trái hạn chế tác động vật lý giữa các trái với nhau, giảm sâu bệnh hại trên trái xoài, tạo mẫu mã đẹp cho trái. Bao trái 11. THU HOẠCH Tùy hình thức tiêu thụ mà nhà vườn chọn thời điểm thu hoạch. Thường sẽ thu hoạch khi trái già tránh dập trái khi vận chuyển đi xa. Trái có thể thu hoạch Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan: Ruồi đục trái xoài: https://congtydelta.com/bai-viet/73/ruoi-duc-trai-xoai Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long Kỹ thuật trồng mít thái: https://congtydelta.com/bai-viet/70/ky-thuat-trong-mit-thai          
Ruồi đục trái xoài
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Ruồi đục trái xoài
RUỒI ĐỤC TRÁI XOÀI Bactrocera sp. Loài này chủ yếu hiện diện ở các quốc gia trồng cây ăn tái vùng Đông Nam Á. Gây hại quan trọng trên nhiều loại cây ăn trái như xoài, nhãn , mận, ổi, chôm chôm, cam,…. 1. Đặc điểm hình thái - Ruồi có cơ thể dài từ 6 – 9 mm, sải cánh rộng khoảng 13mm. - Đầu màu vàng, có dạng hình bán cầu, mặt trước màu nâu đỏ với 6 chấm nhỏ màu đen, phía sau đầu có nhiều lông nhỏ. - Ngực màu nâu đỏ hoặc màu nâu tối. Hai bên ngực có 2 đốm màu vàng ở góc phía trước, kế đến là 2 vệt vàng dài đến đuôi ngực, phần ngực giáp với phần bụng có một vệt màu vàng to. - Bụng có 2 sọc ngang màu vàng, sọc phía trên nhỏ hơn sọc phía dưới, giữa 2 sọc này là một sọc màu đen, đồng thời cũng có một sọc dọc chạy từ sọc vàng cuối cùng đên cuối bụng giống như hình chữ T. - Cánh trong có màu khói,gần cạnh trước có màu đậm hơn. - Ruồi cái có cơ thể to hơn ruồi đực và có bộ phận đẻ trứng dài. Female (Con cái), Male (con đực) - Ruồi sống khoảng 20 – 40 ngày. Sau khi vũ hóa 7 – 14 ngày, ruồi bắt đầu đẻ trứng. Một ruồi cái có thể đẻ khoảng 150 – 200 trứng, trung bình 50 trứng trong vòng 30 ngày. - Trứng ruồi có hình hạt gạo, dài khoảng 1 mm, lúc mới đẻ màu trắng sữa, khi sắp nở chuyển sang màu vàng nhạt. Thời gian ủ trứng từ 1-2 ngày. Trứng ruồi đục trái - Dòi mới nở dài khoảng 1,5 mm, lớn đủ sức dài từ 6 – 8 mm, màu vàng nhạt, khi sắp vũ hóa chuyển sang màu nâu đỏ. Nhộng dài khoảng 5 -7 mm, thời gian nhộng kéo dài từ 10-14 ngày. Vòng đời ruồi đục trái 2. Tập quán sinh sống và cách gây hại - Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc thủng  vỏ trái cây và đẻ trứng vào chỗ tiếp giáp giữa vỏ và thịt, trứng được đẻ thành từng chùm trong một lỗ khoét trên trái. Ruồi cái đẻ trứng vào trái xoài - Dòi nở ra đục ăn thịt trái cây, tuổi càng lớn dòi càng đục sâu vào phía trong trái làm trái bị thối và rụng trái, nơi bị hại có vết thâm khi ấn nhẹ vào dịch nước sẽ rỉ ra (3 ngày sau khi ruồi đẻ trứng). Dòi làm nhộng dưới đất sâu khoảng 3 – 7 cm. Ấu trùng gây hại trái xoài 3. Biện pháp phòng trị - Thu lượm những trái bị ruồi gây hại đem xử lý để giết dòi trong trái. - Đặt bẫy Methyl eugenol để diệt ruồi trưởng thành. - Phun bã mỗi protein trộn thuốc hóa học để giết ruồi trưởng thành trước khi đẻ trứng, khi trái trưởng thành phun định kỳ một lần / tuần. - Sử dụng túi chuyên dùng để bao trái. - Phun thuốc xua đuổi. Bài viết nổi bật Sâu vẽ bùa: https://congtydelta.com/bai-viet/55/sau-ve-bua Sâu hại ớt: https://congtydelta.com/bai-viet/65/quan-ly-sau-hai-tren-ot Xử lý ra hoa xoài trái vụ: https://congtydelta.com/bai-viet/72/xu-ly-ra-hoa-xoai-trai-vu Công ty cổ phần BVTV Delta
Xử lý ra hoa xoài trái vụ
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Xử lý ra hoa xoài trái vụ
XỬ LÝ RA HOA XOÀI   1. Giới thiệu - Trong điều kiện tự nhiên ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cây xoài thường ra hoa tự nhiên vào tháng 12-1 và thu hoạch tập trung từ tháng 4-5. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu thị trường, thì việc cho cây xoài ra hoa trái vụ luôn được sự quan tâm của các nhà vườn. - Theo một số nghiên cứu các biên pháp kích thích ra hoa như: Xông khói (Gonzales, 1923 tại Philippines) ứng dụng tác động của khí CO và CO2 cùng với nhiệt gây ra bởi việc hun khói, kỹ thuật cắt rễ nhằm làm giảm sự sinh trưởng của cây, khấc thân hay khoanh cành, điều khiển sự ra hoa bằng hóa chất, các chất kích thích ra hoa: Paclobutrazol (PBZ), Uniconazol (UCZ), cycocel, ethephon, chlorate kali (KClO3),... - Trong đó, phương pháp xử lý ra hoa bằng chất kích thích Paclobutrazol (PBZ) được áp dụng phổ biến. Tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và sự nhạy cảm của giống, việc xử lý PBZ có thể tạo ra trái mùa nghịch, cho trái sớm, làm giảm hiện tượng cho trái cách năm cũng như những cây ra trái không ổn định. - Paclobutrazol là một chất làm chậm tăng trưởng thông qua sự ức chế quá trình sinh tổng hợp GA (Gibberellin) thuộc nhóm triazole có vòng 5 cạnh, trong đó có 2 nguyên tử Cacbon và 3 nguyên tử Nitơ có tên hóa học là (2RS, 3RS) -1- (4-chlorophenyl)-4,4-dimethylethyl- 2-(1H-1,2,4-triazol-l-yl) pentan-3-ol và có công thức hoá học tổng quát là C16H20ClN3O. PBZ có thể được hấp thu qua lá, tán cây, thân và rễ, được di chuyển qua mô xylem đến bên dưới chồi sinh mô. Ở đó nó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp GA và làm chậm tốc độ phân chia tế bào, làm cho thực vật trở nên già cỗi hơn làm gia tăng việc sản xuất hoa và nụ trái. 2. Quy trình xử lý xoài ra hoa 2.1 Giai đoạn sau khi thu hoạch Cây xoài ra hoa trên chồi tận cùng nên việc kích thích cho xoài ra đọt non là yếu tố quan trọng quyết định khả năng ra hoa của xoài. Do đó, sau khi thu hoạch xoài chính vụ vào tháng 4-5 cần tiến hành các biện pháp kỹ thuật để thúc đẩy cây ra đọt non tập trung để dễ phòng trừ sâu bệnh và kích thích ra hoa. Các biện pháp quan trọng cần thực hiện là: - Tỉa bỏ những phát hoa đã rụng trái, cành vô hiệu trong mình mẹ, cành ốm yếu, bị sâu bệnh hoặc che rợp lẫn nhau gây trở ngại cho việc chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch. Thông thường những phát hoa đã rụng bông và trái non phải mất 3-4 tháng mới rụng. Do đó, nếu cắt bỏ những phát hoa nầy sẽ kích thích cho cây ra đọt sớm hơn. - Bón phân: Giúp cho cây ra chồi mập, lá to, tích lũy nhiều chất dự trữ giúp cho cây có khả năng ra hoa và nuôi trái trong mùa sau. Đây là giai đoạn thúc đẩy sự sinh trưởng của cây nên công thức phân thường có đạm và lân cao hơn so với kali như 2:1:1, 2:2:1 hay 3:2:1. Lượng phân bón tùy theo tuổi cây, tình trạng sinh trưởng và năng suất mùa trước. Xới đất quanh gốc bón phân cho cây - Tưới nước: 2-3 ngày/ lần giúp cho cây xoài ra đọt tập trung. Đối với cây già (20-30 năm tuổi) khả năng ra đọt kém, cần kích thích cho cây ra đọt non bằng cách phun urê ở nồng độ 1,5-2,0% hoặc gibberellin ở nồng độ từ 5-10 ppm. 2.2 Giai đoạn ra đọt non - Sự phát triển của đọt non có ảnh hưởng rất quan trọng đến khả năng ra hoa và nuôi trái của cây xoài, do đó cần chú ý phòng trừ các loại sâu, bệnh để bảo vệ cho đọt non xoài phát triển tốt. - Các loại sâu bệnh cần chú ý phòng trừ trong giai đoạn này là: Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), Rầy bông xoài (Idiocerus spp.) hay một số lọai sâu ăn lá như câu cấu xanh (Hypomeces squamosus), bọ cắt lá (Deporaus marginatus Pascoe). - Trường hợp bón phân không đúng lúc hay lượng phân không đầy đủ chồi non xuất sẽ ngắn, ốm yếu. Có thể bổ sung bằng cách phun các lọai phân bón qua lá như phân vi lượng Ruby của công ty Delta (https://congtydelta.com/san-pham/568/ruby-chai-500-ml).   2.3 Xử lý paclobutrazol - Thời điểm xử lý: Khi lá non đã phát triển hoàn toàn, lá có màu đỏ đồng hay vàng nhạt (15-20 ngày tuổi) hay lá có màu đọt chuối đến màu xanh nhạt. Không nên xử lý hóa chất khi lá đã già (có màu xanh đậm). Lá non có màu đồng - Liều lượng: 1-2 g nguyên chất/ m đường kính tán hoặc sản phẩm thương mại Paclo 25 liều lượng 10g/ 10 lít nước cho 1 m đường kính tán. Liều lượng hóa chất tùy thuộc vào tuổi cây, tình trạng sinh trưởng của cây. Liều lượng paclobutrazol cũng tùy thuộc vào từng giống. Nồng độ quá cao có thể làm cho phát hoa ngắn hay chùn lại, không có khả năng đậu trái. - Cách xử lý tưới vào đất: Xới đất xung quanh theo hình chiếu của tán cây, sau đó pha hóa chất với 20-50 lít nước tưới đều vùng đất đã xới. Đối với vùng đất tơi, xốp, có nhiều cát nên tưới với lượng nước ít hơn để tránh cho dung dịch hóa chất bị thất thoát do bị thấm sâu qua khỏi tầng rễ. Một tuần sau khi xử lý hóa chất nên tưới nước đầy đủ để rễ cây xoài có thể hấp thụ hóa chất hoàn toàn. 2.5 Kích thích ra hoa - Sau khi xử lý PBZ khoảng 60-90 ngày, khi lá chồi ngọn có 2 mép dợn sóng phun thiourea ở nồng độ 0,3-0,5% hoặc KNO3 200 - 250g/ 10 lít nước hoặc PBZ 150g/ 25 lít nước. - Cần chú ý là điều kiện mưa dầm, ẩm độ đất cao có thể kích thích mầm lá phát triển thay vì mầm hoa. Do đó chỉ nên kích thích ra hoa khi trời khô ráo và rút nước trong mương khô kiệt cho đến khi mầm hoa xuất hiện. 2.6 Giai đoạn nhú mầm hoa (cựa gà) Khi nhú mầm hoa (cựa gà) (khoảng 8 ngày sau khi kích thích ra hoa), có thể phun ngừa bệnh thán thư bằng Amity Top 500SC, ngừa bọ trĩ bằng Penal Duc 145EC kết hợp vi khuẩn Pyramos 40SL. Bổ sung Canxi Bo liều lượng 50ml/ 25 lít nước giúp. Có thể phun lập lại sau khi mầm hoa ra khoảng 1 tấc. Link thuốc trừ sâu: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray Link thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 2.6  Giai đoạn nở hoa (bung chà) - Hoa xoài thụ phấn chéo, chủ yếu nhờ côn trùng như ruồi nên tuyệt đối không phun các loại thuốc trừ sâu bệnh, phân bón trong giai đoạn nầy để không làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn của hoa. 2.7 Giai đoạn phát triển trái - Giai đoạn 7-10 ngày sau khi đậu trái (khi thấy “trứng cá”): phun phân bón lá như: Ruby (50ml/ bình 25 lít nước) để giúp quá trình phân chia tế bào và làm giảm sự rụng trái non. - Giai đoạn 28-35 ngày sau khi đậu trái: Chú ý phòng ngừa sâu đục trái (hột) (Deandis albizonalis) bằng Vua sâu. Phun Dưỡng trái xoài - Giai đoạn 30-35 ngày sau khi đậu trái: Bón phân gốc với tỉ lệ 1:1:1 để giúp cho trái phát triển. Có thể phun canxi bo để hạn chế sự nứt trái. Có thể phun 2-3 lần cách nhau 10 ngày/lần để làm tăng phẩm chất trái. - Giai đoạn 55-60 ngày sau khi đậu trái: Nếu trái phát triển chậm nên bón thêm phân vào đất để giúp trái phát triển tốt. Phun Siêu to trái xoài. Bao trái để ngừa sâu, bệnh. Bao trái bằng túi lưới (bên trái) và túi giấy (bên phải) - Giai đoạn 70-75 ngày sau khi đậu trái: Phun phân vi lượng Ngọt trái lên trái để tăng phẩm chất trái như màu sắc, độ ngọt. - Giai đoạn 84-90 ngày sau khi đậu trái: Thu hoạch khi trái đã phát triển bề rộng, bề ngang, “lên màu” hoặc tỉ trọng bằng 1,02. Có thể xác định thời điểm thu hoạch thích hợp bằng cách cho trái xoài vào nuớc, nếu trái chìm dưới đáy từ từ thì vừa thu hoạch, nếu nổi lơ lửng là chưa thật già và nếu chìm quá nhanh tức là trái đã quá già. Trái già có thể thu hoach   Các sản phẩm phân bón lá bổ sung dinh dưỡng cho cây xoài: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon       Công ty cổ phần BVTV Delta
Bệnh héo rũ trên cây dưa hấu
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh héo rũ trên cây dưa hấu
BỆNH HÉO RŨ TRÊN DƯA HẤU Tác nhân do nấm Fusarium oxysporum f.sp niveum - Triệu chứng: + Bệnh gây hại ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây. Biểu hiện đầu tiên của cây thường xuất hiện ở các lá gần gốc bị héo, dần đến ngọn đều có hiện tượng héo rũ vào buổi trưa và tươi trở lại vào buổi chiều hay tối. Triệu chứng héo lá và héo từng phần của cây sẽ xảy ra trong vài ngày, sau đó triệu chứng héo sẽ lan ra cả cây, làm cho cây chết. Có sọc nâu theo mạch nhựa ở rễ hoặc cổ rễ.           Cây bị héo vào buổi trưa nắng Cây chết héo - Con đường lây truyền + Fusarium oxysporum f.sp niveum có thể lây qua hạt giống, động vật thảy phân, nông cụ, nước tưới, gió và mưa. + Thời gian ủ bệnh là 17 ngày sau khi tấn công và 30 ngày sau bệnh sẽ biểu hiện ra bên ngoài. Nhiệt độ thích hợp là 26-280C cần thiết cho sự lan truyền. - Lưu tồn + Mầm bệnh có thể lưu tồn qua hạt, đất hay xác bã thực vật dưới dạng bào tử áo. Khả năng lưu tồn trong đất của mầm bệnh là rất lâu (16 năm). - Sự xâm nhiễm + Nấm có thể xâm nhiễm vào rễ non hoặc qua vết thương bởi tuyến trùng và côn trùng, phát triển bệnh bên trong mạch dẫn nước và lan lên hệ thống mạch dẫn trong thân. Các bào tử hình thành đông đúc trong mạch dẫn, cản trở luồng nước di chuyển gây hiện tượng cây héo rồi chết. - Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh lên sự phát sinh bệnh + Bệnh thường gây hại nặng ở vùng có nhiều ánh sáng, đất cát, đất có tính axit, và nhiệt độ từ 25-27 0C. - Biện pháp phòng trị + Nhổ bỏ và tiêu hủy cây bị bệnh, sử dụng gốc ghép bầu. Cần phát hiện sớm để tránh lây lan cho cây khác, phun BioRosamil 72WG (pha 75g/ bình 25 lít nước), Unizebando 800WP (pha 75g/ bình 25 lít nước), Amity top 500SC  (15 – 25 ml/bình 25 lít nước), Siêu sạch bệnh(25ml/ bình 25 lít) để phòng trị bệnh.                Sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh     Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Bệnh héo xanh trên ớt: https://congtydelta.com/bai-viet/67/benh-heo-xanh-tren-cay-ot Bệnh thán thư trên ớt: https://congtydelta.com/bai-viet/63/benh-than-thu-ot Phòng trừ bệnh do vi rút và vi khuẩn hại gừng: https://congtydelta.com/bai-viet/69/phong-tru-benh-do-vi-rut-va-vi-khuan-hai-gung  
Bệnh héo xanh trên cây ớt
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh héo xanh trên cây ớt
BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT Tác nhân: do vi khuẩn Ralstonia solanacearum Triệu chứng - Bệnh thường gây hại trong mùa mưa và xảy ra tất cả các giai đoạn phát triển của cây, nhưng thường giai đoạn ra hoa kết trái trở về sau. - Bệnh xảy ra rải rác trên từng cây hoặc từng khóm cây ở giữa ruộng. - Triệu chứng đầu tiên đọt non bị héo vào buổi trưa, tươi lại vào buổi chiều và sáng hôm sau. Sau vài ngày bất thình lình các lá già bên dưới héo nhanh nhưng lá không vàng ( vẫn giữ màu xanh nhưng khô). Triệu chứng héo vào buổi trưa nắng - Tách phần vỏ ở gốc thân ở phần gốc rễ ta thấy các mạch nhựa chuyển thành màu xám đen đến nâu đen. Nếu nhúng phần bị cắt trong ly nước trong sẽ thấy dòng vi khuẩn tuôn ra có màu trắng sữa. Mạch nhựa hóa nâu và dòng tuôn vi khuẩn Phòng trị - Lên liếp cao thoát nước tốt, bón hữu cơ đã ủ hoai mục. - Luân canh không trồng họ cà ớt trên ruộng bị nhiễm bệnh năng 2-3 năm. - Nhổ và tiêu hủy các cây bị bệnh nặng để tráng lây lan. Rải vôi bột và trộn đều vào chỗ gốc cây vừa nhổ. - Tưới thuốc đặc trị vi khuẩn như Kasuduc 3SL (35 - 40ml cho 1 bình 25 lít), Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) vào gốc cây mới bị bệnh.                   Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh Công ty cổ phần BVTV Delta  
Dinh dưỡng lúa
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Dinh dưỡng lúa
DINH DƯỠNG CÂY LÚA - Phân đa lượng: Đa lượng là số lượng nhiều. Phân NPK thuộc loại đa lượng vì cây lúa cần được bón với số lượng nhiều thường là hàng trăm kí trên hecta. - Phân trung lượng: Trung là trung bình, nằm giữa, do cây cần số lượng ít hơn phân NPK, các chất này gọi là trung lượng vì cây vẫn cần nhưng lượng hút vào ít hơn NPK; nếu có bị thiếu cũng không gây hậu quả nghiệm trọng như các yếu tố đa lượng. - Phân vi lượng: Các chất vi lượng thường chỉ bón từ 0,5-2kg trên ha là đủ. Do vậy không phải đất nào cũng thiếu vi lượng rõ rệt như các nguyên tố đa lượng. 1. Quy luật hấp thụ dinh dưỡng của cây lúa - Khi lúa đẻ nhánh hấp thụ ít. - Khi lúa trổ đòng là thời kỳ hấp thụ phân nhiều nhất và cường độ hấp thụ mạnh nhất. - Sau khi ra bông cho đến khi lúa chín lượng hấp thụ phân giảm. Cây lúa hấp thụ dinh dưỡng theo từng giai đoạn 3. DINH DƯỠNG ĐẠM - Vai trò: Là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân. - Triệu chứng thiếu: Cây lúa bị lùn, nở bụi ít, chồi nhỏ, lá ngắn hẹp, trở nên vàng và rụi sớm, cây lúa còi cọc không phát triển. Trong giai đoạn sinh sản bông lúa sẽ ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và có nhiều hạt thối hóa. Triệu chứng thiếu đạm - Triệu chứng dư: cây lúa phát triển thân lá quá mức, mô non mềm, dễ ngã, tán lá rậm rạp, lượng đạm tự do trong cây cao, nên cây dễ nhiễm bệnh, làm giảm năng suất rất nhiều.  Triệu chứng dư đạm 4. DINH DƯỠNG LÂN - Vai trò: Thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây, kích thích rễ phát triển, giúp cây lúa mau lại sức sau khi cấy, nở bụi mạnh, kết nhiều hạt chắc, tăng phẩm chất gạo, giúp lúa chín sớm và tập trung hơn. - Triệu chứng thiếu: + Cây lúa lùn, nở bụi kém, lá thẳng hẹp và màu sậm hơn bình thường hoặc ngã sang màu tím bầm, lúa sẽ trổ và chín muộn, hạt không no đầy và phẩm chất giảm. + Cây lúa cần lân nhất trong giai đoạn đầu. Khi cây lúa trổ, khoảng 37-83% chất lân được chuyển lên bông. Triệu chứng thiếu Lân 5. DINH DƯỠNG KALI - Vai trò: + Làm cứng cây, giúp cây quang hợp tốt, bông to, chắc hạt, chống rét, hạn chế sâu bệnh, Kali chủ yếu trong rơm rạ, chỉ khoảng 6-20% ở trên bông. Triệu chứng thiếu: + Chiều cao và số chồi bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh dốm nâu, lá già rụi sớm. + Cây cần Kali ở giai đoạn đầu sinh trưởng và giai đoạn cuối.            Triệu chứng thiếu Kali 6. DINH DƯỠNG SILIC - Vai trò: + Giúp cây lúa cứng cáp, chống đỗ ngã, kháng sự xâm nhập của mầm bệnh và sự tấn công của côn trùng, lá thẳng đứng, nhiều bông. + Giảm thoát hơi nước giúp cây chịu hạn khỏe hơn. - Triệu chứng thiếu: + Lá mềm, rũ xuống. + Cây thiếu Silic thường bị đỗ. Cây lúa thiếu Silic và lúa bị đỗ ngã do thiếu Silic 7. DINH DƯỠNG SẮT (Fe) - Vai trò: + Là thành phần cấu tạo của Chlorophyll (diệp lục tố) và một số phân hóa tố trong cây. + Sắt cần cho quang hợp. + Thiếu sắt hạn chế sự hấp thụ Kali. - Thiếu sắt: + Toàn bộ lá trở nên úa vàng và rất nhợt nhạt. + Toàn bộ cây lúa trở nên úa vàng và chết nếu thiếu sắt nghiêm trọng. Triệu chứng thiếu sắt - Ngộ độc sắt (Fe): + Các đốm nhỏ màu nâu ở các lá phía dưới bắt đầu từ ngọn lá hoặc toàn bộ lá có màu vàng da cam đến màu nâu. + Màng đen phủ lên bề mặt rễ. Giảm sức oxi hóa của rễ. Triệu chứng ngộ độc sắt               Công ty cổ phần BVTV Delta  
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA