KỸ THUẬT CANH TÁC

Bệnh héo xanh trên cây ớt
CÂY RAU MÀU Bệnh héo xanh trên cây ớt
BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT Tác nhân: do vi khuẩn Ralstonia solanacearum Triệu chứng - Bệnh thường gây hại trong mùa mưa và xảy ra tất cả các giai đoạn phát triển của cây, nhưng thường giai đoạn ra hoa kết trái trở về sau. - Bệnh xảy ra rải rác trên từng cây hoặc từng khóm cây ở giữa ruộng. - Triệu chứng đầu tiên đọt non bị héo vào buổi trưa, tươi lại vào buổi chiều và sáng hôm sau. Sau vài ngày bất thình lình các lá già bên dưới héo nhanh nhưng lá không vàng ( vẫn giữ màu xanh nhưng khô). Triệu chứng héo vào buổi trưa nắng - Tách phần vỏ ở gốc thân ở phần gốc rễ ta thấy các mạch nhựa chuyển thành màu xám đen đến nâu đen. Nếu nhúng phần bị cắt trong ly nước trong sẽ thấy dòng vi khuẩn tuôn ra có màu trắng sữa. Mạch nhựa hóa nâu và dòng tuôn vi khuẩn Phòng trị - Lên liếp cao thoát nước tốt, bón hữu cơ đã ủ hoai mục. - Luân canh không trồng họ cà ớt trên ruộng bị nhiễm bệnh năng 2-3 năm. - Nhổ và tiêu hủy các cây bị bệnh nặng để tráng lây lan. Rải vôi bột và trộn đều vào chỗ gốc cây vừa nhổ. - Tưới thuốc đặc trị vi khuẩn như Kasuduc 3SL (35 - 40ml cho 1 bình 25 lít), Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) vào gốc cây mới bị bệnh.                   Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh Công ty cổ phần BVTV Delta  
Bệnh thán thư ớt
CÂY RAU MÀU Bệnh thán thư ớt
BỆNH THÁN THƯ ỚT Tác nhân do nấm Coletotrichum spp. gây ra Bệnh rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có khí hậu nhiệt đới. Bệnh gây hại nặng trên hầu hết các vùng trồng ớt ở nước ta. Tỷ lệ bệnh ở những ruộng nhiễm nặng có thể lên tới 70% Triệu chứng - Bệnh gây hại trên cả thân, lá và trái, nhưng chủ yếu trên trái vào giai đoạn chín. - Vết bệnh ban đầu là một đốm tròn có màu xanh đậm, sau đó vết bệnh lớn dần có hình tròn hoặc bầu dục, vết bệnh lõm xuống có màu vàng nhạt đến trắng xám hoặc đen. Trên vết bệnh có nhiều vòng đồng tâm, và có nhiều khối nhày màu hồng nhô lên trên bề mặt của vết bệnh. Triệu chứng trên trái Phòng trị - Nấm tồn tại trong tàn dư thực vật, thu hái các trái bệnh đem tiêu hủy. - Luân canh, không trồng cây họ cà ớt trong vòng 2-3 năm. - Chọn giống ít nhiễm bệnh, tăng cường bón thêm phân chuồng hoai mục cho ruộng ớt. - Tránh trồng ớt trong mùa mưa. - Phun thuốc BioRosamil 72WG (75 g/ bình 25 lít), Unizebando 800WP (75 g/ bình 25 lít), Amity top 500SC  (15 – 25 ml/bình 25 lít)        Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh   Công ty cổ phần BVTV Delta
Dinh dưỡng lúa
CÂY LƯƠNG THỰC Dinh dưỡng lúa
DINH DƯỠNG CÂY LÚA - Phân đa lượng: Đa lượng là số lượng nhiều. Phân NPK thuộc loại đa lượng vì cây lúa cần được bón với số lượng nhiều thường là hàng trăm kí trên hecta. - Phân trung lượng: Trung là trung bình, nằm giữa, do cây cần số lượng ít hơn phân NPK, các chất này gọi là trung lượng vì cây vẫn cần nhưng lượng hút vào ít hơn NPK; nếu có bị thiếu cũng không gây hậu quả nghiệm trọng như các yếu tố đa lượng. - Phân vi lượng: Các chất vi lượng thường chỉ bón từ 0,5-2kg trên ha là đủ. Do vậy không phải đất nào cũng thiếu vi lượng rõ rệt như các nguyên tố đa lượng. 1. Quy luật hấp thụ dinh dưỡng của cây lúa - Khi lúa đẻ nhánh hấp thụ ít. - Khi lúa trổ đòng là thời kỳ hấp thụ phân nhiều nhất và cường độ hấp thụ mạnh nhất. - Sau khi ra bông cho đến khi lúa chín lượng hấp thụ phân giảm. Cây lúa hấp thụ dinh dưỡng theo từng giai đoạn 3. DINH DƯỠNG ĐẠM - Vai trò: Là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân. - Triệu chứng thiếu: Cây lúa bị lùn, nở bụi ít, chồi nhỏ, lá ngắn hẹp, trở nên vàng và rụi sớm, cây lúa còi cọc không phát triển. Trong giai đoạn sinh sản bông lúa sẽ ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và có nhiều hạt thối hóa. Triệu chứng thiếu đạm - Triệu chứng dư: cây lúa phát triển thân lá quá mức, mô non mềm, dễ ngã, tán lá rậm rạp, lượng đạm tự do trong cây cao, nên cây dễ nhiễm bệnh, làm giảm năng suất rất nhiều.  Triệu chứng dư đạm 4. DINH DƯỠNG LÂN - Vai trò: Thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây, kích thích rễ phát triển, giúp cây lúa mau lại sức sau khi cấy, nở bụi mạnh, kết nhiều hạt chắc, tăng phẩm chất gạo, giúp lúa chín sớm và tập trung hơn. - Triệu chứng thiếu: + Cây lúa lùn, nở bụi kém, lá thẳng hẹp và màu sậm hơn bình thường hoặc ngã sang màu tím bầm, lúa sẽ trổ và chín muộn, hạt không no đầy và phẩm chất giảm. + Cây lúa cần lân nhất trong giai đoạn đầu. Khi cây lúa trổ, khoảng 37-83% chất lân được chuyển lên bông. Triệu chứng thiếu Lân 5. DINH DƯỠNG KALI - Vai trò: + Làm cứng cây, giúp cây quang hợp tốt, bông to, chắc hạt, chống rét, hạn chế sâu bệnh, Kali chủ yếu trong rơm rạ, chỉ khoảng 6-20% ở trên bông. Triệu chứng thiếu: + Chiều cao và số chồi bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh dốm nâu, lá già rụi sớm. + Cây cần Kali ở giai đoạn đầu sinh trưởng và giai đoạn cuối.            Triệu chứng thiếu Kali 6. DINH DƯỠNG SILIC - Vai trò: + Giúp cây lúa cứng cáp, chống đỗ ngã, kháng sự xâm nhập của mầm bệnh và sự tấn công của côn trùng, lá thẳng đứng, nhiều bông. + Giảm thoát hơi nước giúp cây chịu hạn khỏe hơn. - Triệu chứng thiếu: + Lá mềm, rũ xuống. + Cây thiếu Silic thường bị đỗ. Cây lúa thiếu Silic và lúa bị đỗ ngã do thiếu Silic 7. DINH DƯỠNG SẮT (Fe) - Vai trò: + Là thành phần cấu tạo của Chlorophyll (diệp lục tố) và một số phân hóa tố trong cây. + Sắt cần cho quang hợp. + Thiếu sắt hạn chế sự hấp thụ Kali. - Thiếu sắt: + Toàn bộ lá trở nên úa vàng và rất nhợt nhạt. + Toàn bộ cây lúa trở nên úa vàng và chết nếu thiếu sắt nghiêm trọng. Triệu chứng thiếu sắt - Ngộ độc sắt (Fe): + Các đốm nhỏ màu nâu ở các lá phía dưới bắt đầu từ ngọn lá hoặc toàn bộ lá có màu vàng da cam đến màu nâu. + Màng đen phủ lên bề mặt rễ. Giảm sức oxi hóa của rễ. Triệu chứng ngộ độc sắt               Công ty cổ phần BVTV Delta  
Kỹ thuật trồng
Cây tiêu Kỹ thuật trồng
CÂY TIÊU KỸ THUẬT TRỒNG TIÊU 1. Chuẩn bị đất trồng + Cây tiêu sợ đất thấp, ẩm ướt, vì vậy ở ĐBSCL trồng tiêu phải đào mương lên liếp đẻ nâng cao tấng đất mặt và thoát thủy trong mùa mưa. + Kích thước mương líp thay đổi tùy theo độ sâu ngập, độ sâu tầng phèn. Sau khi lên liếp xong phải đấp mô, đất dung làm mô là đất bải bồi ven sông được phơi khô, hay đất mặt ruộng, mặt líp vườn cũ trộn với phân chuồng và tro trấu theo tỉ lệ 1/3 mỗi loại. + Mô cao khoảng 30-40 cm, rộng khoảng 80-100 cm. Mô cần được tiến hành trước khi trồng vài tuần, tưới nước khi mô được ổn định mới đặt cây tiêu. 2. Cách chọn nọc tiêu     Nọc tiêu là nơi để tiêu leo bám trong cả quá trình sinh trưởng từ khi trồng đến hết thời kỳ kinh doanh, nọc tiêu rất quan trọng vì đời sống kinh tế của cây tiêu có thể kéo dài đến 20-30 năm. Do vậy phải chọn nọc tiêu vững chắc và lâu bền, không bị gãy đỗ. - Các loại nọc tiêu + Nọc chết Có các ưu điểm như    + Không cạnh tranh nước, dưỡng liệu và ánh sáng với cây tiêu nên có thể đạt được năng suất cao hơn    + Xén tỉa tạo hình cho tiêu dễ dàng hơn.    + Không tốn công xén tỉa hằng năm cho cây nọc. Các hạn chế của nọc chết gồm có:    + Dễ bị mục chân, mối mọt làm đổ ngã cây tiêu.    + Sử dụng cây nọc gỗ tốt sẽ tăng chi phí đầu tư.    + Thời gian đầu mới trồng phải che chắn bớt ánh sáng trực tiếp cho tiêu.    + Cây nọc bị ẩm hay mục bên ngoài thân dễ làm phát sinh bệnh phấn trắng gây thối rễ và gốc tiêu. Cây nọc chết cần đáp ứng được các yêu cầu sau    + Cây không bị mối mọt phá hại và nấm hoại sinh làm mục nát.    + Cây cao từ 3,5-4m, đường kính từ 15cm trở lên.    + Cây có thể được chôn sâu vào đất khoảng 0,6-1 m mà không bị mục chân. Một số cây rừng có thể dùng làm nọc chết như    + Cây Căm xe (Xylia dolabrisormis): Gỗ rất tốt, rất cứng chắc, chịu đựng trên 20 năm mà không bị mục nát.    + Cây Cà Chắc (Shrea obtuse): Gỗ rất cứng chắc, chịu đựng tương đương với cây Căm Xe.    + Cây Làu Tán (Vatica astrotricha): Gỗ chống chịu khá tốt.    + Cây Cà Đuối (Cyanaphne cuneata): Chống chịu mối mọt tốt.    + Ngoài ra các loại cây Thanh trà, Cóc rừng cũng được nông dân sử dụng. Nọc sống Có các ưu điểm là:    + Tuổi thọ thường cao nên có thể đáp ứng được cho thời gian sinh trưởng của cây tiêu    + Dễ tìm, chi phí đầu tư ban đầu thấp.    + Che mát được cho tiêu trong năm đầu tiên.    + Rễ bám của tiêu có thể sử dụng được nước và nhựa của cây nọc Các hạn chế của cây nọc sống    + Cây nọc cạnh tranh ánh sáng, nước và dưỡng liệu với tiêu, nhất là cạnh tranh ánh sáng trong giai đoạn tiêu ra hoa, làm gié ít trái.    + Hằng năm phải tốn công xén tỉa cành lá của cây nọc để giúp tiêu có đủ ánh sáng.    + Có thể lây truyền một số sâu bệnh từ cây nọc cho tiêu. Cây nọc sống cần đáp ứng được các yêu cầu sau:    + Cây có tuổi thọ cao, mọc khỏe, thân thẳng.    + Có hệ thống rễ ăn sâu để ít cạnh tranh dinh dưỡng với tiêu, ít bị đổ ngã.    + Không bị tróc vỏ, vỏ thân nhám để tiêu dễ bám vào.    Các loại nọc sống có thể sử dụng trồng tiêu như: Cây Anh Đào Giả, cây Đại Bình Linh, cây Lồng Mức, cây Vông, cây Muồng Xiêm,…    Thường thì trồng tiêu bằng nọc sống cho năng suất và phẩm chất tiêu không bằng trồng bằng nọc chết. Các loại nọc khác    Tháp gạch: Dùng gạch xây tháp cho tiêu leo, kích thước của tháp thay đổi theo diện tích trồng rộng hay hẹp. Tháp có thể xây theo hình vuông hay hình tròn, cao từ 3,5 - 4m, đường kính đáy từ 1 - 1,2 m, đường kính chóp từ 0,5 - 0,8 m. Thân tháp rỗng, vách được xây bằng các viên gạch đặt cách nhau 6 - 10 cm để tạo các lỗ hổng trên bề mặt vách tháp. Có thể trộn đất và phân chuồng đổ vào lòng tháp cao khoảng 30 – 50 cm để cung cấp thêm dinh dưỡng và giữ ẩm cho cây tiêu.    Tùy theo đường kính đáy tháp mà có thể đặt từ 8 - 12 hom tiêu. Đường kính đáy 1m thường đặt 8 hom tiêu, khoảng cách giữa 2 mặt tháp tốt nhất là từ 1,8 - 2m.    Cột xi măng:dung cột xi măng hình vuông để làm cây nọc ( còn gọi là nọc sạn). Bề mặt mỗi bên cột rộng 12 - 15 cm. Lưu ý tháp gạch hay cột xi măng hút nhiệt rất mạnh nên có thể làm rễ không bám được và tiêu có thể bị héo chết. Do vậy, sau khi trồng cần che chắn, tuới nước và bón phân đầy đủ. Khi tiêu lớn che phủ hết nọc thì không cần che mát nữa 3. Mật độ trồng + Khoảng cách thay đổi tùy theo giống và loại nọc trồng. Đối với nọc chết, khoảng cách trung bình là 2 x 2 m, mỗi nọc trồng 2 dây, mỗi hecta có khoảng 2500 nọc. + Nọc sống thì trồng thưa hơn, khoảng cách là 2 x 2,5 m mỗi nọc có 3 dây, hay khoảng cách 2,5 x 2,5 m mỗi nọc có 3 - 4 dây. + Đối với nọc gạch xây, có đường kính lớn, khoảng cách là 4 x 4 m, mỗi nọc có từ 10 - 15 dây tiêu. 4. Đặt cây con    Đào một lỗ có kích thước hơi lớn hơn bầu cây tiêu một chút, cho vào đáy lổ khoảng 50g super lân. Đặt 2 hay 3 hom tiêu, đặt nằm nghiêng một góc khoảng 450, ngọn hướng vào nọc và 2 hom cách nhau khoảng 10 cm, lấp đất lại. Nên đặt hom vào buổi chiều. Có che mát cho hom tiêu sau khi trồng và tưới thật đẩm. Không để đất bị đọng nước. Trong vài năm đầu cần che bớt ánh nắng mặt trời để cây mọc nhanh, nhưng khi cây bắt đầu cho trái cần giảm bớt bóng râm để tiêu có năng suất cao. 5. Buộc dây cho tiêu + Khi cây tiêu bắt đầu leo lên nọc cần phải buộc để giúp cho rễ bám giữ dây tiêu đứng vững, có như vậy cây tiêu mới cho nhiều nhánh mang trái sau này, dây tiêu bò lên tới đâu buộc dây đến đó. + Dây buộc tốt nhất là dây nylon, không dung những dây hút nước và mau hư như dây chuối, dây lát, dây dừa… vì dây luôn ẩm ướt nấm bệnh dễ tấn công ảnh hưởng đến cây tiêu. + Không nên buộc quá chặt vì cây tiêu còn lớn, tiến hành buộc dây hàng tuần 6. Che mát cho tiêu     Ngay khi đặt cây phải che mát cho cây tiêu, đặc biệt là những nọc chết. Cây tiêu được che mát lúc nhỏ mau lớn. Nếu có điều kiện thì nên làm dàn che cho cả vườn tiêu, vì dễ điều chỉnh ánh sáng. Chỉ cần che mát cho tiêu trong những năm đầu, khi tiêu lớn bắt đầu ra trái tì không cần che nữa để tiêu có năng suất cao.   Công ty cổ phần BVTV Delta
Kỹ thuật trồng dưa hấu
CÂY RAU MÀU Kỹ thuật trồng dưa hấu
KỸ THUẬT TRỒNG DƯA HẤU 1. Chọn giống Nhóm dưa ăn trái tươi - Thành Long TN 522 (vỏ trái có sọc lem), Bảo Long TN 467 (vỏ trái xanh đen, sọc mờ): Giống lại F1 của công ty giống cây Trang Nông, dạng trái hình oval, ruột đỏ, vỏ mỏng, chất lượng rất cao, độ ngọt 12-14%, chống chịu bệnh khá, thuận tiện chuyên chở đi xa, đang được người tiêu dung ưa chuộng. Thời gian sinh trưởng 58-60 ngày, trọng lượng trái 2,5-4kg, năng suất 2,5-3,2 tấn/1000m2. Được trồng phổ biến tại ĐB sông Cửu Long - Hắc Mỹ Nhân (công ty giống cây trồng Nông Hữu 1430 và Trang Nông TN 308, 386, 433): Trái hình bầu dục dài, vỏ màu xanh đậm, vỏ cứng thích hợp cho bảo quản và vận chuyển xa. Ruột màu đỏ đậm, đặc, chắc thịt, rất ít xơ, độ Brix cao (12-14%). Trọng lượng trái 2,5-3,5kg, có thể trồng được quanh năm. Thời gian sinh trưởng 56-60 ngày, thích hợp trên nhiều loại đất. Được trồng phổ biến tại ĐB sông Cửu Long - Xuân Lan TN 130 (công ty giống cây trồng Trang Nông): sọc thưa màu xanh đậm, ruột màu vàng tươi, chắc thịt và ngọt. Trọng lượng trái 3,5-4kg, kháng sâu bệnh tốt, có thể trồng được quanh năm. - Tiểu Hắc Long TN 736 (công ty giống cây trồng Trang Nông): Giống hạt lép trái tròn, vỏ trái màu xanh đen đậm và ruột đỏ đậm chắc thịt. - Mặt Trời Đỏ (công ty Syngenta): Dưa hấu không hạt, trái tròn, vỏ trái sọc xanh, ruột đỏ, độ Brix 13-14%, trọng lượng trái trung bình 4-5kg và thời gian sinh trưởng 65-67 ngày. ​Nhóm dưa chưng Tết - Sugar Baby: có bán trên thị trường là giống nhập từ Mỹ (Các hãng Sunblest, Harris Moran, Eagle) Thái Lan (Chia Tai, Trái Bầu). Trong nhiều năm qua giống Sugar Baby được trồng rất phổ biến, nhất là chưng Tết. Trái tròn, trung bình 4-6 kg, vỏ màu xanh đen, ruột đỏ, thời gian sinh trưởng 65-70 ngày, đây là giống thụ phấn tự do. - An Tiêm 95: Giống lai F1, trái to, tròn, nặng 7-8 kg, vỏ đen có gân đậm, ruột đỏ, ngon ngọt, thời gian sinh trưởng 70 ngày và năng suất vượt trội hơn giống Sugar Baby nhập khoảng 20%. Thích nghi rộng với điều kiện thời tiết, đất đai khác nhau, chỉ thích hợp canh tác trong mùa nắng (vụ Noel và dưa lạc hậu sau Tết). ​2. Thời vụ Dưa hấu trồng mùa nắng tốt hơn mùa mưa, vụ Xuân Hè thường bị bù lạch gây hại nặng, mùa mưa các giống dưa hấu lai (F1) cao sản mới trồng được, nhưng khó nhất là vụ Thu Đông (tháng 9-10 âl) mưa dầm dễ bị ngập úng và nhiều bệnh hại. 3. Chuẩn bị đất + Chọn đất ruộng luân canh với lúa, trồng dưa hấu cần có tầng canh tác dày, không nhiễm phèn mặn, đễ thoát nước, mực nước trong mương tưới phải thấp hơn mặt liếp ít nhất 10cm. Ngoài ra cũng có thể trồng dưa hấu trên đất giồng cát, đất liếp, bờ kênh miễn sao có đầy đủ nước tưới tiêu. + Kiểu liếp đôi là phổ biến nhất, trung bình 2 tim mương tưới cách nhau 3,2-4 m ( dưa hấu được trồng một hàng trên liếp đơn rộng 1,3-1,4 m), đậy màng phủ kín mặt đất ngay cả đường bò của dây dưa sau khi thu hoạch trái thu dọn sạch sẽ tàn dư của cây nên có thể trồng liên tục 2-3 vụ. Còn dưa chưng Tết, cần trái lớn nên làm liếp ruộng hơn, khoảng cách giữa 2 tim mương khoảng 6-7m. Mương tưới rộng 40-50cm, đất được đào từng lớp đất mỏng 3-4 cm xếp chồng mí lên nhau giúp cho đất mau khô và dễ tơi ra, liếp cao 15-20 cm nằm dọc chân liếp, bên dưới màng phủ, phía dây dưa bò để tưới nước và thoát nước. Liếp đôi 2 tim mương   4. Gieo trồng - Ngâm ủ hạt giống: Lượng hạt cần 50-60 g để trồng 1000 m2, ngâm hạt trong nước ấm 40-450C khoảng 2-3 giờ, chà rữa sạch nhớt. Ủ hạt bằng cách trái khăn bàn rồi rải hạt dưa lên trên, sau đó cuộn tròn khăn lại. Để nơi khô ráo thoáng mát, ủ khoảng 20-24 giờ sau hạt nhú mầm đem gieo. - Gieo cây con: hạt nảy mầm được gieo trong bầu trong khay ươm chuyên dùng, sử dụng tro trấu làm giá thể gieo cây con. Cần dự trù 10-15% bầu để trồng dặm. Không nên trồng dưa hấu liên tục nhiều vụ trên cùng nền đất vì sự tích lũy mầm bệnh héo rũ (do nấm Fusarium sp.), chỉ khắc phục được bằng phương pháp ghép dưa hấu trên gốc bầu, bí mà hiện nay được áp dụng rộng rãi trên thế giới và ở nước ta. - Cách ghép dưa hấu trên gốc bầu + Trước hết ủ hạt bầu cho lên mầm rồi gieo và bầu đất có kích thước 12x 8-9cm. Đặt bầu ở chỗ có nhiều nắng, hàng ngày tưới nhẹ (vừa đủ ẩm) để cây mọc đều, thân to, mập, khoẻ. Khi cây bầu có hai lá mầm, tiến hành ngâm ủ hạt dưa hấu, rồi cho trấu (đã đãi sạch, ngâm nước cho mềm) vào 2/3 chiều cao của rổ tre, rải hạt dưa đã nảy mầm lên trên và phủ thêm lớp trấu dày 2-5cm, để vào chỗ ít ánh sáng để thân mầm của dưa mọc dài và chậm mở lá mầm. Khi cây bầu ra được lá đầu tiên và cây dưa chưa mở hai lá mầm, tiến hành ghép: dùng lưỡi dao sắc, mỏng, cắt ngọn cây bầu, chừa lại hai lá mầm, dùng ghim tre nhỏ vót nhọn, ghim vào ngọn cây bầu, tạo lỗ sâu 5- 7mm. Sau đó dùng lưỡi lam cắt lấy ngọn cây dưa cách hai lá mầm khoảng 1cm về phía dưới. Rút ghim ra khỏi ngọn cây bầu rồi nhanh chóng gắn ngọn cây dưa vào. Ghép xong đặt bầu cây ở nơi kín gió, có mái che trong 2- 3 ngày. Tưới nhẹ giữ đủ ẩm cho cây để ngọn dưa không bị héo. Khi ngọn dưa đã gắn hoàn toàn với gốc bầu, đưa cây ra nắng. Khi cây dưa tháp bầu đã ra lá thật đem đi trồng. + Thời gian từ lúc ngâm ủ hạt đến khi bầu dưa đạt tiêu chuẩn đem trồng là khoảng 18- 22 ngày. Nên tiến hành ghép dưa vào lúc sáng sớm, hay chiều mát, những ngày mát trời, không mưa... Dưa tháp gốc bầu 5. Trồng cây Cây con có 1 lá nhám (lá thật) thì đem trồng (5-7 ngày sau khi gieo), sau khi đục lỗ màng phủ, đào hốc cách mé mương tưới 40cm, sâu 5-7cm, rộng 7-8cm, cho vào gốc một nắm tay hỗn hợp tro trấu và phân hữu cơ rồi đặt cây con hơi nghiêng về phía trong của liếp đôi, nếu trồng cây ghép nên cắm một que để cố định gốc thân, rãi thuốc có mùi hôi 1-2kg/1000 m2 xung quanh gốc để ngừa côn trùng cắn phá. Khoảng cách trồng giữa 2 cây trung bình 0,5m đối với dưa ăn trái tươi (mật độ 1000-1100 cây/1000 m2 đối với kiểu liếp 3,2-4m), nhưng muốn có dưa cặp để chưng trái to, mỗi trái từ 6-7 kg trở lên nên trồng thưa, khoảng cách giữa các cây khoảng 0,6-0,7 m (mật độ 500 cây/1000 m2, khoảng cách giữa 2 tim mương 6-7 m). 6. Chăm sóc + Bón phân: Lượng phân trung bình cho 1 ha dưa hấu khoảng 50-70 kg Urea + 50 kg KCl+ 800-1000 kg hỗn hợp 16-16-8, phân hữu cơ vi sinh 1000 kg + 500-700 kg vôi bột với công thức nguyên là 151 kg N – 128 kg P2O5 – 94 kg K2O. Bón phân Bảng: Lịch bón phân và lượng phân cho dưa hấu Loại phân (kg/ha) Tổng số Bón lót Ngày sau khi gieo 15-20 35-40 Vôi bột 500-700 500-700 - - Phân hữu cơ vi sinh 1000 1000 - - 16-16-8 800 300 300 200 Urea 50 - 30 20 KCl 50 - 30 20 + Bón lót: Rải toàn bộ vôi bột trước khi đào liếp 5-7 ngày, sau đó rãi một ít rơm cỏ và toàn bộ phân hữu cơ đều trên mặt liếp, tiếp theo rãi 300 kg 16-16-8 lên nửa liếp từ mé rãnh tuới trở vào trong khoảng 60-80 cm (nơi đặt cây con), xới trộn đều vào đất sau cùng.  * Lượng phân còn lại ngoài 2 lần bón thúc chia ra làm nhiều lần tưới, số lượng tăng dần theo nhu cầu của cây dưa (Urea tưới lúc 25-27 ngày và 42-50 ngày sau khi gieo).  * Phân bón rãi nên cách gốc 15-20 cm, bón tới đâu thì tưới nước rộng đến đó để kích thích rễ phát triển rộng khắp cả mặt liếp (bộ rễ dưa có thể ăn rộng 1,2 m). + Tưới nước: Trước khi đậy màng phủ (sau khi bón lót) cho nước vào vừa ngập mặt ruộng cũ, nước sẽ thấm lên đỉnh liếp giúp bộ rễ cây con mới trồng đầy đủ ẩm độ nên không cần thiết tưới trên bộ lá, cây sẽ phục hồi nhanh chóng. Tưới nước + Ngắt đọt: Khi cây có 4-6 lá thật (không tính 2 lá mầm) tiến hành ngắt bỏ đọt thân chính, sau đó cây đâm nhiều nhánh, tỉa chừa lại 2 nhánh tốt nhất, sau khi cây có trái (1 trái/cây), tiến hành ngắt bỏ đọt của 2 chồi (chỉ có 1 chồi mang trái), vị trí ngắt đọt ít nhất cách trái 5-6 lá. Cách làm này giúp tăng độ đồng đều của trái tăng năng suất trái mà không làm thay đổi kích thước và khối lượng trái. + Sửa dây: Khi dây dưa có 2 chồi (khoảng 25 ngày sau khi gieo) thì tiến hành sửa và cố định vị trí bò của dây (dùng lạc tre, hay que chuyên dùng cố định) giúp các dây bò song song khắp mặt liếp theo thứ tự, không quấn chồng lên nhau làm ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây và giảm nơi trú ngụ của nhiều loại sâu bệnh hại. + Tỉa nhánh: Tỉa nhánh sớm khi mới vừa nhú ra 5-7cm, chỉ chừa 2 nhánh/cây cho đến khi thu hoạch giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái đối với các giống dưa hấu F1 chất lượng cao, dưa chưng Tết tỉa chừa 1 thân chính (mang trái) và 2 thân nhánh. + Úp nụ (thụ phấn bổ sung): Đối với các giống dưa hấu lai F1 ngắn ngày chất lượng cao rất dễ đậu trái không cần phải thụ phấn bổ sung, nhưng giai đoạn hoa nở tập trung (33-35 ngày sau khi gieo) không nên sử dụng thuốc trừ sâu có mùi hôi mạnh, không sử dụng phân bón đất, bón lá hoặc chất kích thích thích vì làm giảm đậu trái. Đối với các giống dưa hấu Tết cần thụ phấn, tiến hành vào 6-8 giờ sáng trong thời kỳ hoa trổ rộ (35-40 ngày sau khi gieo), chọn hoa đực tốt úp vào nướm nhụy của hoa cái, thời gian úp nụ càng ngắn càng tốt (3-5 ngày) để các trái có cùng độ lớn, ruộng dưa đồng đều dễ chăm sóc. + Tuyển trái: để cho trái dưa to chỉ nên để 1 trái trên nhánh (1 cây 2 nhánh). Ngắt bỏ hoa thứ 1 và thứ 2 trước khi hoa cái thứ 3 nở (là nụ cho trái tốt nhất). Việc tuyển trái tiến hành khoảng 38-42 ngày sau khi gieo đối với dưa hấu chất lượng cao, 40-45 ngày sau khi gieo đối với dưa chưng Tết, khi trái non bằng trái chanh chọn trái thứ 3 trên dây chánh tức vị trí lá thứ 14-20, nếu dây dưa quá sung có thể chọn trái thứ 4 ở vị trí lá thứ 20-24 sẽ cho trái tốt hơn. Nếu trên dây chính không tuyển trái được thì chọn trái thứ 2 trên dây nhánh tức vị trí lá 8-14. Chọn trái đầy đặn, cuống to, dài, có nhiều lông tơ thẳng, không sâu bệnh… Đồng thời tỉa bỏ tất cả các trái ra sau. Để 1 trái tốt nhất trên 1 nhánh + Kê trái: Nếu dùng rơm kê trái nên phòng ngừa sâu bệnh gây hại trên trái, vì sâu trú ẩn trong rơm lên phá hoại trái, mùa mưa rơm giữ ẩm nên dễ gây bệnh cho trái. Khi trái dưa phát triển nên đặt nằm ngang, thỉnh thoảng trở bề trái tròn đẹp và màu vỏ trái xanh đều, nếu dạng trái tròn (chưng tết) hay oval chỉ đở trái đứng thẳng khoảng 1 tuần trước khi thu hoạch. - Phòng trừ sâu bệnh chính + Bù lạch (bọ trĩ), rầy mềm, rầy phấn trắng, dòi đục lòn lá,…kiễm tra ruộng thường xuyên để phát hiên sớm, phun thuốc trừ sâu thế hệ mới VDC PENALDUC 145EC + Bệnh héo cây con, thán thư, bệnh bả trầu, nứt thân chảy nhựa, héo rũ (chạy dây),…phun BioRosamil 72WG, Unizebando 800 WP. Đốm vi khuẩn trên lá và trái dùng Kasuduc 3SL, Beamy-Kasu 500SC nên phun giai đoạn 30 ngày sau khi gieo. Cần nhổ bỏ và tiêu hủy các bộ phận hoặc cây bệnh nặng để tránh lây lan. 7. Thu hoạch + Dưa hấu thu hoạch khi có độ chín 80-90 %, khoảng 58-60 ngày sau khi trồng đối với dưa hấu F1 chất lượng cao, 65-70 ngày sau khi trồng đối với dưa chưng tết. + Cần ngưng nước 4-5 ngày trước khi thu hoạch giúp dưa ngon ngọt và ít bị bể khi vận chuyển. Ngưng tưới phân thuốc 7-10 ngày để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. * Trong quá trình canh tác có thể sử dụng phân bón vi lượng bổ sung dinh dưỡng cho cây và dưỡng to trái giúp tăng năng suất  Một số sản phẩm nổi bật       Công ty cổ phần BVTV Delta
Kỹ thuật trồng Mít Thái
CÂY ĂN TRÁI Kỹ thuật trồng Mít Thái
KỸ THUẬT TRỒNG MÍT THÁI - Mít Thái siêu sớm là giống mít mới xuất hiện những năm gần đây, là giống cây dễ trồng, ít công chăm sóc, ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, đậu trái quanh năm. - Đặc điểm nổi bật của cây mít Thái là cho thu hoạch rất nhanh. Từ lúc trồng đến lúc cho thu hoạch lứa đầu tiên chỉ mất khoảng 12-15 tháng. Cây đậu trái quanh năm nhất là vào mùa hè. Trái mít khi chín có trọng lượng từ 10-15 kg, bên trong có múi khá to và mọng, ăn thơm ngọt đậm. Bên cạnh đó, mít Thái giàu chất dinh dưỡng như vitamin A, C, canxi, sắt, kali, ma-giê và nhiều dinh dưỡng khác, do đó rất có lợi cho sức khỏe người dùng. - Tuy mít Thái dễ trồng nhưng để trồng thành công cây mít Thái, cần lưu ý một số kỹ thuật sau: 1. Chọn đất và chuẩn bị đất trồng - Mít là cây dễ tính, có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, gồm: Đất đỏ bazan, phù sa, đất xám, đất đồi núi… - Tuy nhiên, đất trồng mít phải thoát nước tốt, có tầng canh tác sâu, mít chịu úng kém, ở các vùng đất thấp, khi trồng phải lên líp và đắp mô cao từ 50 – 70 cm. Đào hố trồng cây mỗi hố nên đào với kích thước khoảng 65x65x65 cm - Bón lót: 0,3 - 0,5kg vôi bột + 3kg phân chuồng hoai mục  + 400 g phân lân cao cấp/ hố.   - Ủ hố trồng khoảng 20 – 30 ngày sau đó tiến hành trồng cây giống. 2. Chọn giống Không nên nhân giống bằng hạt vì bị lai giống và cây lâu cho trái. Nên sử dụng cây ghép có đường kính gốc ghép từ 1 – 1,5 cm, cành ghép cao 20 – 30 cm (kể từ vết ghép), cây khỏe mạnh, sạch bệnh nhưng phải là dòng F1 thuần chủng thì mới đảm bảo về năng suất và chất lượng. Nên chọn cây có bộ rễ phát triển mạnh; lá đang giai đoạn già; vết ghép tiếp hợp tốt. Cây mít giống 3. Thời vụ và khoảng cách trồng: - Thời vụ trồng: để cây sinh trưởng và phát triển có hiệu quả nhất, nên trồng vào đầu mùa mưa, nghĩa là từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch. - Khoảng cách trồng: Do mít Thái có khả năng cho trái sớm nên có thể trồng theo mật độ dày, khoảng 3,5m x 3,5 m hoặc 4 m x 4 m. Sau khi thu hoạch mít từ 5 – 7 năm, có thể loại bỏ cây ở giữa, đảm bảo mật độ giữa các cây mít luôn thông thoáng, giúp cây phát triển và đậu trái tốt hơn. 4. Trồng và chăm sóc: - Cách trồng: Rút nhẹ túi đựng bầu ra bỏ, đặt bầu đất vào hố trồng và lấp đất lại, không làm vỡ bầu, đứt rễ. Nếu đất khô phải tưới cho cây ngay, dùng rơm, rạ, cỏ rác... đậy xung quanh bầu để giữ ẩm. Cây cao, ốm yếu dùng cọc cắm cố định cho cây khỏi ngã đổ. Trồng cây con vào hố - Tưới nước: Tháng đầu sau khi trồng, nếu khô hạn phải tưới thường xuyên 2-3 ngày/ lần. Sau đó, có thể tưới 4-5 ngày/ lần. Từ năm thứ hai về sau, tưới cho cây vào giai đoạn mới bón phân và những tháng quá khô hạn. Mít Thái rất sợ úng nên vào mùa mưa lũ, phải kiểm tra kênh mương cống rãnh và có kế hoạch chống úng. - Bón phân: a. Bón lót: 0,3 - 0,5kg vôi bột + 3kg phân chuồng hoai mục  + 400 g phân lân cao cấp/ hố. b. Thời kỳ kiến thiết cơ bản: + Năm thứ nhất: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One +20g NPK 20-10-15 /cây/ lần bón. + Năm thứ hai: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One + 70g NPK (16-16-8)/cây/ lần bón. + Năm thứ ba: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One + 80g NPK (20-20-15)/cây/ lần bón. Đặc biệt, trong thời kỳ kiến thiết cơ bản có thể sử dụng thêm phân phun qua lá hoặc tưới gốc Bio Mít liều lượng 50ml/25 lít. c. Thời kỳ kinh doanh: + Bón lần 1 (sau thu hoạch): Bio One + 100g NPK (20-20-15)/ cây. + Bón lần 2 (khi cây phân hóa mầm hoa): Bio One + 400g NPK (20-20-15)/cây. + Bón lần 3 (khi cây nuôi trái): Bio One + 50g KCl/cây. Đặc biệt, trong khi cây nuôi trái phun thêm Amino Mít định kỳ 10 ngày 1 lần 50ml/25 lít. 5. Tỉa cành, tỉa trái: - Tỉa cành: Tỉa những cành sâu bệnh để cây thông thoáng nhằm tăng năng suất và mang tính thẩm mỹ. Tiến hành tỉa cành khi cây cao khoảng 1 m trở lên, cây còn nhỏ tỉa cành tạo tán 2-3 lần/năm. Cây lớn mỗi năm một lần khi thu hoạch trái xong. Cách tỉa cành mít như sau: + Cắt bỏ các cành gần sát mặt đất (từ 40 cm trở xuống). + Tỉa bỏ bớt các cành cấp 2, cấp 3... cho cây vừa đẹp vừa thoáng. + Giữ lại cành cấp 1 cách gốc khoảng 40 cm trở lên, chọn các cành mọc theo các hướng khác nhau, cành trên cách cành dưới khoảng 40 – 50 cm, tạo thành tầng không quá 5 cành cấp 1. - Tỉa trái: Tỉa bớt trái xấu, trái sâu bệnh, trái nhỏ và cả những trái bình thường cho mật độ trái phù hợp với từng cây. Tỉa trái +    Khi cây 1 năm tuổi: nên tỉa bỏ chỉ chừa một trái/lứa. +    Năm thứ hai: để 2 trái/lứa, thu hoạch được 4 trái/năm. +    Năm thứ ba: để 3 trái/lứa, một năm 2 lứa, sẽ được 6 trái và như thế tăng số trái/cây theo từng năm  tuổi. 6. Phòng trừ sâu, bệnh hại mít Thái:  6.1. Bệnh hại: a. Bệnh thối nhũn - Cây con ở vườn ươm có độ ẩm cao, quá rậm rạp dễ bị bệnh và bệnh lây lan rất nhanh. Bệnh có thể do nấm Rhizoctonia solani, Sclerotium, Pythium gây nên. - Trên thân gốc và bề mặt vật liệu nuôi cây có nhiều hạch nấm tròn to, nhỏ dầy đặc và lây lan nhanh. Bệnh làm teo gốc, thân lá có đoạn tươi xanh và phần non chết gục như bị luộc trong nước nóng. - Phòng bệnh: Sử dụng phân hoai mục. Tạo thông thoáng, khô ráo và thoát nước tốt. Xử lý nguyên vật liệu trong vườn ươm bằng các loại thuốc có chứa các hoạt chất như Metalaxyl  + Mancozeb  (BioRosamil 72WG),... - Trị bệnh bằng các loại thuốc có chứa các hoạt chất: Cyproconazole, Difenoconazole (Amity top 500SC). b. Bệnh thối gốc chảy nhựa - Bệnh xảy ra trên các vườn mít quá ẩm ướt và có nhiều loại sâu hại chích hút nhựa cây, gây những vết thương và là cơ hội tốt cho nấm Phytopthora xâm nhập. - Bệnh thể hiện ở vùng gốc có nhiều vết loét, nước dịch từ bên trong chảy rỉ ra, vỏ vùng gốc bị thối từng mảng to, bề mặt lớp gỗ ẩm ướt và thâm đen. Lá vàng, rụng và cây chết. Thường khi phát hiện được thì bệnh ở tình trạng nặng, khó chữa trị. - Cách phòng hữu hiệu nhất là trồng cây trên đất cao ráo, thoát nước tốt. Bảo vệ các thiên địch để hạn chế mật độ sâu rầy gây hại, khi cần thiết dùng các loại thuốc hóa học có chứa các hoạt chất để phun xịt như Metalaxyl  + Mancozeb  (BioRosamil 72WG) kết hợp với Pyramos 40SL. 6.2. Sâu hại: a. Sâu đục thân, đục cành Thành trùng đẻ trứng trên lá non, trái non sau đó đục vào thân cành. Phun Vua sâu vào giai đoạn ra lá non, trái non. b. Ruồi đục trái  Đẻ trứng vào trái già, gây thối nhũn trái. Nên dùng chất dẫn dụ sinh học để diệt ruồi đực. Bao trái Bao trái c. Sâu đục trái Gây hại nặng trên mít làm giảm chất lượng và sản lượng. Thường ở các phần tiếp giáp các trái hay giữa trái tiếp giáp với thân, bị gây hại nặng nhất. Trái có thể bị hư hỏng hay bị rụng sớm. Không nên dùng biện pháp xử lý thuốc hóa học mà dùng biện pháp sinh học để phòng trừ sự gây hại hay bao trái vào cuối giai đoạn trái rụng sinh lý. d. Rầy, rệp Có rất nhiều loài gây hại trên mít, chúng chích hút nhựa lá non, đọt non, trái làm lá quăn queo, cây chậm lớn, trái dị hình và kèm theo là nấm đốm bồ hóng tấn công làm giảm khả năng quang hợp của cây và trái không đẹp. Khi trồng ở nơi cao ráo thường bị rệp sáp tấn công ở phần gốc và rễ. Dùng các loại thuốc hóa học có các hoạt chất sau đây để trị rầy rệp khi điều tra có mật số cao: Pymetrozine (Chets 555),... 6.3. Phòng ngừa hiện tượng xơ đen: Giống cây mít Thái Lan thường bị xơ đen, da không bóng, hình dạng bên ngoài vẫn phát triển bình thường. Trên cùng một cây có thể có trái bệnh, trái không bệnh. Nguyên nhân có thể do thiếu canxi – do mưa quá nhiều khiến canxi trong đất bị hao hụt. Do đó, trước khi cây ra hoa và trong thời gian ra hoa, cần bổ sung canxi cho mít. Loại canxi tốt nhất là canxi lỏng, phun lá và tưới gốc giai đoạn mít ra nụ và cứ định kỳ 2 tháng phun lại 1 lần đến khi thu hoạch ( Canxi Bo Delta ). Trái mít bị sơ đen 7. Thu hoạch: Cây mít sau trồng 3 năm đã cho quả. Từ khi ra hoa đến trái già khoảng 5 tháng. Quả mít già các gai quả sẽ nở căng, vỏ quả chuyển từ màu xanh non sang xanh vàng, nhựa mủ lỏng và trong, vỗ tay vào mặt quả có tiếng bộp bộp. Nếu vận chuyển đi xa thì thu quả già. Nếu thu quả ăn ngay thì đợi cho quả có mùi thơm. Thu quả quá sớm, quả còn non sẽ kém chất lượng. Thu quá muộn dễ bị thối quả. Trái mít đã thu hoạch   Một số sản phẩm liên quan Thuốc trừ sâu, bệnh      Chi tiết sản phẩm: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray Phân bón lá bổ sung vi lượng              Công ty cổ phần BVTV Delta    
Kỹ thuật trồng ớt
CÂY RAU MÀU Kỹ thuật trồng ớt
KỸ THUẬT TRỒNG ỚT 1. Chọn giống: - Giống Hiểm lai 207, số 1 và 131, Tên lửa: Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-5 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/ cây, chống chịu bệnh thán thư khá. - Giống TN 16: cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6 cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm. - Giống Sừng vàng Châu Phi: Bắt đầu thu hoạch 105 ngày sau khi gieo, trái to, dài 12-13 cm đường kính trái 1,2-1,4 cm, trọng lượng trung bình trái 15-16 g, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, đẹp, cứng, rất cay, mùi thơm, ít rụng trái non, năng suất trung bình 3-4 tấn/ 1000m2. 2. Thời vụ - Có thể trồng quanh năm, tuy nhiên mùa nắng tốt hơn mùa mưa. - Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1dl và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên bờ đất bờ liếp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài. - Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh. - Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5, trồng tháng 5-6 thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư. 3. Chuẩn bị đất - Chọn đất cao, thoát nước tốt. Cuốc đất, bón vôi, lên liếp rộng 1,0-1,2 m, mùa nắng cao 20 cm, lối đi 0,5 m, mùa mưa liếp cao hơn, dạng mui ghe vì ớt chịu úng kém, giữa liếp cao hai bên thấp dần. Bón phân lót, xới trộn đều, mặt liếp phải làm bằng phẳng để rễ dễ phát triển và màng phủ lâu hư. - Rảy phân lót: nên bón lót lượng phân khá nhiều vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại cạnh tranh. Có thể giảm bớt 30% lượng phân so với không dùng màng phủ. - Đậy màng phủ: Tưới thật đẫm nước khi đậy màng phủ, trên 1000 m2 dùng 1,5-2 cuộn màng phủ, chiều dài mỗi cuộn 400m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống. Nếu liếp trồng một hàng dùng màng phủ  khổ rộng 1,0-1,2 m, liếp trồng 2 hàng dùng màng phủ khổ 1,2-1,6 m, nên phủ kín chân liếp thì hiệu quả càng cao, dùng que ghim mé màng phủ tránh gió tốc. 4. Gieo trồng a. Chuẩn bị cây con - Lượng hạt giống đủ gieo cho 1000m2 từ 15-25 g (150-160 hạt/g). Giá thể ươm cây con gồm mụn xơ dừa + tro trấu + phân chuồng hoai + 10kg super lân, trộn đều cho nước đủ ẩm. - Dùng khay ươm lắp đầy giá thể, gieo hạt thẳng vào khay. Cây con đặt trên giàn cách mặt đất 0,5-1 m, đổ lên trên một lớp tro dày 5-10 cm để dễ chăm sóc và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại cây con. - Hạt ớt thường nảy mầm chậm 6-10 ngày sau khi gieo, cây con cấy vào lúc 25-35 ngày tuổi.     b. Trồng cây: - Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50 x (30-50) cm, mật độ 3000-4000 cây/ 1000m2, nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa 70 x (50-60) cm, mật độ 2000-2500 cây/ 1000m2. - Trồng buổi chiều mát, nhẹ nhàng để tránh vỡ đất xung quanh rễ, lắp đất vừa ngang miệng bầu đất, rãi thuốc có mùi hôi ngay lỗ trồng nhằm tránh dế hay sâu ăn tạp hại cây con c. Chăm sóc - Bón phân: Loại lượng và thời kỳ phân bón có thể gia giảm tùy sự sinh trưởng cây ớt với lượng phân nguyên chất khuyến cáo cho 1ha là 220,3 kg N – 180 kg P2O5 – 240 kg K2O. Bảng: Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho cây ớt (kg/ha) Loại phân Tổng số Bón lót Các giai đoạn bón thúc 20-25 NSKT 55-60 NSKT 80-85 NSKT 100-110 NSKT Vôi bột 1500 1500 -       Phân hữu cơ vi sinh 2000 2000 -       NPK (20-20-15) 900 300 150 150 200 100 KCl 175 - 35 52,5 52.5 35 Calcium nitrate 135 - 27 40,5 40,5 27 Canxi Bo   - - Chia làm nhiều lần phun Ghi chú: NSKT: ngày sau khi trồng - Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân mỗi lần một bên hàng ớt hoặc đục lỗ màng phủ giữa 2 gốc ớt. - Phun bổ sung phân bón lá: Canxi Bo (50ml/ bình 25 lít) định kỳ khoảng 10 ngày/ lần để hạn chế thối chóp đuôi trái do tiếu canxi. d. Tươi nước: Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh. Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít. Nếu trồng trên nền đất lúa thì tưới thấm là phương pháp hiệu quả nhất, khoảng 3-5 ngày tưới/ lần, mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để ứ đọng lâu. e. Làm giàn: Giàn giữ cho cây đứng vững, cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái. Giai đoạn cây ớt khoảng 40-45 ngày tuổi dùng cọc cắm dọc theo hàng ớt khoảng 3 m/cọc, sau đó dùng dây gân căng dọc theo hàng ớt. f. Tỉa nhánh: Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành (chán ba) đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng, các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng. 5. Phòng trị sâu bệnh - Bọ trĩ, rầy phấn trắng, rầy mềm, sâu đục trái …. phun VDC PENALDUC 145EC và  ruồi đục trái, sâu đục trái phun Vua sâu          - Bệnh do vi khuẩn : đốm lá vi khuẩn, bệnh héo xanh phun Pyramos 40SL ( 35 - 40ml cho 1 bình 25 lít). - Bệnh do nấm: bệnh thán thư, bệnh héo vàng, bệnh phấn trắng phun BioRosamil 72WG (75 g/ bình 25 lít), Unizebando 800WP (75 g/ bình 25 lít), Amity top 500SC  (15 – 25 ml/bình 25 lít), Avinduc 50SC (50ml/ bình 25 lít)             6. Thu hoạch Thu hoach khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ớt cay cho thu hoạch khoảng 35-40 ngày sau khi trổ hoa (khoảng 85 ngày sau khi gieo đối với ớt hiểm và 100-110 ngày sau khi gieo đối với ớt sừng), ở các lứa rộ thu hoạch thường cách 3-5 ngày thu 1 lần.   Công ty cố phần BVTV Delta
Phòng trừ bệnh do vi rút và vi khuẩn hại gừng
CÂY RAU MÀU Phòng trừ bệnh do vi rút và vi khuẩn hại gừng
PHÒNG TRỪ BỆNH DO VI RÚT VÀ VI KHUẨN HẠI GỪNG Tên khoa học: Zingiber officinale Hiện nay, việc sản xuất gừng đang bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây hại như vi rút, vi khuẩn, nấm và tuyến trùng. Trong số đó, vi khuẩn là tác nhân gây hại quan trọng nhất, gây héo và thối mềm ở gừng từ đó làm giảm sản lượng và chất lượng của củ gừng. 1. Bệnh khảm do virus  Tác nhân: do virus CMV (Cucumber Mosaic Virus ) được truyền bệnh qua môi giới là Rầy mềm. - Triệu chứng + Ở giai đoạn đầu với các vết khảm màu vàng và xanh đen song song với gân lá, cây còi cọc ở giai đoạn cuối nhiễm bệnh. + Sự xâm nhiễm của virus này trên gừng làm giảm năng suất củ nghiêm trọng. Lá gừng bị khảm - Quá trình lây nhiễm: qua các dụng cụ nông nghiệp, côn trùng chích hút, đặc biệt do rầy mềm chích hút. - Phòng trừ → Thăm ruộng thường xuyên để phát hiện sớm và tiêu hủy các cây bị nhiễm bệnh. → Phòng trừ rầy mềm. 2. Bệnh héo do vi khuẩn - Tác nhân: do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra + Là bệnh gây hại nghiêm trọng nhất trên cây gừng, bệnh truyền qua đất và hom giống.  Gây hại nặng và cực kỳ nguy hiểm đối với gừng trồng ở các vùng nhiệt đới. + Bệnh lây lan nhanh chóng trong điều kiện mưa nhiều và thời tiết ấm áp. - Triệu chứng + Đầu tiên lá tóp lại nhưng vẫn còn xanh, các lá ở dưới bị trước và lan dần lên trên. Bệnh nặng làm lá bị vàng (lá vàng từ dưới lên trên), sau đó cây héo cụp xuống, có thể quan sát thấy những vùng mọng nước xuất hiện ở cổ rễ nơi tiếp giáp giữa thân giả và củ. + Mổ dọc thân cây bệnh có những sọc đen chạy dài, củ sậm màu hơn và xuất hiện các vùng nhũn nước chứa các túi dịch vi khuẩn. + Khi cắt củ gừng bị bệnh ngâm vào ly nước trong sẽ xuất hiện dòng tuôn vi khuẩn màu trắng sữa. + Ở cây bị bệnh nặng, khi nhổ bụi gừng lên gần như cả củ đều bị thối, phần non bị thối trước trong 5-7 ngày, phần già bị thối chậm hơn. a. Triệu chứng cây héo xanh, b. Củ gừng bị thối, c. Dòng tuôn vi khuẩn - Quá trình lây nhễm + Bệnh tồn tại trong đất, hom giống và xác bã thực vật xâm nhiễm qua các vết thương cơ học hoặc do tuyến trùng. + Bệnh lây lan qua dụng cụ nông nghiệp, nước tưới, nước mưa và xác bã thực vật nhiễm bệnh. - Phòng trị → Biện pháp vật lý: Xử lý giống bằng nước ấm có nhiệt độ 500C trong 30 phút trước khi trồng. → Biện pháp hóa học: 30 ngày sau khi trồng phun ngừa thuốc đặc trị vi khuẩn như Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) hoặc Kasuduc 3SL (35-40ml/ bình 25 lít), những lần sau phun cách nhau 15 ngày. 3. Bệnh thối củ do vi khuẩn Tác nhân: do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi. - Triệu chứng: Bệnh làm củ gừng mềm dần và thối, có mùi thối đặc trưng. Triệu chứng thối củ - Quá trình lây nhiễm + Bệnh gây hại nghiệm trọng ở các vùng thường xuyên ngập nước, qua các vết thương có sẵn hoặc qua giống nhiễm bệnh. + Vi khuẩn bắt đầu ăn chất lỏng tiết ra từ các tế bào bị thương và sinh sôi. Vi khuẩn tiết ra enzym pectolytic làm phân hủy và phá vỡ các tế bào cung cấp thêm thức ăn cho vi khuẩn. Thường thì phần vỏ ngoài không bị thối, cho đến khi bị nứt ra phần thối bên trong lây lan cho các củ gừng bên cạnh. - Phòng trị + Biện pháp vật lý → Xử lý giống bằng nước ấm có nhiệt độ 500C trong 30 phút trước khi trồng. → Vệ sinh đồng ruộng, dọn dẹp tàn dư thực vật. → Xử lý đất bằng vôi. → Trồng trên đất thoát nước tốt. → Tiêu huỷ cây bệnh tránh lây lan. → Bảo quản nơi thoáng mát sau thu hoạch. + Biện pháp hóa học: xử lý với thuốc đặc trị vi khuẩn như Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) hoặc Kasuduc 3SL (35-40ml/ bình 25 lít).            Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh   Công ty cổ phần BVTV Delta    
Quy trình chăm sóc tiêu
CÂY CÔNG NGHIỆP Quy trình chăm sóc tiêu
QUY TRÌNH CHĂM SÓC TIÊU 1. Bón phân Lượng phân bón hằng năm bón cho tiêu bao gồm phân hóa học và phân hữu cơ tùy thuộc và đất đai, khí hậu, tính hình sinh trưởng và giống trồng. Liều lượng phân NPK và phân chuồng bón cho tiêu theo tuổi cây Tuổi cây Phân chuồng (kg/gốc) N (g/gốc) P2O5 (g/gốc) K2O (g/gốc) Năm thứ 1 15-20 60 30 60 Năm thứ 2 15-20 120 50 120 Năm thứ ≥ 3 (cho trái) 15-20 190 80 360 Năm thứ 1: + Bón lót toàn bộ phân hữu cơ vào hố trồng cộng với 50g Super lân. + Bón 1/3 lượng phân hóa học (đạm, lân, kali) sau khi trồng 1 tháng. + Bón 1/3 lượng phân sau khi trồng 2-3 tháng. + Bón 1/3 lượng phân vào cuối mùa mưa (tháng 11 dl). Năm thứ 2: + Bón toàn bộ phân hữu cơ và 1/2 lượng phân hóa học vào đầu mùa mưa ( tháng 5-6 dl). + Bón 1/2 lượng phân hóa học còn lại vào cuối mùa mưa (tháng 11 dl). Năm thứ 3: Khi cây cho trái + Bón lót toàn bộ phân hữa cơ và ¼ lượng phân hóa học sau khi hái trái. + Bón 1/4 phân hóa học để thúc mầm hoa, lúc tiêu sắp cho gié hoa (khoảng tháng 5-6 dl). + Bón 1/4 phân hóa học lúc trái non hình thành trên gié để giúp giá tăng tỷ lệ đậu trái và phát triển trái non. + Bón 1/4 phân hóa học còn lại để nuôi trái. Cách bón phân + Bón phân hữu cơ: Xới đất chung quanh gốc trong bán kính 50-100 cm, sâu 5-10 cm, rãi đều phân chuồng, lấp đất lại, tránh làm tổn thương bộ rễ khi xới đất. + Bón phân hóa học: Đào rãnh sâu 5-10 cm chung quanh gốc, cách gốc khoảng 30-60 cm, rãi phân và lấp lại.   2. Tưới nước + Tiêu thích ẩm nhưng không chịu được úng, do vậy cần tưới tiêu hợp lý, nhất là không để vườn tiêu bị úng nước. Có thể đào các mương nhỏ sâu và rộng khoảng 30-50cm để giúp thoát nước vườn nhanh hơn. Trong mùa nắng phải tưới đủ ẩm, nhất là giai đoạn cây ra hoa và đậu trái. Sau khi thu hoạch cũng phải tưới nước thường xuyên để giúp mầm hoa phát triển tốt cho vụ kế tiếp, kết hợp với bón phân. Trước khi cây ra hoa ( khoảng tháng 5 dl) cần để cho cây có một thời gian khô ngắn (khoảng 7-10 ngày) giúp cây ra hoa tập trung vào đầu tháng 6 dl. Trong thời gian này tiến hành xới đất, làm cỏ, vun gốc. + Trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất xám bạc màu ở miền Đông Nam Bộ, đất cát ở Phú Quốc, đất giồng cát ở một số tỉnh ĐBSCL thì lượng nước cần cho một gốc tiêu trong mùa nắng khoảng 30-60 lít và tưới khoảng 4-6 lần/ tháng. Trên các loại đất đỏ Bazalt thì lượng nước tưới khoảng 40-80 lít và tưới khoảng 4-8 lần/ tháng. 3. Làm cỏ xới xáo Sau khi trồng khoảng 1 tháng cần tiến hành làm cỏ, nhất là vào đầu mùa mưa. Bộ rễ tiêu thích đất tơi xốp, thông thoáng nên có thể kết hợp làm cỏ, bón phân và xới xáo đất quanh cây tiêu. Cần lưu ý ở những nơi có bệnh dễ tấn công, hoặc sau khi xới xáo phải xử lý thuốc diệt nấm cho rễ. 4. Cắt tỉa, tạo hình Cắt tỉa, tạo hình là để cho cây tiêu có bộ khung phân bố đều quanh cây nọc, miễn sao cho cây tiêu có dạng hình trụ tròn để nhận được nhiều ánh sáng, phân bố của nhánh ác được đều sẽ có nhiều trái. Có thể kết hợp xén tỉa để lấy hom nhân giống. - Cơ sở của việc cắt tỉa, tạo hình        + Bấm đọt nhánh vượt chính để có nhánh vượt cấp 1, tiếp tục bấm nhánh vượt cấp 1 để có nhánh vượt cấp 2.        + Nhánh càng xa gốc càng có tuổi già hơn và khả năng cho ra cành mang trái nhiều hơn.        + Chùm hoa chỉ mọc ra trên nhánh ác.        + Cành ác vừa mang chùm hoa, nhưng đồng thời cũng sẽ cho ra cành ác năm sau. -  Cách cắt tỉa, tạo hình +  Sử dụng nhánh vượt các cấp để làm bộ khung cho cây tiêu tròn đều và sự phân bố của nhánh ác cũng đều đặn. + Thường xuyên bấm đọt nhánh vượt để tăng cấp cành để mau có nhánh ác. + Số lượng nhánh vượt sử dụng làm bộ khung cây tiêu tùy thuộc vào kích thước nọc, nọc lớn dùng nhiều nhánh vượt.   * Có thể bổ sung phân bón lá cho cây tiêu trong thời gian đầu giúp cây ra rễ nhanh phát triển tốt hơn   Công ty cổ phần BVTV Delta
Sâu vẽ bùa
CÂY ĂN TRÁI Sâu vẽ bùa
SÂU VẼ BÙA Tên khoa học: Phyllocnistis citrella Stainton Họ Gracillariidae, bộ cánh vảy (Lepidoptera) 1. PHÂN BỐ KÝ CHỦ Loài sâu này chủ yếu gây hại trên nhóm cây cam, quýt, chanh, nhưng mức độ thiệt hại khác nhau tùy theo giống 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Bướm rất nhỏ, dài khoảng 2mm, sải cánh rộng từ 4 – 5 mm. Toàn thân có màu vàng nhạt, hơi có ánh bạc. Cánh trước có dạng hình lá liễu, gốc cánh màu xám nhạt, phần còn lại màu trắng bạc hơi ngả vàng. Từ gốc cánh có hai vân dọc màu đen kéo dài đến giữa cánh. Khoảng 1/3 về phía đầu cánh có một vân xiên giống hình chữ Y. Phần đầu cánh có rìa lông khá dài màu đen. Cánh sau rất hẹp, màu xám đen, hai rìa lông bên ngoài rất dài màu xám nhạt. - Thời gian sống của bướm từ 4 – 5 ngày. Một bướm cái đẻ từ 40 – 50 trứng, - Trứng hình bầu dục dẹp, rất nhỏ, khoảng 0,2 – 0,3 mm. Trứng mới đẻ trong suốt, sắp nở có màu trắng đục hơn ngả vàng. Thời gian ủ trứng từ 2 – 7 ngày. - Sâu mới nở dài khoảng 0,5mm, thân màu xanh nhạt, gần như trong suốt, đầu màu nâu. Sâu lớn đủ sức dài khoảng 4mm, màu vàng xanh, cơ thể không còn trong suốt. Mình sâu dẹp, có 13 đốt, hai đầu thon nhỏ, chân ngực và chân bụng đều thoái hóa, đốt cuối có hình ống dài. - Ở giai đoạn chuẩn bị nhộng, cơ thể sâu không còn dẹp mà chuyển sang dạng hình ống màu trắng ngả vàng đục. Sâu có 4 tuổi, phát triển trong thời gian từ 5 – 20 ngày tùy điều kiện ngoại cảnh. - Nhộng dài từ 2 – 3 mm, hai đầu thon nhỏ, lúc mới hình thành màu vàng nhạt, sau chuyển thành màu nâu vàng với một gai rất nhỏ trên đầu. Nhộng phát triển trong thời gian từ 7 – 15 ngày. 3. TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI - Bướm ít bị thu hút bởi ánh sáng đèn. Ban ngày bướm ẩn trốn trong tán lá cây, ban đêm bay ra hoạt động và đẻ trứng, mạnh nhất từ 19 – 21 giờ. Từ 12 – 15 giờ sau khi bắt cặp bướm cái bắt đầu đẻ trứng. - Khoảng 85% số trứng được đẻ trong vòng 2 ngày đầu. Trứng thường được đẻ ở mặt dưới lá, trung bình 2 – 3 trứng trên một lá hay một chồi non. Phần lớn trứng tập trung hai bên gân chính. Bướm thích đẻ trứng ở những vườn cam, quýt dưới 4 năm tuổi. - Sâu mới nở đục ngay vào dưới biểu bì là và tiếp tục đục ăn thành những đường ngoằn nghèo như đường vẽ trên các lá bùa nên sâu có tên gọi là “sâu vẽ bùa”.  Sâu sống bên trong đường đục và ăn lớp tế bào nhu mô diệp lục. Lớp biểu bì khi mới bị tách khỏi lớp nhu mô thường trong bóng, do đó rất dễ nhầm lẫn với vệt chất nhầy của ốc sên để lại trên mặt lá khi di chuyển. - Lá bị sâu tấn công sẽ quăn queo làm hạn chế rất lớn sự quang hợp, chồi non ngừng tăng trưởng. Ngoài ảnh hưởng trên, những vết thương do sâu đục trên bề mặt lá hoặc chồi sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. Citri phát triển mạnh, gây ra bệnh loét cho cây cam, sau cùng các chồi non sẽ bị hủy diệt. - Các lá cam, quýt hay chanh quăn queo, co rúm do sâu vẽ bùa tạo nên còn là nơi trú ẩn của nhiều loài sâu hại khác. 4. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Nên phòng vào giai đoạn cây ra lá non như vào đầu mùa mưa hoặc sau khi bón phân, tưới nước. - Có thể áp dụng thuốc sớm khi mới vừa có triệu chứng gây hại đầu tiên bằng thuốc B52 DUC 40EC Pha 25ml/ bình 25 lít     Công ty cổ phần BVTV Delta
Đặc tính thực vật của cây tiêu
CÂY CÔNG NGHIỆP Đặc tính thực vật của cây tiêu
CÂY TIÊU Piper nigrum - Cây tiêu có tên khoa học là Piper nigrum thuộc họ Piperaceae. Tiêu được sử dụng nhiều trong đời sống con người như dùng làm gia vị thức ăn, y học (kích thích tiêu hóa, chống lạnh, nôn mửa, tiêu chảy), hương liệu…. - Hạt tiêu là loại gia vị có giá trị kinh tế cao vì được sử dụng với khối lượng lớn trong công nghiệp chế biến đồ hộp và thực phẩm. Hiện nay, Việt Nam đã được Ủy ban Hồ tiêu thế giới xếp vào nhóm nước xuất khẩu Tiêu hàng đầu thế giới. - Ở nước ta, các vùng có tiềm năng phát triển tiêu gồm: + Đông Nam Bộ: Tốt nhất là vùng đất đỏ Bazalt như Lộc Ninh, Bình Long (Bình Phước), Bà Rịa, Xuân Lộc (Long Khánh). + Tây Nguyên: Lâm Đồng (Di linh, Bảo Lộc, Đa Hoai) Đăk Lăk, Pleiku, Buôn Mê Thuộc. + Miền Trung: Khe Sanh, (Quảng Trị), Tiên Phước. + Kiên Giang: Hà Tiên, Phú Quốc. ĐẶC TÍNH THỰC VẬT Rễ Tùy thuộc vào phương pháp nhân giống và chức năng mà chia ra 4 loại rễ. - Rễ trụ          Khi gieo hột, một rễ cái mọc ra trước ăn sâu vào trong đất để lấy nước gọi là rễ cọc. Rễ cọc mọc rất sâu có thể đến 1m. - Rễ cái Khi nhân giống bằng hom, rễ mọc từ thân hom tiêu gọi là rễ cái. Rễ cái có từ 3-5 rễ ăn sâu vào đất để lấy nước. - Rễ con Rễ mọc ra từng chùm từ rễ cái gọi là rễ con. Rễ con thường phát triển nhiều ở tầng đất mặt để lấy dưỡng chất. - Rễ bám Rễ mọc ra từ các đốt thân để bám trên nọc giúp cây tiêu đứng vững gọi là rễ bám hay rễ khí sinh, rễ này hấp thu dưỡng chất không nhiều lắm   b. Thân Thân tiêu thuộc loại thân bò, cọng trụ, có màu hồng lúc non, khi già có màu xanh hay xám, có thể dài trên 10 m. Thân tiêu được cấu tạo là những bó mạch nên rất mẫn cảm với yếu tố nước. Sự thay đổi hàm lượng nước trong môi trường đất đều có ảnh hưởng đến sự trương nước của cây tiêu. c. Nhánh Tùy thuộc vào chức năng mà trên cây tiêu có thể chia ra 3 loại nhánh: + Nhánh vượt Là những nhánh mọc rất khỏe, đâm thẳng ra từ những mắt trên than chính làm thành góc khoảng 450 với thân. Khi cây còn nhỏ, nhánh này dùng để tạo tán cho tiêu. Nhưng khi cây đã lớn thì cần cắt bỏ vì tiêu hao nhiều dưỡng chất và dễ bị sâu bệnh tấn công. Lấy cành này làm hom giống lâu cho trái, nhưng cây tiêu sống lâu + Nhánh ác Là những nhánh mang trái, mọc từ những mắc trên thân chính gần ngọn. Nhánh ác có lóng ngắn, khúc khuỷu. Lấy nhánh này làm hom nhân giống mau cho trái, nhưng mau cổi và cho năng suất không cao. + Nhánh lươn Là nhánh mọc từ những mắt của thân chính ở phần gốc thân gần mặt đất. Những nhánh này thường bò dài trên mặt đất, cho trái kém. Lấy nhánh làm hom nhân giống lâu cho trái, nhưng cây tiêu sống lâu. d. Lá Lá tiêu hình trái tim tròn hay hơi dài, tùy giống lá thuộc loại lá đơn, mọc xen, có lá bẹ làm thành ống bao lấy chồi. Phiến lá có gân chính hình lông chim, rất thơm. Mặt trên lá láng màu xanh đậm hơn mặt dưới. e. Hoa Hoa tiêu có thể lưỡng tính, đơn tính mọc trên một gié hoa đối diện với lá, trung bình có từ 25-5 hoa. Hoa trần, không cuống hoa, gắn ở nách một lá hoa hình dĩa, và trong một lõm.. Có 2 tiểu nhị, bầu noãn có 1 ngăn. f. Trái - Mỗi trái tiêu chỉ có 1 hột tròn, kích thước thay đổi tùy giống. Trái gần như không có cuống, mọc riêng lẽ trên nhánh của gié. Từ khi hoa nở đến khi trái chin mất 6-10 tháng tùy theo màu và điều kiện canh tác. - Có thể chia thành 3 giai đoạn phát triển như sau: + Giai đoạn ra hoa và thụ phấn: từ 1-1,5 tháng + Giai đoạn từ thụ phấn đến khi trái trưởng thành: Từ 3-5 tháng + Giai đoạn từ trưởng thành đến chín: từ 2-3 tháng   Công ty cổ phần BVTV Delta
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA