KỸ THUẬT CANH TÁC

Nhu Cầu Dinh Dưỡng Của Cây Cà Phê
CÂY CÔNG NGHIỆP Nhu Cầu Dinh Dưỡng Của Cây Cà Phê
Nhu Cầu Dinh Dưỡng Của Cây Cà Phê        Cà phê là loại cây trồng có nhu cầu dinh dưỡng cao. Trong suốt quá trình sinh trưởng, ra hoa, nuôi quả, cây phê cần khoảng 12 loại dưỡng chất khác nhau. Mỗi loại dưỡng chất có vai trò nhất định đối với quá trình sinh trưởng, năng suất và chất lượng cà phê. N P K Ca Mg S B Cu Fe Mn Mo Zn         1. Nhu cầu các chất đa lượng     -  Nhu cầu đạm và kali đối với cây cà phê là cao nhất so với các loại dưỡng chất khác và ở mức tương đương nhau. Để đạt được năng suất 3 tấn cà phê nhân, trung bình một héc-ta cần bón 230 - 250kg N và khoảng 200 - 230kg K2O.    -   Đạm là dưỡng chất thiết yếu cho sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Cây cà phê cần nhiều đạm nhất trong mùa mưa. Đây là thời điểm quả phát triển nhanh và cũng là thời điểm tạo cành lá mới dự trữ cho vụ sau. Nếu không cung cấp đủ đạm trong thời kỳ này, cây sẽ chỉ ưu tiên tập trung đạm cho việc nuôi quả, dẫn đến sinh trưởng sinh dưỡng bị ảnh hưởng, sự phân cành dự trữ kém, dẫn đến giảm năng suất trong vụ tiếp theo.    -   Kali là dưỡng chất quan trọng thứ hai sau đạm. Đặc biệt, với cây cà phê đang ở giai đoạn kinh doanh, nhu cầu kali gia tăng từ thời kỳ phát triển quả đến khi quả thành thục và chín. Do vậy, cung cấp đầy đủ kali giúp cho nhân chắc mẩy, tăng năng suất và chất lượng cà phê.    -   Nhu cầu lân của cây cà phê không cao, khoảng 25 kg/ha. Tuy nhiên, lân rất cần cho sự phát triển của bộ rễ và thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa. Trong thực tiễn sản xuất, lân dễ bị cố định trong đất do sự hình thành phốt-phát sắt và nhôm kém hòa tan. Do đó, có thể gia tăng cung cấp lượng lân lên tới 100 kg/ha/năm.      2.  Nhu cầu các chất trung và vi lượng    -   Trong các bộ phận của cây cà phê, hàm lượng canxi (Ca) xếp thứ ba, nhiều hơn lân. Tuy nhiên, nông dân chưa ưu tiên bổ sung canxi cho cây cà phê trong thực tế sản xuất hiện nay. Lượng canxi bón rất thấp so với nhu cầu của cây. Canxi giúp vách tế bào chắc khỏe, tăng sức chống chịu và cải thiện chất lượng cà phê. Bón canxi sớm và đầy đủ làm giảm rụng quả non trong mùa mưa.    -   Sau canxi, magiê (Mg) có hàm lượng khá cao trong các bộ phận của cây cà phê. Magiê là thành phần chính của diệp lục tố. Magiê là chất có tính di động cao, có thể di chuyển từ lá già đến lá non. Cung cấp đủ magiê làm giảm vàng lá (do thiếu magiê) ở các cành sai quả.    -   Lưu huỳnh (S) là thành phần quan trọng của cây cà phê. Trong lá cà phê thành thục, lưu huỳnh có hàm lượng cao hơn lân. Do đó, cần bón loại phân có bổ sung lưu huỳnh để đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng lưu huỳnh của cây cà phê.    -   Bo (B) có hàm lượng nhỏ trong các bộ phận cây cà phê. Tuy cần một lượng ít, nhưng bo đóng vai trò rất quan trọng, thúc đẩy tăng số đốt, số cành dự trữ, tăng mầm hoa, kéo dài sức sống hạt phấn. Bón bo sẽ làm tăng tỉ lệ đậu quả trên cà phê.    -   Hàm lượng kẽm (Zn) trong lá khoảng bằng 1/3 so với bo nhưng kẽm cũng có vai trò rất quan trọng. Kẽm giúp tăng khả năng chịu hạn, chịu nóng cho cây cà phê. Để đáp ứng nhu cầu kẽm của cây cà phê, cần chọn loại phân có chứa kẽm hoặc phun bổ sung kẽm qua lá.   Nguồn: Bộ Tài Liệu Hướng Dẫn Canh Tác Cà Phê Bền Vững  
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KHOAI MÔN
CÂY RAU MÀU KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KHOAI MÔN
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KHOAI MÔN Colocasia esculenta 1. Chọn giống    Củ giống tốt là những củ con cấp 1 hoặc cấp 2 có khối lượng 20-30 g/củ, không bị thối, lớp vỏ ngoài có nhiều lông. Mảnh củ giống tốt khi mảnh củ có mầm to bằng hạt đậu đen kèm theo vài sợi rễ ngắn khoảng 0,5-1 cm. - Có 2 phương pháp nhân giống:   + Phương pháp 1: Phá tính ngủ nghỉ của đỉnh củ bằng cách cắt bỏ mầm ngọn, như vậy sẽ làm kích thích các lá mầm bên phát triển sớm. Trong thực tế người ta thường cắt củ cái thành những mảnh củ theo chiều ngang củ hoặc cắt thành mảnh nhỏ kích thước 2x2x2 cm khi đã có mầm bên, đem ủ hoặc giâm chúng riêng rẽ, khi lên cây chồi, ra rễ thì đem trồng.   + Phương pháp 2: Nhân giống bằng cấy mô. 2. Thời vụ - Khoai môn có thể trồng quanh năm, nhưng phổ biến trồng ở 3 vụ chính sau:   + Vụ Xuân Hè: trồng tháng 1-2 dương lịch, thu hoạch tháng 5-6 dương lịch.   + Vụ Hè Thu: trồng tháng 5-6 dương lịch, thu hoạch tháng 8-9 dương lịch.   + Vụ Thu Đông: trồng tháng 8-9 dương lịch, thu hoạch tháng 11-12 dương lịch. 3. Chuẩn bị đất    Khoai môn có bộ rễ ăn nông, thích hợp đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ ở ven sông. Đất phải được cày, bừa kỹ, san bằng phẳng mặt để tránh bị đọng nước. Lên liếp đôi để trồng 2 hàng, liếp rộng 1,8-2 m, xẻ mương giữa rộng khoảng 0,2 m. 4. Gieo trồng - Ươm cây   + Chọn củ con cấp 1 hoặc cấp 2 có khối lượng 20-30 g, không thối hoặc khô ở đít và lớp vỏ ngoài có nhiều lông.   + Ngâm củ giống trong lu có nước ngập xâm xấp, có xử lý thuốc trừ nấm trong vòng 12 giờ, sau đó rửa cho sạch, trải củ giống có lót bao bố nơi mát tránh bị mưa rồi trùm bao lên củ giống thời gian từ 1-3 ngày.   + Liếp ươm có đổ tro trấu, rải củ đều trên mặt liếp, sau đó phủ lớp tro trấu lên mặt có tủ 1 lớp rơm mỏng, sau 12-15 ngày lấy ra trồng, phân loại củ giống theo mầm dài trồng trước và mầm ngắn trồng sau để dễ chăm sóc. - Trồng cây   + Mật độ trồng: Lượng giống cần: 1.200-1.500 củ giống/1.000 m2.   + Khoảng cách trồng: Cây cách cây là 0,6 m và hàng cách hàng 1 m. Rạch hàng hoặc đào hốc để đặt củ, sau đó phủ 1 lớp đất mỏng lên củ, phủ 1 lớp rơm rạ lên để giữ ẩm.   + Xử lý đất: Tưới thuốc trừ nấm cộng với thuốc sâu dạng hạt, có mùi hôi để diệt kiến, dế có trong đất. 3. Chăm sóc - Lượng phân bón cho 1 ha như sau:   + Bón lót: Phân hữu cơ vi sinh: 2 tấn, phân lân (P2O5): 60kg   + Bón thúc      * Lần 1: Đạm (N): 48 kg, Kali (K2O): 32 kg, bón vào giai đoạn cây khoai được 4-5 lá. Bón đều cách gốc 15-20 cm, vun nhẹ và kết hợp lấp phân.      * Lần 2: Đạm (N): 32 kg, Kali (K2O): 48 kg, vào giai đoạn cây khoai 7-8 lá. - Vun xới đất nhẹ theo các lần bón thúc, tránh làm đứt rễ sẽ ảnh hưởng đến năng suất củ. Chỉ xới rảnh liếp và vun đất vào gốc khoai. - Tưới nước: Cần tưới nước giữ ẩm và tưới nước sau khi bón phân để phân dễ tan. 4. Phòng trừ sâu bệnh - Sâu hại    + Sâu xanh: Gây hại lá bằng cách ăn lủng lá làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây.   + Rầy mềm: Chích hút dinh dưỡng thân lá và truyền bệnh virus. Chúng gây hại chủ yếu vào cuối vụ, sử dụng thuốc có hoạt chất Imidacloprid, Thiamethoxam, Etofenprox…    + Nhện đỏ: Gây hại chủ yếu vào cuối mùa khô, là lá héo rũ hoặc chết cây con. Phun thuốc có hoạt chất Propargite, Sulfur, Hexythiazox. - Bệnh hại    + Bệnh cháy lá: do nấm Phytophthora colocasiae. Chủ yếu gây hại vào mùa mưa, bệnh xuất hiện đầu tiên là các đốm lá tròn 1-2 cm, sủng nước, màu hơi tím, đốm nâu trên lá, đốm bệnh lớn dần làm cháy cả lá. Phòng bệnh như vệ sinh đồng ruộng, sử dụng giống kháng hoặc ít nhiễm, tránh lây lan cơ học và phun định kỳ 7-14 ngày/lần bằng các thuốc gốc đồng hoặc Ridomyl, Manzate, Dithan.    + Bệnh thối mềm củ: Do nấm Pythium spp. Mầm bệnh tấn công rễ và củ giống làm củ thối mềm và bốc mùi hôi, lá vàng úa, cây héo rồi chết. Phòng bệnh bằng cách luân canh, sử dụng củ giống không nhiễm bệnh, xử lý củ giống và xử lý đất bằng thuốc trừ nấm hoạt chất Carbendazin, Propineb, Bordeaux, Zineb, Chlorothalonil,…    + Bệnh thối củ: Do nấm Sclerothium rolfsii. Cây lùn, củ thối, quanh gốc cây và trên củ có nhiều tơ nấm trắng và hạch nấm trắng. Tưới thuốc trừ nấm khi bệnh xuất hiện như: Thiophanate-methyl, Metalaxyl, Mancozeb, Benomyl…    + Bệnh bướu rễ: Do tuyến trùng Meloidogyne spp. Rễ và củ nổi bướu, củ bị sần, méo mó, cây lùn và lá vàng như thiếu đạm. Phòng trị bệnh dùng giống sạch bệnh, diệt tuyến trùng trong củ bằng cách ngâm trong nước 54oC trong vòng 50 phút. 5. Thu hoạch    Sau trồng 4,5-5 tháng, lúc ruộng khoai có 70-80% lá chuyển sang màu vàng. Chọn ngày không mưa để thu hoạch, nếu thu hoạch khi lá vẫn còn xanh thì không cắt ngay lá mà để nguyên cả cây nơi râm mát trong 5-7 ngày để củ chín sinh lý thêm và đảm bảo chất lượng.     Công ty cổ phần Bảo Vệ Thực Vật Delta
CÂY KHOAI MÔN
CÂY RAU MÀU CÂY KHOAI MÔN
CÂY KHOAI MÔN Tên tiếng Anh: Elephant-ear, Taro, Cocoyam, Dasheen, Chembu, Eddoe. Tên khoa học: Colocasia esculenta (L.) Schott Họ: Araceae (họ Ráy) 1. Đặc điểm thực vật - Khoai môn sọ: Là loại cây thân thảo thường cao từ 0,5-2 m. Cây môn sọ gồm có 1 củ cái ở giữa thường nằm ở dưới đất, từ đó lá phát triển lên trên, rễ phát triển xuống dưới, trong khi củ con, củ nách và các dãi bò phát triển sang các bên.  + Rễ: Hệ thống rễ của loài môn sọ là rễ chùm mọc ở đốt mầm, ngắn và phát triển thành nhiều tầng. Rễ thường có màu trắng hoặc có chưa anthocianin.  + Thân: Cây môn sọ chỉ có thân giả trên mặt đất. Củ cái chính được coi là cấu trúc thân chính của cây (được gọi là thân củ). Trên thân củ có nhiều đốt, mỗi đốt có mầm phát triển thành nhánh.  + Lá: Là phần duy nhất nhìn thấy trên mặt đất, quyết định chiều cao của cây. Mỗi lá được cấu tạo bởi một dọc lá thẳng và một phiến lá.  + Dọc lá: Mập, có bẹ ôm chặt ở phía gốc tạo nên thân giả, bẹ của dọc thường là dạng ôm.  + Củ gồm 3 phần: Vỏ ngoài, vỏ áo và lõi củ (thịt củ). Vỏ ngoài có thể nhẵn, sần sùi hoặc được phủ bằng những lớp vảy thường có màu nâu đậm. Sắc tố trong củ có thể là trắng, trắng xơ vàng, vàng hoặc tắng xơ tím. Kích thước và hình dạng củ rất khác nhau tùy thuộc vào kiểu gen, loại củ giống và các yếu tố sinh thái. Tất cả củ cái, củ con và củ nách có cấu tạo bên ngoài gần như nhau đều có một mầm ở đỉnh và nhiều mầm nách của vô số các lá vảy trên thân củ. 2. Các thời kì sinh trưởng Cây khoai môn là cây thân thảo nhưng nó tồn tại từ năm này qua năm khác nhờ củ cái và củ con. Từ khi trồng đến thu hoạch trải qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn ra rễ mọc mầm    Xảy ra ngay sau khi trồng và tiếp theo là sự phát triển nhanh chóng của chồi (mầm) củ. Khi chồi mầm ra khỏi mặt đất đến khi phát triển lá thứ nhất mất khoảng 15-20 ngày, sau đó trung bình 10-12 ngày xòe 1 lá. Từ lúc lá nhú đến nở hoàn toàn mất 4-5 ngày. Tuổi thọ của lá khoảng 32-37 ngày. Khi ra lá thứ 4, thứ 5 thì lá thứ nhất bắt đầu héo, sau đó cứ được 2-3 lá thì có 1 lá héo. - Giai đoạn sinh trưởng thân lá    Đặc trưng bởi sự phát triển thân lá và thình thành củ cái. Khi tốc độ ra lá nhanh, cũng là lúc diên tích lá tăng nhanh nhất. Sự hình thành củ cái thường bắt đầu xảy ra sau trồng khoảng 3 tháng. Sự hình thành củ con được xảy ra sau đó một thời gian ngắn. Trong giai đoạn này, cây cũng bắt đầu đẻ nhánh phụ. Sự phát triển của chồi và lá sẽ chỉ giảm mạnh vào khoảng sau trồng 5-6 tháng. Vào thời điểm đó, số lá mọc chậm lại, chiều dài của dọc cũng giảm, giảm tổng diện tích lá trên cây và giảm cả chiều cao cây trung bình trên đồng ruộng. - Giai đoạn phình to của thân củ    Thời gian đầu củ cái và củ con phát triển chậm nhưng khoảng tháng thứ 4-6 ( phụ thuộc vào giống ngắn ngày hay dài ngày) khi sự phát triển của chồi giảm, củ cái và củ con phát triển rất nhanh. Cuối vụ, sự lụi đi của rễ và các chồi càng tăng nhanh cho đến khi chồi chính chết. Lúc này thu hoạch củ là thích hợp nhất. Nếu củ không được thu hoạch, chính củ cái và củ con cho phép cây tồn tại qua mùa khô và chúng sẽ nảy mầm, mọc thành cây mới vào thời vụ thích hợp tiếp theo. Những nơi không có mùa khô, sau khi thân tàn, củ lại mọc mầm mới tiếp tục phát triển thêm vài năm nữa.     Công ty cổ phần Bảo Vệ Thực Vật Delta  
PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CÀ CHUA
CÂY RAU MÀU PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CÀ CHUA
  PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CÀ CHUA 1. Rầy phấn trắng (Bemisia tobaci):     Thành trùng màu trắng, dài khoảng 2 mm, bay chậm. Ấu trùng rất giống rệp dính, màu trắng trong, được phủ một lớp sáp, ít bò, thường cố định một chỗ chích hút mô cây. Ấu trùng và thành trùng đều chích hút làm lá biến vàng, cây mau suy yếu, giảm năng suất và truyền bệnh khảm do virus. 2. Bọ trĩ, bù lạch (Thrips palmi):     Thành trùng và ấu trùng rất nhỏ có màu trắng hơi vàng, sống trong đọt non hay mặt dưới lá non, chích hút nhựa cây làm cho đọt non bị xoăn lại.    Cả 2 đối tượng trên đều phát triển nhanh trong điều kiện nóng và khô, rất nhanh quen thuốc khi phun ở nồng độ cao, hoặc phun thường xuyên định kỳ mà ít thay đổi nhóm thuốc. Chúng truyền bệnh virus làm cây bị ngù đọt, trái bị sượng. Phun mặt dưới lá, mỗi lần một trong các nhóm hoạt chất Emamectin, Abamectin, Imidacloprid, Pymetrozine. Mỗi lần phun kết hợp với dầu khoáng (1-2 ml/L). 3. Dòi đục lòn:     Ấu trùng sống trong lá, đục thành những đường ngoằn ngoèo, dòi đẩy sức dài 3,3 mm. Thành trùng là loài ruồi đen nhỏ, có điểm vàng trên lưng ngực, bay kém nên di chuyển trên ruộng theo hướng gió. Ấu trùng dòi đục lá đục vào trong lá ăn mô lá, chừa lại biểu bì tạo ra những đường ngoằn ngoèo trên lá. Thành trùng - Ấu trùng 4. Sâu xanh đục trái (Heliothis armigera):     Thành trùng là bướm đêm, kích thước to. Trứng đẻ thành ổ có phủ lông vàng, một bướm cái đẻ 200-2000 trứng. Sâu ở phía ngoài thò đầu vào bên trong phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đục thủng trái từ khi còn xanh cho đến lúc gần chín làm thối trái. 5. Sâu ăn tạp, sâu ổ, sâu đàn (Spodoptera litura):     Sâu non lúc nhỏ sống tập trung ở mặt dưới phiến lá nên gọi là sâu ổ, khi lớn lên phân tán dần, mình có màu xám với khoan đen lớn ở trên phía lưng sau đầu, ăn lủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt ngang thân cây con. Sau đó sâu thường chui vào xống trong đất, ẩn dưới các khe nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất, nhộng ở trong đất. Nên làm đất kỹ trước khi trồng vụ sau để diệt sâu và nhộng còn sống trong đất. Có thể ngắt bỏ ổ trứng hay bắt sâu non đang sống tập trung. 6. Bệnh héo rũ, héo xanh, chết nhát (vi khuẩn Ralstonia solanacearum):     Bệnh thường gây hại trên cây đã trưởng thành hoặc đang mang trái. Đầu tiên là các lá ngọn bị héo vào buổi trưa và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hẳn không còn khả năng hồi phục. Các lá già khi cây chết có màu vàng và khô. Nếu cây chết chậm hơn, quan sát phần gốc cây vẫn bình thường, nhổ cây lên tách phần võ ra ta thấy có những sọc đen chạy dọc theo thân là do vi khuẩn làm nghẽn mạch nhựa.    Phòng ngừa: Phun thuốc 7 ngày/lần với một số thuốc thuộc các nhóm Oxytetracyline Hrochloride + Streptomycine Sulfate, Protein Amylose, Streptomyces lydicus WYEC 108. 7. Bệnh héo vàng (nấm Fusarium oxyporum):     Cây chết, lá vàng từ gốc lên trên, phun thuốc vào gốc thân các loại thuốc trừ nấm có hoạt chất Mancozeb, Metalaxy, thuốc gốc đồng, … 8. Bệnh thán thư (nấm Colectotrichum phomoides): 9. Bệnh mốc đen lá (nấm Cladosporium fulvum): 10. Bệnh mốc sương, héo muộn (nấm Phytophthora ingestans):     Phun mặt dưới lá và trái luân phiên các loại thuốc trừ nấm có hoạt chất Mancozeb, Metalaxy, Propineb, Oxytetracyline Hrochloride, thuốc gốc đồng, …     Công ty cổ phần Bảo Vệ Thực Vật Delta  
KỸ THUẬT CANH TÁC CÀ CHUA
CÂY RAU MÀU KỸ THUẬT CANH TÁC CÀ CHUA
KỸ THUẬT CANH TÁC CÀ CHUA 1. Chọn giống Savior: Thân sinh trưởng hữu hạn cao 0.81 m, kháng bệnh khảm khá, thịt trái dầy và chắc, trọng lượng trái 60-80 g/trái, trồng được quanh năm, cho thu hoạch 60-65 ngày sau khi trồng, thời gian thu hoạch khoảng 30-40 ngày, năng suất trung bình 3.5-3.5 tấn/1000m2. Red Crow 250, TN148: Thân sinh trưởng bán hữu hạn, cao 1.52 m, cần làm giàn chắc chắn, cây tăng trưởng mạnh, trồng quanh năm, trái phát triển đều, trái tròn, hơi có khía, rất cứng và ít nứt trái trong mùa mưa, trọng lượng trái 70-100 g/trái. Giống cho thu hoạch 65-70 ngày sau khi trồng, thời gian thu hoạch dài, năng suất 3-4 tấn/1000m2. TN 84: Cà chery, khả năng cho trái tốt trong vụ Đông Xuân, dạng cây trung bình, cao khoảng 1.5 m, đậu trái nhiều, cho thu hoạch 65-70 ngày sau khi cấy cây con, dạng trái elip dài, thon, màu đỏ tươi, nặng khoảng 8-12 g/trái, ngon, độ đường 8.5%, trái cứng dễ vận chuyển và bảo quản, cuống trái khó rụng, năng suất 1.5-2 tấn/1000 m2. 2. Thời vụ     Trồng quanh năm Vụ Động Xuân (vụ thuận): Trồng từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau, thời tiết mát, đậu trái nhiều, năng suất cao nhất. Vụ Xuân Hè: Trồng từ tháng 1 đến tháng 4, đậu trái kém hơn vụ Đông Xuân, chú ý phòng trị rầy phấn trắng và bù lạch gây bệnh khảm (ngù đọt). Vụ Thu Đông (vụ nghịch): Trồng từ tháng 7 đến tháng 11, mưa dầm dễ bị úng ngập và bị bệnh héo xanh, năng suất thấp nhưng giá cao. 3. Chuẩn bị đất - Lên liếp + Liếp đôi: mặt liếp rộng 1-1.3 m, trồng 2 hàng, lối đi 0.5 m, khoảng cách cây 0.35 m (giống thấp cây) đến 0.5 m (giống cao cây), mật độ 2500-3000 cây/1000 m2, phù hợp trồng trong mùa nắng và loại hình sinh trưởng thấp như cây cà chua F1 giống Savior. + Liếp đơn: Mặt liếp rộng 0.6 m, trồng 1 hàng, lối đi 0.6 m, khoảng cách cây 0.5 m, mật độ 1.600 cây/1000 m2. Thích hợp trồng mùa mưa hoặc loại cây sinh trưởng cao như cà TN 148, Red Crown 250. Sử dụng màng phủ nông nghiệp: Tưới thật đẫm nước trước khi đậy màng phủ, trên 1000 m2 dùng 1.5-2 cuồn màng phủ, chiều dài mỗi cuồn 400 m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống. Nếu liếp trồng một hàng dùng màng phủ khổ rộng 1-1.2 m, liếp trồng 2 hàng dùng màng phủ khổ 1.2-1.6 m, nên phủ kín chân liếp thì hiệu quả càng cao, dùng que ghim mé màng phủ tránh gió tốc. 4. Gieo trồng - Lượng hạt gieo cho 1000 m2 là 7-10 gram (330-350 hạt/gram). Hạt gieo trong khay ươm chuyên dùng 15-20 ngày đem trồng, cây con để trễ hơn sẽ dễ đỗ ngã trong mùa mưa. Làm mái che cho cây con khi mưa. - Trồng cây vào buổi chiều mát, nhẹ nhàng để tránh vỡ đất xung quanh rễ, lắp đất vừa ngang miệng bầu đất. Rãi các loại thuốc có mùi hôi (1-2 kg/1000 m2) ngay lỗ trống, tránh dế hay sâu ăn tạp hại cây con. 5. Chăm sóc - Bón phân: Tùy theo loại đất, loại và lượng phân bón trung bình toàn vụ cho 1 ha với công thức nguyên là 215 kg N – 200 kg P2O5 – 210 kg K2O. Bón phân thúc bằng cách vén màng phủ, rãi mỗi lần một bên. - Lượng phân bón cho 1 ha như sau: + Bón lót: Vôi bột 1500 kg + Phân hữu cơ vi sinh 2000 kg + NPK (20-20-15) 300kg. + Bón thúc ngày sau khi trồng (NSKT): 17-20 NSKT: NPK (20-20-15) 150kg + KCl 20 kg + Ca(NO3)2 20 kg. 35-40 NSKT: NPK (20-20-15) 150kg + KCl 30 kg. 55-60 NSKT: NPK (20-20-15) 250kg + KCl 30 kg + Ca(NO3)2 30 kg. 75 NSKT: NPK (20-20-15) 150kg + KCl 20 kg + Ca(NO3)2 20 kg. Cà chua thường bị thối đít trái như mày ốc do thiếu canxi, nếu thấy trái non bị thối nên phun trên lá bằng Canxi Clorua (CaCl2), nồng độ 2-4‰ định kỳ 7-10 ngày/lần từ lúc trái non phát triển. + Tưới nước: Ngay sau khi trồng, gặp nắng mạnh dùng vòi sen tưới 2-3 lần/ngày, vào khoảng 3-5 ngày đầu. Nếu trồng trên nền đất lúa thì áp dụng biện pháp tưới thấm vào buổi chiều mát, cho nước vào rãnh khoảng 1 giờ rút cạn, 3-4 ngày tưới một lần, lúc cây mới trồng mực nước cao cách đỉnh liếp 10 cm, cây càng lớn mực nước càng thấp dần, khi cây mang trái không giữ nước trong rãnh, chỉ giữ cho đất ráo, vừa đủ ẩm để hạn chế bệnh héo xanh. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt. + Làm giàn: Khi cây cao 30-40 cm, cắm cây trụ (cao 1.5 m) dọc theo hàng cà, dạng thẳng đứng như hàng rào hoặc chữ A, khoảng cách giữa 2 cây trụ 3-4 m, giăng dây chì hoặc ni lông, giữ cho cây cà đứng vững. + Tỉa chồi và lá chân: Tỉa bỏ tất cả chồi dại ở dưới vết ghép và tỉa bỏ các chồi gốc khi vừa nhú ra. Nếu cà chua thuộc loại sinh trưởng vô hạn (cây cao hơn 1 m) thì chừa 1-2 nhánh/cây, nếu thuộc loại sinh trưởng hữu hạn (thấp hơn 1 m) thì giữ hết nhánh. Nên tỉa bỏ các lá chân đã già hoặc chuyển sang màu vàng giúp tập trung dinh dưỡng nuôi trái, cây thông thoáng, ít bị sâu bệnh. + Phòng trừ sâu bệnh hại chính: Rầy phấn trắng (Bemisia tobaci), Bọ trĩ, bù lạch (Thrips palmi), Dòi đục lòn, Sâu xanh đục trái (Heliothis armigera), Sâu ăn tạp, sâu ổ, sâu đàn (Spodoptera litura), …. Đặt bẫy dính màu vàng ngay sau khi trồng để bắt các loại côn trùng có cánh, làm giảm số cây bị ngù đọt, số lượng khoảng 30-40 bẫy/1000 m2. Bệnh héo rũ, héo xanh, chết nhát (vi khuẩn Ralstonia solanacearum), Bệnh héo vàng (nấm Fusarium oxyporum), Bệnh thán thư (nấm Colectotrichum phomoides), Bệnh mốc đen lá (nấm Cladosporium fulvum), Bệnh mốc sương, héo muộn (nấm Phytophthora ingestans): Phun mặt dưới lá và trái luân phiên các loại thuốc trừ nấm có hoạt chất Mancozeb, Metalaxy, Propineb, Oxytetracyline Hrochloride, thuốc gốc đồng, … 6. Thu hoạch     Cà bắt đầu cho thu hoạch 75-80 NSKT (30-35 ngày sau khi trổ hoa) và thu hoạch kéo dài 30-35 ngày, từ 4-7 lứa. Thời điểm thu hái cà tùy mục đích sử dụng, cung cấp cho thị trường gần nên thu khi trái chín đỏ. Nếu phải chuyên chở đi xa nên thu hoạch cà vào giai đoạn trái chín xanh.   Công ty cổ phần Bảo Vệ thực vật Delta
Thiết kế mương líp cho vườn cây ăn trái
CÂY ĂN TRÁI Thiết kế mương líp cho vườn cây ăn trái
THIẾT KẾ MƯƠNG LÍP CHO VƯỜN CÂY ĂN TRÁI 1. Kích thước mương - Kích thước mương thường được quyết định tùy theo các yêu tố  như địa hình cao hay thấp, độ sâu của tầng sinh phèn, giống cây trồng và chế độ nuôi trồng xen trong vườn. - Bề mặt và chiều sâu của mương thường phụ thuộc chặt vào chiều cao của líp. Tỉ lệ mương/líp thường là ½. Chiều sâu mương từ 1-1,5 m tùy địa hình, tầng sinh phèn,… - Vách bên của mương (cũng như mặt bên của líp) luôn luôn phải có độ nghiên (tà ly) khoảng 30-45 độ để tránh sụp lở. Tỷ lệ mương chiếm khoảng 30-35 %. Trồng cỏ dọc theo bờ mương giữa đất hạn chế sụp lở là việc cần phải làm trong thiết kế xây dựng vườn. 2. Kích thước líp - Líp đơn: Ở những vùng đất có độ dày tầng canh tác mỏng, mùa mưa bị ngập sâu hay đất có phèn thì có thể thiết kế líp đơn để có đủ đất làm líp, giúp rửa phèn nhanh. Líp đơn thường rộng 4-5 m, trồng cây 1 hàng. - Líp đôi: Ở những vùng đất có tầng canh tác dày, ngập khộng sâu vào mùa mưa, đất tốt thì líp đôi thường được thiết kế. Líp đôi được dùng trồng 2 hàng, có khi 3 hàng (dạng tam giác, chữ ngũ). Chiều rộng líp thay đổi tùy loại cây, từ 6-12 m. Trong trường hợp muốn thoát nước nhanh trong mùa mưa có thể xen kẻ các rãnh nước nhỏ trên líp. Khi sử dụng líp đôi cần phải làm cho phần giữa líp cao hơn để tránh cho các hàng trồng giữa líp bị úng nước trong mùa mưa. - Chiều cao líp tùy thuộc vào độ sâu ngập sâu nhất trong năm, thường thì chiều cao líp thích hợp cho hầu hết các loại cây ăn trái ở ĐBSCL là cách mực nước cao nhất trong năm khoảng 30 cm. - Hướng líp + Cần xây hướng líp song song hay thẳng góc với bờ bao, để dễ dàng điều tiết nước trong vườn. Đối với các loại cây ưa trảng, nên bố trí líp theo hướng Bắc – Nam để nhận được nhiều ánh sáng, ngược lại bố trí theo hướng Đông – Tây cho những loại cây thích bóng râm. Cũng cần lưu ý là bố trí hướng líp song song với hướng gió để vườn thông thoáng, khô ráo, ít sâu bệnh. 3. Kỹ thuật lên líp - Lên líp theo lối cuốn chiếu (Hình 1) + Ở những vùng có lớp đất mặt tốt và lớp đất dưới không phèn thì kỹ thuật lên líp theo lối “cuốn chiếu” được áp dụng. + Đào lớp đất mặt mương để làm chân líp, sau đó trải lớp đất sâu làm mặt líp. Cách làm này đỡ tốn chí phí, tuy nhiên sau đó cần lên mô bằng đất tốt (dùng đất mặt ruộng, bãi sông, bùn mương phơi khô hay đất vườn cũ) để trồng, tránh gây ngộ độc cho cây con. Có thể trồng một vài bụi chuối, cây phân xanh trước khi trồng cây trồng chính. Hình 1: Lên líp kiểu cuốn chiếu - Lên líp theo lối kê đất (Hình 2) + Ở những vườn có lớp đất mặt mỏng, lớp đất dưới không tốt có phèn,.. thì có thể lên líp theo lối kê đất. + Đào lớp đất mặt ở mương thứ nhất đưa qua líp thứ nhất bên trái, sau đó đưa lớp sâu của mương thứ nhất trải lên làm chân líp thứ hai bên phải, tiếp đến lấy lớp đất mặt ở mương thứ hai trải lên làm mặt líp thứ hai. Lấy lớp đất sâu của mương thứ hai trải làm chân líp thứ ba và đào lớp đất mặt mương thứ ba trải làm mặt líp thứ ba. Tiếp tục như vậy cho đến líp cuối cùng. Hình 2: Lên líp theo lối kê đất - Lên líp theo băng (Hình 3) + Đào lớp đất mặt ở mương trải dài thành một băng ở giữa chạy dọc theo líp, sau đó đào lớp đất sâu của mương ốp vào hai bên băng. Cây được trồng ngay trên băng giữa líp. + Cần lưu ý đắp lớp đất ở hai bên băng luôn luôn thấp hơn mặt băng, để có thể rửa được các độc chất khi mưa, không thấm vào băng. Hình 3: Lên líp theo băng - Đắp mô: Trong trường hợp đắp thành mô thì lớp đất mặt được tập trung đắp thành các mô để trồng cây ngay sau khi thiết kế (kích thước, khoảng cách tùy theo loại cây trồng., phần đất xấu của mương được đắp vào phần còn lại của líp và thấp hơn mặt mô. (Hình 4) Hình 4: Đắp mô - Điểm quan trọng cần lưu ý khi đào mương lên líp là không nên đào mương sâu quá tầng sinh phèn (lớp đất sét màu xám xanh) vì sẽ đưa phèn lên líp gây độc cho cây. Công ty cổ phần BVTV Delta  
Phương pháp nhân giống vô tính trên cây ăn trái
CÂY ĂN TRÁI Phương pháp nhân giống vô tính trên cây ăn trái
PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH TRÊN CÂY ĂN TRÁI 1. Nhân giống bằng phương pháp chiết cành Là phương pháp làm cho một bộ phận của cây (thân, cành, rễ) ra rễ và hình thành một cá thể sống độc lập với cây mẹ. a/ Ưu điểm - Dễ làm, cây trồng giữ được đặc tính của cây mẹ - Thời gian nhân giống tương đối nhanh (1-6 tháng), mau cho trái. - Thích hợp cho những vùng đất thấp, mực nước ngầm cao vì hệ thống rễ mọc cạn. - Nhân được những giống không hột. b/ Khuyết điểm - Cây mau cỗi, dễ đỗ ngã hơn. - Số lượng giống nhân ra thường thấp. - Có thể mang theo mầm bệnh (nhất là bệnh do virus và vi khuẩn) từ cây mẹ. c/ Phương pháp chiết - Chọn cành chiết + Chọn cành từ những cây mẹ có năng suất cao, phẩm chất tốt, ổn định tính trạng. Cần chọn cành có tuổi sinh trưởng trung bình, không non, không già. Tuy nhiên, ở một số loại cây như sầu riêng, cần chọn cành con hơi non mới có khả năng ra rễ. Cành có từ 3 đến 4 nhánh phân bố đồng đều, đường kính khoảng 1-1,5 cm. - Chất độn bầu + Chất độn bầu phải đủ dinh dưỡng và giữ ẩm tốt. Thường dùng rễ lục bình, rơm rạ, bèo dâu, mạt cưa trộn đất, tro trấu, xơ dừa,… - Cách thực hiện + Dùng dao bén khoanh một đoạn vỏ trên cành dài khoảng 3-5 cm cách ngọn cành 0,5 - 1m. Lột hết phần vỏ được khoanh, cạo sạch lõi gỗ để tránh liền vỏ trở lại. + Dùng chất độn bầu bó chặt lại nơi khoanh, tạo thành một bầu hình thoi dài khoảng 8-10 cm, đường kính dài khoảng 5 cm om đều chung quanh cành. Dùng nylon trong để bao bên ngoài bầu chiết lại, mục đích là giữ nhiệt độ và ẩm độ tốt, giảm công tưới và dễ quan sát khi rễ mọc ra. Lưu ý giữ không để mối, kiến làm tổ ảnh hưởng đến rễ (Hình 1). - Cắt cành + Thời gian ra rễ nhanh, chậm tùy theo loại cây, tốt nhất là quan sát thấy trong bầu chiết có rễ cấp 2 mọc ra dài khoảng 2-3 cm thì cắt cành. Dùng cưa hoặc kéo bén cắt phía dưới bầu chiết cách khoảng 1-2 cm để hạ bầu xuống. Có thể đem trồng ngay, nhưng tốt hơn là giâm vào đất một thời gian để cho nhiều rễ giúp tăng tỉ lệ sống sau khi trồng. Hình 1: Chiết cành Chiết cành ổi 2. Nhân giống bằng phương pháp ghép - Chọn giống để nhân Chon cây mẹ là cây đầu dòng, chất lượng tốt. - Chon gốc ghép Chọn gốc ghép phải đồng đều, chọn hạt chắc mẩy ươm làm gốc ghép từ cây sạch bệnh, sung sức. Khi gốc ghép được 6-10 tháng tuổi có thể đem ghép lúc đó đường kính gốc ghép khoảng 1 cm, cây đã ra được 2 đợt lá là đem đi ghép được. - Điều kiện để tăng tỷ lệ ghép thành công + Cành ghép và gốc ghép đang ở tình trạng sung sức, đang lên nhựa, nẩy chồi, bắt đầu một đợt sinh trưởng mới. Nếu ghép mắt, cành ghép không lên nhựa thì khó và có thể không bóc được mảnh vỏ có mắt ghép. + Cành ghép và gốc ghép phải non hay tương đối non cây ghép mới dễ sống. Cần chuẩn bị gốc ghép có từ 6-24 tháng tuổi. Cành ghép cũng phải là cành non, 6-12 tháng tuổi, lấu ở cây còn trẻ. + Tầng sinh gỗ (mô phân sinh) của cành ghép phải tiếp xúc đều và chặt với tầng sinh gỗ của gốc ghép, đây là điều kiện cơ bản nhất để ghép thành công. Do đó, khi ghép không được để dính bụi bẩn, phải buộc chặt, che chắn tốt, không cho không khí và nước mưa ngấm vào làm chết mắt ghép.Các phương pháp ghép a/ Ghép áp - Thường được áp dụng ở Ấn Độ - Ở phương pháp này, gốc ghép áp được trồng bằng cách gieo hạt, ương trong bầu hoặc ương trên luống. Nếu ương trên luống thì khi đem đến cây mẹ để ghép phải ra bầu. Có người cẩn thận đánh cây giống lên, trồng đi trồng ại vài lần, cắt bớt rễ cọc cho rễ cám ra nhiều, làm như vậy khi trồng cây sẽ dễ sống. - Có thể ghép gốc ghép với cành ghép hoặc ghép 2 hoặc 3 cây lại với nhau. - Cách thực hiện: + Trên cả cành ghép và gốc ghép cắt lẹm vào vỏ lấy đi một ít gỗ dài 6-7,5 cm. Ở gốc ghép vết cắt cách mặt đất khoảng 20-22 cm. Sau đó buộc áp vào nhau.(Hình 2) + Có thế cắt cành (hoặc gốc ghép) và gốc ghép thành “lưỡi” có chiều ngược nhau, lồng chúng khít nhau và buộc lại. (Hình 3) + Sau khi vết ghép đã liền nhau, cành ghép phát triển tươi tốt, tiến hành cắt gốc của cành ghép và cắt cành của gốc ghép để tạo 1 cây hoành chỉnh. (Hình 4) Hình 2: Ghép áp Hình 3: Ghép áp "lưỡi" Hình 4: Cắt gốc của cành ghép và cắt cành của gốc ghép để tạo 1 cây hoành chỉnh Ghép áp cành trên cây ổi Ghép áp nhiều gốc lại với nhau trên cây sầu riêng Ghép áp cành trên cây sầu riêng b/ Ghép nêm - Cành ghép được vạt nhọn 2 bên giống cái nêm, gốc ghép được chẻ nhẹ xuống sao cho vừa với phần vạt của cành nêm. Sau đó, nhét cành nên vào giữa đường chẻ của gốc ghép, buộc dây nilon lại cố định vị trí ghép. (Hình 5) Hình 5: Ghép nêm - Có thể ghép bằng cách khác, đó là ghép chẻ trên cành lớn. Cách này thường được áp dụng trên cây táo rừng. - Cưa ngang gốc ghép, chẻ đôi gốc ghép, sau đó nhét nêm cành ghép vào, buộc chặt. Đường kính của gốc ghép có thể lớn hơn cành ghép. Vị trí cành nêm nhét vào 2 bên đường chẻ. (Hình 6) Hình 6: Ghép nêm trên cành lớn - Cách khác của ghép nêm là ghép nêm vỏ, dùng dao rạch một đường ở vỏ cây, tách nhẹ phần vỏ tạo một khoảng trống, cành ghép được vát xéo một bên, sau đó nhét cành ghép vào gốc ghép sao cho vị trí vát áp sát vào phần gỗ của gốc ghép, cuối cùng dùng dây buộc chặt. Ghép nêm vỏ trên cây táo   c/ Ghép mắt - Là phương pháp được áp dụng phổ biến, sử dụng trong nhân giống nhiều loại cây ăn trái. - Cách thực hiện (Hình 7) + Trên gốc ghép khoảng 18-20 tháng tuổi, cách mặt đất khoảng 22-23 cm, dùng dao ghép cắt ngang gốc đến thân gỗ, vết cắt rộng 2cm, cắt xẻ dọc 2 bên dài 3-4 cm, bóc vỏ cẩn thận không để bị bẩn. Chiều rộng chỉ cắt 1 bên, còn để 1 bên dính vỏ vào gốc ghép. + Liền sau đó, cắt một mảnh vỏ có mắt ở cành ghép có chiều rộng x dài tương ứng 2 x 3-4 cm. + Sau đó áp mắt ghép vào vị trí đã cắt ở gốc ghép, sao cho mắt ghép hướng lên để khi nhú mầm ra cành hướng lên trên. Tránh làm bẩn mắt ghép. Lưu ý, mắt ghép phải áp sát vào phần thân của gốc ghép. + Dùng dây mềm hoặc nylon, quấn chặt từ chỗ vỏ cây dính gốc ghép xuống dần qua chỗ ghép một chút, quấn liền nhau, buộc chặt. + Sau 10 ngày, mở dây buộc, thấy mắt ghép vẫn còn tươi là có nhiều khả năng thành công. + Khi thấy mắt ghép hơi nhú mầm thì cắt ngọn, thấy nhú mầm dài, đâm cành thì bấm ngọn gốc ghép sát chỗ ghép cho cành ghép phát triển mạnh. Nếu thấy mắt ghép khô teo đi thì tiến hành ghép lại, không bấm ngọn gốc ghép. Hình 7: Ghép mắt   Công ty cổ phần BVTV Delta
Sự ra hoa - Đậu trái - Rụng trái trên cây nhãn
CÂY ĂN TRÁI Sự ra hoa - Đậu trái - Rụng trái trên cây nhãn
SỰ RA HOA - ĐẬU TRÁI - RỤNG TRÁI TRÊN CÂY NHÃN 1. Sự ra hoa trên cây nhãn    Nhãn ra hoa trên chồi tận cùng, trong một phát hoa nhãn có mang hoa lưỡng tính có chức năng đực, hoa lưỡng tính có chức năng cái hoặc hoa lưỡng tính (với 2 bộ phận đực và cái). Hoa nhãn thụ phấn chéo nhờ côn trùng, sự thụ phấn hiệu quả chủ yếu từ 8 giờ đến 14 giờ. Sự nở của một phát hoa nhãn kéo dài từ 1-2 tuần tùy giống. 2. Sự đậu trái và phát triển trái - Thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch trái từ 4-5 tháng, thời gian này có thể thay đổi tùy theo giống. - Sự phát triển của trái nhãn có 2 giai đoạn chính + Giai đoạn đầu tiên: phát triển vỏ (65%) và hạt (35%), giai đoạn này kéo dài 50 ngày, khối lượng trái đạt 1 g. Trong giai đoạn này, thịt trái phát triển tại đỉnh hạt nhưng rất khó nhận biết và bắt đầu phát triển một tuần sau đó. + Giai đoạn thứ hai: kéo dài khoảng 60 ngày hoặc hơn tùy theo giống. Trong suốt thời gian này phôi phát triển nhanh chóng trong khi phôi nhũ không phát triển. Khoảng 80 ngày sau khi hoa nở, phôi nhũ phát triển lấp đầy khoảng trống với hai lá mầm đầy đủ, trong khi đó vỏ hạt trở trên cứng và ngừng tăng trưởng cùng với vỏ trái. Thịt quả tiếp tục tăng thêm 30-60 ngày tiếp theo, vỏ trái thẳng ra và mỏng hơn từ 300 µm (ngày thứ 50) đến 100 µm khi thu hoạch. Vỏ trái và hạt đạt khối lượng tươi tối đa tại thời điểm khoảng 80 ngày, trong khi thịt quả tiếp tục gia tăng đến khi thu hoạch. Sự tích lũy đường của quả diễn ra sau giai đoạn phát triển của hạt, 70-100 ngày sau khi hoa nở. Giai đoạn phát triển của trái nhãn xuồng cơm vàng (12 tuần sau khi đậu trái) 3. Sự rụng trái - Hoa nhãn được sản xuất rất nhiều nhưng tỷ lệ đậu trái thấp và thường rụng ở giai đoạn 2 tuần sau khi đậu trái (trái non có kích thước 1cm) và khi trái bắt đầu phát triển thịt trái – “vô cơm” (2 tháng sau khi đậu trái). - Nguyên nhân gây hiện tượng rụng trái trên nhãn + Rụng trái sinh lý: Sự rụng trái là một quá trình thích ứng của cây khi thiếu chất dinh dưỡng, nước và hormone cho sự sinh trưởng của chúng. Buộc chúng phải rụng đi một số lượng nhất nhất định các trái non, để tập trung dinh dưỡng và hormone cho những trái khác. + Do sâu bệnh hại: Thời kỳ ra hoa, đậu trái cây rất mẫn cảm với sâu bệnh hại hoa, trái non (nấm – vi khuẩn gây hại hoa làm thối hoa, suy giảm sức sống của hạt phấn, sâu ăn bông, bọ trĩ, rầy rệp, nhện, sâu đục cuốn trái,… làm rụng trái non). Sâu đục trái nhãn Thối trái nhãn + Yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự ra hoa và đậu trái. Mưa nhiều trong thời kỳ ra hoa làm cho hoa bị rụng. Điều kiện khí hậu nóng và khô làm cho tỷ lệ đậu trái thấp và làm rụng trái non (thiếu ẩm cây sẽ hình thành tầng rời gây rụng quả hàng loạt).     Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan XỬ LÝ RA HOA NGHỊCH VỤ CHO SẦU RIÊNG CÁCH XỬ LÝ CÂY NA RA QUẢ TRONG THÂN XỬ LÝ RA HOA XOÀI TRÁI VỤ VAI TRÒ CỦA CALCIUM (CA) ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG VAI TRÒ CỦA NAPHTHALENE ACETIC ACID (NAA) TRÊN CÂY TRỒNG      
Kỹ thuật trồng hành lá
CÂY RAU MÀU Kỹ thuật trồng hành lá
KỸ THUẬT TRỒNG HÀNH LÁ 1. Thời vụ    Hành lá có thể được trồng quanh năm, tuy nhiên năng suất mùa nắng cao hơn mùa mưa. 2. Chuẩn bị đất - Yêu cầu: đất nhiều mùn, thoát nước tốt, ít chua, pH thích hợp từ 6-6,5, nếu pH thấp hơn 5 cần bón thêm vôi và tro bếp. - Đất trồng hành cần được phơi ải, kỹ thuật lên liếp hành thay đổi tùy vào chân đất và tập quán canh tác. Lên liếp vồng cao 35-45 cm, chân liếp rộng 1m. Khoảng cách giữ 2 liếp là 30cm để thoát nước và đi lại chăm sóc. - Khoảng cách trồng: Hàng cách hàng x cây cách cây: 20 cm x 10 cm 3. Giống hành - Sử dụng giống địa phương, có hai loại gốc thân trắng và gốc thân đỏ có đặc điểm sinh trưởng tương đương nhau, thời gian sinh trưởng 42-50 ngày. + Hành Hương: lá nhỏ, bụi nhỏ, có mùi thơm, năng suất 1 tấn/1000 m2, dễ nhiễm bệnh vàng lá. + Hành Trâu: lá to, bụi lớn, năng suất 1-1,5 tấn/1000 m2, thị trường rất ưa chuộng. + Hành Đá: lá, bụi thuộc dạng trung gian, năng suất 1-1,5 tấn/1000 m2, trồng phổ biến, thị trường rất ưa chuộng, thích hợp trồng dày. - Chọn những bụi hành đồng đều, đúng tuổi, sinh trưởng tốt, không nhiễm sâu bệnh. - Lượng giống: tùy chất lượng cây giống, thường cần khoảng 180-240 kg hành giống/1000 m2. 4. Phân bón - Tổng lượng phân dùng cho 1000 m2: phân chuồng 1-2 tấn + 30 kg tro + 12,5 kg urea + 17,3 kg lân + 8 kg kali. + Bón lót: 1-2 tấn phân chuồng hoai + 30 kg tro + 5 kg kali + Bón thúc * Nguyên tác bón phân thúc: hòa nước, tưới bằng thùng vòi sen. Tưới phân lần đầu tiên khi hành hồi xanh (khoảng 7 ngày sau trồng), 7 ngày tưới phân 1 lần (khoảng 4-5 lần/vụ) tùy theo sinh trưởng của củ hành và tùy theo vụ. Thời gian cách ly  là 10 ngày trước khih thu hoạch. * Có thể sử dụng phân bón theo khuyến cáo  theo bảng 1. Bảng 1: Lượng phân bón cho hành lá theo ngày sinh trưởng Lần bón Ngày sinh trưởng Lượng phân bón (kg/1000m2) 1 7 2,07 kg N 2 14 2,52 kg N + 6,44 kg P2O5 + 0,9 K2O 3 21 3,04 kg N + 3,04 kg P2O5 + 0,9 K2O 4 28 3,06 kg N + 7,82 kg P2O5 + 1,5 kg K2O 5 35 2,07 kg N - Chăm sóc: + Chú ý làm cỏ kịp thời, không để cỏ che phủ hành. + Tưới đủ ẩm để cây sinh trưởng tốt + Có thể sử dụng thêm một số loại phân bón lá để bổ sung vi lượng và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh cho cây hành lá như: Canxi-Bo giúp tăng độ cứng cho lá giảm sâu hại tấn công, trường hợp hành sinh trưởng kém có thể bổ sung Bio Delta chuyên dùng cho rau màu để kích thích sinh trưởng rễ, Tonic-Gold giúp tăng trưởng thân lá cây phát triển mạnh hơn. 5. Phòng trừ sâu bệnh - Các đối tượng sâu hại chính: sâu xanh da láng (xuất hiện sớm và gậy hại đến cuối vụ), dòi đục lá (xuất hiện muộn), sâu ăn tạp, bù lạch,… sử dụng các loại thuốc như  VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, B52 DUC 40EC, VDC PENALDUC 145EC,…cần sử dụng thay đổi nhiều loại thuốc để tránh tình trạng kháng thuốc đặc biệt là sâu xanh da láng và sâu ăn tạp. - Bệnh cháy đầu lá, bệnh đốm tím Alternaria pori,…Sử dụng các loại thuốc như BioRosamil, AMITY TOP 500SC, AVIANDO 50SC,… Bệnh thối nhũn do vi khuẩn sử dụng PYRAMOS 40SL, KASUDUC 3SL 6. Thu hoạch - Tiến hành thu hoạch khi hành lá đủ tuổi (42-45 ngày sau trồng) tùy tình hình sinh trưởng và sâu bệnh.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan SÂU XANH DA LÁNG RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU) SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DƯA LEO KỸ THUẬT TRỒNG ỚT    
Kỹ thuật trồng rau muống
CÂY RAU MÀU Kỹ thuật trồng rau muống
KỸ THUẬT TRỒNG RAU MUỐNG - Tên khoa học: Ipomoea aquatica thuộc họ bìm bìm (Convolvulaceae). - Giá trị dinh dưỡng: rau muống được biết đến như là rau của chất sắt. Trong 100g phần ăn được của rau muống có đến: 23 Kcal, 3,2 g Protein, 5,6 g Cacbonhydrat tổng kể cả cellulose, 23 mg vitamin C, 380 µg vitamin A. - Sinh thái: Rau muống thích hợp với đất có ẩm độ cao và phát triển tốt nhất ở đất có hàm lượng chất hữu cơ cao. Nhiệt độ thích hợp từ 25-30 0C, ở nhiệt độ dưới 23 0C rau muống phát triển kém và cho năng suất thấp. pH thích hợp cho sự phát triển của rau muống là 5,3-6. 1. Kỹ thuật trồng - Làm đất: cuốc đất chia thành luống rộng 1-1,2 m, đập đất nhỏ, san phẳng. - Mật độ: lượng hạt gieo cho 1000 m2 là 4,5-5 kg. Nếu gieo hàng thì hàng cách hàng 15 cm, nếu vãi  thì sau khi rắc hạt xong, dùng cào trang hạt cào nhẹ để hạt rau lẫn vào đất, sau đó phủ rơm lên rồi tưới ẩm. - Bón phân: + Khối lượng phân các loại bón cho 1000 m2 đất trồng rau muống như sau: 1 tấn phân chuồng + 28,5 kg phân đạm + 30 kg phân lân + 11 kg phân kali. Thời điểm bón (NSKG) Cách bón Liều lượng (%) Đạm Lân Kali Phân hữu cơ 0 Rãi 0 100 100 100 10 Tưới 30 0 0 0 15 Tưới 40 0 0 0 20 Tưới 30 0 0 0 * Chú thích: NSKG: ngày sau khi gieo - Cách bón: Bón lót toàn bộ phân chuồng + phân lân + phân kali bằng cách rãi đều trên mặt luống, lắp đất trước khi gieo hoặc rắc phân theo hàng trước khi gieo trồng. - Chăm sóc: Khi gieo hạt mọc lên cao 2-3 cm và dùng đất nhỏ vào vun phủ gốc để cho cây con khỏi bị đỗ và ra rễ ở đốt trên cho cây bám chặt vào đất và hút được nhiều chất dinh dưỡng. Cây được 10 ngày thì bón thúc phân bón, sau đó mỗi 4-5 ngày thì bón thúc một lần. 2. Thu hoạch - Sau khi trồng được 20-25 ngày có thể thu hoạch lần đầu. Tùy kiểu thu hoạch, có thể nhổ cả rễ hoặc thu hoạch cắt ngang thân gần gốc cách mặt đất khoảng 2-3 cm để tiếp tục chăm sóc cho thu hoạch vụ sau. Thu hoạch cả rễ 3. Sâu và bệnh hại chính trên rau muống - Sâu hại: Các loại sâu hại chủ yếu là SÂU KHOANG (Spodoptera litura) và sâu baba (miễng kiến) (Taiwannia circumdata). Phòng trừ bằng các loại thuốc như VOIDUC 42EC, VDC PENALDUC 145EC, SUPER KING 500SL, Rồng Việt 100WG,… Sâu baba (miễng kiến) - Bệnh hại: Chủ yếu là bệnh gỉ trắng do nấm Albugo impomoea gây ra và bệnh thối gốc do nấm Rhizoctonia solani. Phòng trừ bằng các loại thuốc như AVIANDO 50SC, BioRosamil, Mancozeb,… Bệnh gỉ trắng   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan SÂU XANH DA LÁNG RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU) SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DƯA LEO KỸ THUẬT TRỒNG ỚT  
Kỹ thuật trồng cây khoai lang
CÂY LƯƠNG THỰC Kỹ thuật trồng cây khoai lang
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KHOAI LANG 1. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển - Khoai lang được nhân giống bằng thân (dây) hay từ mầm củ, rất ít khi nhân giống bằng hạt. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của cây khoai lang khoảng 20-30oC. Thời gian từ khi trồng cho đến khi thu hoạch kéo dài từ 3-10 tháng, tùy theo giống và điều kiện nhiệt độ. - Mỗi năm có thể trồng 2 vụ khoai lang, thời gian xuống giống tùy theo tập quán canh tác của từng vùng. Vụ sớm: khoảng tháng 11-12 dương lịch, thu hoạch vào tháng 2-3. Vụ muộn: vào tháng 4-5  dương lịch, thu hoạch vào tháng 7-8. - Đời sống cây khoai lang có 2 giai đoạn: (1) giai đoạn phát triển rễ sợi, thân, lá và (2) giai đoạn hình thành và phát triển củ. 2. Kỹ thuật canh tác a/ Chọn giống - Khoai lang hiện nay có một số giống được trồng phổ biến như: khoai lang tím Nhật, trắng sữa, trắng giấy, bí đường, dương ngọc, có phẩm chất ngon, năng suất cao. - Hiện nay, ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đa số hộ nông dân trồng khoai lang tím Nhật. Vì loại này phù hợp với thổ nhưỡng, năng suất cao và có thị trường tiêu thụ. b/ Kỹ thuật làm đất - Khoai lang có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất nhẹ hoặc đất thịt pha cát, tơi xốp, thấm và thoát nước tốt, thích hợp trồng luân canh với cây lúa cung cấp nhiều chất hữu cơ cho đất. - Đất được cày bừa kỹ để nhặt hết cỏ và đảm bảo đất tơi xốp. Trước khi gieo trồng đất phải được lên thành nhiều luống, mỗi luống rộng 80-90 cm, cao 40-50 cm và mương nước rộng 50-60 cm để dễ thoát nước. - Lên luống và bón phân lót: Lên luống kết hợp với bón phân lót ở giữa luống với độ cao cách đáy luống bằng khoảng 2/3 độ cao luống. c/ Gieo trồng - Trồng lúc trời mát, đất ẩm, hom sẽ mau hồi phục, hướng trồng từ Đông sang Tây. Trồng hàng đơn hoặc hàng đôi, mật độ trồng 1400-2000 hom/công. Khi trồng vùi 2/3 đoạn dây giống ở giữa dọc theo luống và nối đuôi nhau (hàng đơn), nếu hàng đôi đặt dây giống thành 2 hàng song song cách nhau 30cm, khoảng cách nối giữa các hom trên 2 hàng phải xen kẻ nhau. d/ Bón phân - Phân bón tính cho 1 ha: 10 tấn phân chuồng + 90kg N + 60kg P2O5 + 90kg K2O. - Bón phân nên bón nhiều lần để tránh thất thoát, ít nhất là 3 lần bón như sau: + Bón lót: 100% phân chuồng + 100% phân lân + 30% phân đạm + 20% phân kali. Bón lót trước khi lên luống. + Bón thúc lần 1 (sau trồng 20-25 ngày): 50% phân Đạm + 30% phân Kali kết hợp với xới đất, làm sạch cỏ. + Bón thúc lần 2 (sau trồng 40-45 ngày): 25% phân Đạm + 30% phân Kali tiếp tục làm cỏ, xới đất để dây khoai có thể hấp thu chất dinh dưỡng tạo củ. e/ Chăm sóc - Trồng dặm: Sau trồng 5-10 ngày, nhằm đảm bảo mật độ cây, kết hợp làm cỏ kết hợp bón thúc, xới đất vun nhẹ, nhổ những cây bị bệnh để tránh lây lan. Thường xuyên giữ ẩm. - Bấm ngọn: Tiến hành chỉ 1 lần sau trồng khoảng 25-30 ngày để tăng cường sinh trưởng, phát triển thân lá giai đoạn đầu, tăng cường tích lũy phân hữu cơ, làm cho năng suất tăng từ 6-15%. - Nhấc dây: việc làm này thường được tiến hành song song với làm cỏ, thực hiện hai lần vào lúc 30-45 ngày và 60-75 ngày. Nhấc dây nhằm hạn chế không cho rễ phụ của các mắc trên thân phát triển, giúp dinh dưỡng tập trung ở củ và còn làm luống khoai thông thoáng. 3. Phòng trừ sâu bệnh - Thường xuyên thăm đồng phát hiện kịp thời sâu bệnh hại để có biện pháp phòng ngừa kịp thời. - Phòng trừ bọ hà và sâu đục củ vào các giai đoạn + Lần 1: Khi khoai được 45-50 ngày. + Lần 2: Khi khoai được 75-80 ngày. + Lần 3: Khi khoai được 105-110 ngày. 4. Thu hoạch    Khi dây khoai lang có biểu hiện ngừng sinh trưởng, nhiều lá chuyển sang màu vàng sáng, dấu hiệu cho việc tăng trưởng chậm lại, lá bắt đầu chậm phát triển và rụng nhiều, lúc này củ đã đạt kích thước mong muốn. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan SÙNG ĐỤC CỦ KHOAI LANG BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY KHOAI LANG KỸ THUẬT TRỒNG RAU XÀ LÁCH XOONG KỸ THUẬT TRỒNG DƯA HẤU  
Kỹ thuật trồng rau xà lách xoong
CÂY RAU MÀU Kỹ thuật trồng rau xà lách xoong
KỸ THUẬT TRỒNG RAU XÀ LÁCH XOONG 1. Thời vụ    Xà lách xoong trồng được quanh năm, mùa thuận là trồng vào các tháng giáp tết 11-12 dương lịch, thời tiết mát mẻ, thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng và cho năng suất cao. 2. Chuẩn bị đất - Đất trồng rau cần được cày ải cho đất được tơi xốp và phơi đất 1-2 tuần để diệt mầm bệnh. - Làm luống chìm, rộng 1,2-1,5 m, lối đi giữa luống rộng 20-30 cm, cao hơn mặt luống 10-20 cm xung quanh luống có rãnh thoát nước rộng 10 cm, sâu 15 cm, giúp thoát nước tốt trong mùa mưa. - Trước khi trồng cho nước vào ngập ruộng, làm cho đất tơi lên bùn, sau đó cấy cải hoặc rãi đều lên liếp, đè nhẹ cho ngập nước, ngày hôm sau rút cạn nước cho rau phát triển. 3. Cách trồng - Trồng bằng cây con    Chuẩn bị cây con: hạt sau khi được thu hái xử lý qua nước ấm hoặc ngâm trong nước lã 6-8 giờ rồi tiến hành gieo vào các luống gieo, khi cây con phát triển có chiều cao 5-6 cm thì nhổ cấy vào ruộng trồng. - Trồng từ các đoạn thân    Cắt các đoạn thân trên cây có mang các nốt rễ, thân ở giai đoạn già, dài 8-5 cm sau đó trực tiếp cấy vào các luống trồng. Cần lưu ý các luống này luôn có nước lấp xấp khoảng 1-2 cm. - Mật độ và khoảng cách trồng    Lượng giống cần khoảng 3,5-4 tấn/ha. Khoảng cách giữa hàng cách hàng 5 cm và cây cách cây 5 cm. 4. Bón phân   Lượng phân cần thiết sử dụng cho 1 ha xà lách xoong như sau: - Trồng mới: Super lân (lót): 500 kg, vôi bột: 500 kg, phân chuồng hoai: 5 tấn. - Cải tạo sau thu hoạch: lân vi sinh 200 kg, phân chuồng hoai 2 tấn, NPK 16-16-8: 300-400 kg, phân urea: 40-50 kg. + Cách bón: bón phân lân vi sinh khi vừa thu hoạch xong lứa trước. + Lần 1 (10-15 ngày):  phân chuồng. + Lần 2 (17-20 ngày): phân NPK 16-16-8 bón 100 kg. + Lần 3 (24-28 ngày):  phân chuồng. + Lần 4 (30-35 ngày): phân NPK 16-16-8 bón từ 120-150 kg. + Lần 5 (37-40 ngày): phân chuồng. + Lần 6 (44-47 ngày): phân NPK 16-16-8 bón 150 kg. - Giữa 2 lần thúc phân có thể bổ sung phân bón lá Tonic-Gold, SUPER - RAU, MIX 4.0 và 10 kg Urea. - Tưới nước cho xà lách xoong: cần tưới đủ ẩm cho xà lách xoong, tưới sương trên lá nhiều lần trong ngày, tưới bình quân 30 phút/lần, tưới 10-12 lần/ngày. 5. Phòng trừ sâu bệnh - Sâu tơ (Plutella xylostella Linaeus), SÂU ĂN TẠP (Spodoptera litura Fab.), SÂU XANH DA LÁNG (Spodoptera exigua Hubn). Sử dụng các loại thuốc như: Rồng Việt 100WG, VDC PENALDUC 145EC, VOIDUC 42EC, B52 DUC 40EC. - Bệnh thối nhũn (do vi khuẩn Erwinia carotovora), bệnh thán thư, nổ lá gốc (nấm Colletotrichum sp), bệnh đốm vằn (nấm Rhizoctonia solani). Sử dụng các loại thuốc như: PYRAMOS 70SL, KASUDUC 3SL, AVIANDO 50SC, Amity top 500SC. - Cần sử dụng luân phiên các loại thuốc để tránh tình trạng kháng thuốc của sâu bệnh hại 6. Thu hoạch - Rau cải xà lách xoong sau khi trồng khoảng 30 - 45 ngày sẽ cho thu hoạch lứa đầu. Sau đó cứ 25 ngày thu hoạch cải một lần. Sau khi thu hoạch được khoảng 3 - 4 lứa, nên dùng dao hay kéo cắt trụi gần sát gốc 1 lần và bón phân. Làm theo cách này cây sẽ lên ngọn mới và khỏe mạnh hơn. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CỦA RAU XÀ LÁCH XOONG KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DƯA LEO KỸ THUẬT TRỒNG ỚT        
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA