CÂY LƯƠNG THỰC

CÁCH SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRYCO DELTA TRÊN ĐẤT TRỒNG LÚA
CÂY LƯƠNG THỰC CÁCH SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRYCO DELTA TRÊN ĐẤT TRỒNG LÚA
CÁCH SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRYCO DELTA (TRICHODERMA)TRÊN ĐẤT TRỒNG LÚA   Giới thiệu: Hiệu quả của một chế phẩm vi sinh không chỉ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm mà còn phụ thuộc rất lớn vào phương pháp, thời điểm sử dụng và phải điều chỉnh cho phù hợp với từng môi trường đất đai và cây trồng cụ thể. Dựa trên các cơ chế hoạt động đã được khoa học chứng minh của nấm Trichoderma, vi khuẩn Bacillus và xạ khuẩn Streptomyces có trong TRYCO-DELTA, chúng tôi đề xuất các phương pháp ứng dụng tối ưu cho ba loại hình canh tác phổ biến tại Việt Nam: đất trồng lúa như sau: 1. Đặc điểm chính của môi trường đất: Đất lúa nước có môi trường rất đặc thù: thường xuyên ngập nước, yếm khí (thiếu oxy), và có lượng tàn dư hữu cơ (rơm rạ) rất lớn sau mỗi vụ thu hoạch. Việc rơm rạ phân hủy chậm trong điều kiện yếm khí thường sinh ra các axit hữu cơ (như axit acetic, butyric) gây ngộ độc cho rễ lúa non. Đây cũng là môi trường lý tưởng cho các mầm bệnh phổ biến như nấm Rhizoctonia solani (gây bệnh khô vằn) và Pyricularia oryzae (gây bệnh đạo ôn) tồn tại và phát triển. 2. Cơ chế tác động: - Phân hủy rơm rạ: Đây là ưu điểm vượt trội nhất. Khả năng tiết ra các enzyme mạnh như cellulase và ligninase của Trichoderma và Streptomyces đã được ghi nhận rộng rãi, giúp chúng phá vỡ các cấu trúc hữu cơ bền vững của rơm rạ. Quá trình này giúp chuyển hóa rơm rạ thành mùn, giải phóng dinh dưỡng và quan trọng nhất là ngăn chặn quá trình phân hủy yếm khí sinh độc chất, một vấn đề được IRRI (Viện nghiên cứu lúa quốc tế) nhấn mạnh trong các khuyến cáo quản lý rơm rạ. - Sức sống của vi sinh vật: Vi khuẩn Bacillus có khả năng hình thành nội bào tử, một trạng thái "ngủ" siêu bền. Khả năng này giúp chúng sống sót qua các điều kiện khắc nghiệt như ngập úng và sẽ hoạt động trở lại khi điều kiện thuận lợi. - Kiểm soát mầm bệnh: Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của vi khuẩn đối kháng trong việc kiểm soát bệnh trên cây lúa. Việc xử lý đất bằng tổ hợp vi sinh giúp tạo ra một quần thể vi sinh vật có lợi lấn át, chiếm lấy nguồn dinh dưỡng và không gian, khiến các mầm bệnh phổ biến như nấm gây bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani) và đạo ôn (Pyricularia oryzae) không thể phát triển mạnh khi bắt đầu vụ mới. 3. Phương pháp sử dụng: - Giai đoạn xử lý rơm rạ (quan trọng nhất): Ngay sau khi thu hoạch, rải đều 1-2 kg TRYCO-DELTA cho 1000 m² ruộng (có thể trộn với tro trấu hoặc phân hữu cơ để dễ rải). Sau đó đưa nước vào xâm xấp mặt ruộng và tiến hành cày vùi. Tập đoàn vi sinh vật sẽ nhanh chóng phân hủy gốc rạ trong vòng 10-15 ngày. Ở đây phương pháp “cày vùi” sẽ mang lại hiệu quả cao nhất khi sử dụng vì: + Tạo môi trường hiếu khí tạm thời: Bước "cày vùi" là chìa khóa. Thao tác này sẽ xới tung lớp đất mặt, trộn đều không khí, rơm rạ, và chế phẩm vi sinh lại với nhau. Nó chủ động đưa một lượng lớn oxy vào trong đất, tạo ra các túi khí nhỏ và một môi trường bán hiếu khí lý tưởng. + Kích hoạt vi sinh vật với độ ẩm tối ưu: Việc "đưa nước vào" ở đây không phải là ngập sâu mà chỉ cần xâm xấp mặt ruộng, đủ để làm ẩm toàn bộ rơm rạ và lớp đất mặt, tạo thành một môi trường sền sệt. Mức nước này là lý tưởng để "đánh thức" các vi sinh vật đang ở trạng thái tiềm sinh, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho máy cày trộn đều đất và rơm rạ ở bước tiếp theo. + "Thời điểm vàng" để hoạt động: Trong môi trường vừa đủ ẩm, vừa giàu oxy sau khi cày vùi, quần thể vi sinh vật sẽ bùng phát mạnh mẽ. Đây là "cú hích" ban đầu, cho phép chúng tấn công và phá vỡ cấu trúc rơm rạ một cách hiệu quả nhất. + Sự thích nghi sau đó: Theo thời gian, đất sẽ lắng xuống và môi trường dần trở nên yếm khí hơn. Lúc này, các vi sinh vật hiếu khí sẽ giảm hoạt động, nhưng phần lớn công việc khó khăn nhất đã được hoàn thành. Đặc biệt, vi khuẩn Bacillus với khả năng tạo bào tử sẽ "ngủ đông" để sống sót qua giai đoạn này và chờ đợi điều kiện thuận lợi tiếp theo. Như vậy, phương pháp này là một kỹ thuật canh tác thông minh, tạo ra một "cửa sổ thời gian" tối ưu để vi sinh vật hiếu khí phát huy hiệu quả tối đa. - Giai đoạn bón lót: Trộn 1 kg sản phẩm với phân hữu cơ hoặc phân NPK để bón lót trước khi sạ/cấy. Điều này giúp hệ vi sinh vật có lợi phát triển sớm quanh vùng rễ lúa non. Cần Thơ, 14/8/2025. PHÒNG KỸ THUẬT (3)  
LÚA ĐỔ NGÃ TRONG MÙA MƯA - NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ
CÂY LƯƠNG THỰC LÚA ĐỔ NGÃ TRONG MÙA MƯA - NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ
LÚA ĐỔ NGàTRONG MÙA MƯA NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ    -  Đổ ngã làm giảm năng suất lúa (trên 10%), ảnh hưởng đến chất lượng gạo và gây khó khăn trong thu hoạch nhất là thu hoạch bằng máy.    - Lúa ngã ảnh hưởng đến quang hợp, quá trình tạo hột bị đình trệ do sự vận chuyển chất khô bị trở ngại, tỷ lệ lép và lửng gia tăng. Ngoài ra lúa ngã làm bông lúa ngập trong nước thúc đẩy hạt nảy mầm, hoặc hư thối do nấm bệnh tấn công và giảm chất lượng gạo.    -  Nguyên nhân của sự đổ ngã, có thể là do: 1. Thân lúa vươn cao: Cây lúa càng cao, càng dễ đổ ngã. + Để hạn chế bằng cách giảm lượng đạm bón để lúa không ra nhiều chồi cạnh tranh nhau vươn cao (tổng lượng đạm bón cho cả vụ thường không được quá 90 kgN/ha). + Chọn giống lúa thân thấp để trồng trong mùa mưa. + Có thể phun canxi giúp thân cây lúa cứng cáp hoặc phun sản phẩm ức chế sinh trưởng và hạn chế chiều cao cho cây lúa. 2. Đất quá mềm nhão: Đất mềm nhão không giữ chặt được rễ làm cây tróc gốc. + Hạn chế bằng cách rút nước thường xuyên giữa vụ; khi rút nước nên để cho mặt đất khô ráo, răn nhẹ mới cho nước vào. Nếu ruộng quá trủng không thể nào rút nước ráo được trong mùa mưa thì nên áp dụng cấy, lúa cấy có bộ rễ được giữ chặt trong đất tốt hơn. 3. Đất có tầng canh tác mỏng: Làm đất bằng cách xới sau nhiều năm hình thành tầng đế cày gần mặt đất, làm cho tầng canh tác chỉ dày khoảng 7-8 cm. Tầng đế cày là tầng đất cứng, chặt ngăn cản rễ ăn sâu; Rễ chỉ ăn bàn trên mặt đất nên rất dễ bị tróc gốc gây đổ ngã. Nên phá vở tầng đế cày bằng cách cày sâu 15-20 cm, để ải mỗi năm một lần làm dày tầng canh tác. 4. Bẹ lá không ôm sát vào thân: Bẹ lá ôm sát vào thân sẽ gia tăng sự cứng cáp của cây lúa, giảm đổ ngã. Khi cây lúa bị bệnh hay thiếu nước bẹ lá có khuynh hướng tách khỏi thân. Bẹ lá không ôm sát thân còn có thể do giống. 5. Lóng thân yếu: Lóng có vách mỏng, yếu làm gảy thân lúa (yếu rạ). Để vách lóng dày hơn, không nên bón nhiều phân đạm mà tăng cường bón phân kali (bón trên 45 kg/ha) và silic. Tuy chất silic không phải là một “dưỡng chất chủ yếu” của cây lúa, thiếu silic lúa không chết, nhưng lúa hấp thụ rất nhiều silic, nhiều gấp 4 lần chất N. Để có một tấn lúa, cây lúa hấp thụ khoảng 20 kg N, nhưng cần hấp thụ đến hơn 80 kg silic. Như vậy, silic là “dưỡng chất có lợi” vì làm gia tăng sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa. Silic giúp lá, thân và rễ lúa cứng cáp. Khi cây lúa có đủ silic, lá đứng thẳng nên hấp thu được nhiều ánh sáng và làm gia tăng khả năng quang hợp của cây, thân cứng ít bị đổ ngã và vì vậy giảm được tỷ lệ hạt lép và lửng. 6. Thiếu nắng và mưa gió nhiều: Thiếu nắng làm cho lúa vươn cao; mưa gió nhiều lúa dễ đổ ngã. Trong canh tác lúa cần chọn thời vụ phù hợp. Kết quả nghiên cứu nhiều nơi cho thấy xuống giống lúa vào đầu tháng 5 cho năng suất cao nhất. Xuống giống vào giai đoạn này, lúa trổ thường rơi vào giai đoạn hạn Bà Chằn, lúa nhận được nhiều ánh sáng mặt trời và ít mưa gió.   Nguồn: GS TS Nguyễn Bảo Vệ  
Kỹ thuật trồng cây khoai lang
CÂY LƯƠNG THỰC Kỹ thuật trồng cây khoai lang
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KHOAI LANG 1. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển - Khoai lang được nhân giống bằng thân (dây) hay từ mầm củ, rất ít khi nhân giống bằng hạt. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của cây khoai lang khoảng 20-30oC. Thời gian từ khi trồng cho đến khi thu hoạch kéo dài từ 3-10 tháng, tùy theo giống và điều kiện nhiệt độ. - Mỗi năm có thể trồng 2 vụ khoai lang, thời gian xuống giống tùy theo tập quán canh tác của từng vùng. Vụ sớm: khoảng tháng 11-12 dương lịch, thu hoạch vào tháng 2-3. Vụ muộn: vào tháng 4-5  dương lịch, thu hoạch vào tháng 7-8. - Đời sống cây khoai lang có 2 giai đoạn: (1) giai đoạn phát triển rễ sợi, thân, lá và (2) giai đoạn hình thành và phát triển củ. 2. Kỹ thuật canh tác a/ Chọn giống - Khoai lang hiện nay có một số giống được trồng phổ biến như: khoai lang tím Nhật, trắng sữa, trắng giấy, bí đường, dương ngọc, có phẩm chất ngon, năng suất cao. - Hiện nay, ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đa số hộ nông dân trồng khoai lang tím Nhật. Vì loại này phù hợp với thổ nhưỡng, năng suất cao và có thị trường tiêu thụ. b/ Kỹ thuật làm đất - Khoai lang có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất nhẹ hoặc đất thịt pha cát, tơi xốp, thấm và thoát nước tốt, thích hợp trồng luân canh với cây lúa cung cấp nhiều chất hữu cơ cho đất. - Đất được cày bừa kỹ để nhặt hết cỏ và đảm bảo đất tơi xốp. Trước khi gieo trồng đất phải được lên thành nhiều luống, mỗi luống rộng 80-90 cm, cao 40-50 cm và mương nước rộng 50-60 cm để dễ thoát nước. - Lên luống và bón phân lót: Lên luống kết hợp với bón phân lót ở giữa luống với độ cao cách đáy luống bằng khoảng 2/3 độ cao luống. c/ Gieo trồng - Trồng lúc trời mát, đất ẩm, hom sẽ mau hồi phục, hướng trồng từ Đông sang Tây. Trồng hàng đơn hoặc hàng đôi, mật độ trồng 1400-2000 hom/công. Khi trồng vùi 2/3 đoạn dây giống ở giữa dọc theo luống và nối đuôi nhau (hàng đơn), nếu hàng đôi đặt dây giống thành 2 hàng song song cách nhau 30cm, khoảng cách nối giữa các hom trên 2 hàng phải xen kẻ nhau. d/ Bón phân - Phân bón tính cho 1 ha: 10 tấn phân chuồng + 90kg N + 60kg P2O5 + 90kg K2O. - Bón phân nên bón nhiều lần để tránh thất thoát, ít nhất là 3 lần bón như sau: + Bón lót: 100% phân chuồng + 100% phân lân + 30% phân đạm + 20% phân kali. Bón lót trước khi lên luống. + Bón thúc lần 1 (sau trồng 20-25 ngày): 50% phân Đạm + 30% phân Kali kết hợp với xới đất, làm sạch cỏ. + Bón thúc lần 2 (sau trồng 40-45 ngày): 25% phân Đạm + 30% phân Kali tiếp tục làm cỏ, xới đất để dây khoai có thể hấp thu chất dinh dưỡng tạo củ. e/ Chăm sóc - Trồng dặm: Sau trồng 5-10 ngày, nhằm đảm bảo mật độ cây, kết hợp làm cỏ kết hợp bón thúc, xới đất vun nhẹ, nhổ những cây bị bệnh để tránh lây lan. Thường xuyên giữ ẩm. - Bấm ngọn: Tiến hành chỉ 1 lần sau trồng khoảng 25-30 ngày để tăng cường sinh trưởng, phát triển thân lá giai đoạn đầu, tăng cường tích lũy phân hữu cơ, làm cho năng suất tăng từ 6-15%. - Nhấc dây: việc làm này thường được tiến hành song song với làm cỏ, thực hiện hai lần vào lúc 30-45 ngày và 60-75 ngày. Nhấc dây nhằm hạn chế không cho rễ phụ của các mắc trên thân phát triển, giúp dinh dưỡng tập trung ở củ và còn làm luống khoai thông thoáng. 3. Phòng trừ sâu bệnh - Thường xuyên thăm đồng phát hiện kịp thời sâu bệnh hại để có biện pháp phòng ngừa kịp thời. - Phòng trừ bọ hà và sâu đục củ vào các giai đoạn + Lần 1: Khi khoai được 45-50 ngày. + Lần 2: Khi khoai được 75-80 ngày. + Lần 3: Khi khoai được 105-110 ngày. 4. Thu hoạch    Khi dây khoai lang có biểu hiện ngừng sinh trưởng, nhiều lá chuyển sang màu vàng sáng, dấu hiệu cho việc tăng trưởng chậm lại, lá bắt đầu chậm phát triển và rụng nhiều, lúc này củ đã đạt kích thước mong muốn. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan SÙNG ĐỤC CỦ KHOAI LANG BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY KHOAI LANG KỸ THUẬT TRỒNG RAU XÀ LÁCH XOONG KỸ THUẬT TRỒNG DƯA HẤU  
Đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của cây bắp
CÂY LƯƠNG THỰC Đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của cây bắp
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY BẮP 1. MÔ TẢ HÌNH THÁI CÂY BẮP - Cây bắp, tên khoa học là Zea May L, thuộc họ Gramineae được Linnaeus đặt tên vào năm 1737. - Rễ: Bắp thuộc loại rễ chùm. Tùy vào hình dạng, vị trí, thời gian phát sinh, vai trò mà người ta chia làm các loại: rễ mầm (xuất hiện khi hột nảy mầm khoảng 2-3 ngày sau khi gieo), rễ thứ cấp (mọc từ mát của diệp tiêu, ở đầu trục của thượng diệp, gồm 4 rễ và mọc 1-2 ngày sau rễ mầm), rễ chùm hay còn gọi là rễ thật sự (mọc từ 3-5 đốt thân đầu tiên, thường là dưới mặt đất, giữ nhiệm vụ chính trong việc cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây), rễ khí sinh (mọc từ các đốt thân trên không, từ 30 ngày sau khi gieo trở đi). Rễ bắp - Thân: Bắp là loại cây hằng niên, thân thảo, đặc lõi, thẳng và ít đâm nhánh. Thân bắp cao trung bình từ 1,5 – 3 m, tiết diện hình bầu dục, đường kính trung bình ở lóng thứ 3 là 3 – 4 cm. Mỗi cây có trung bình 20 lóng, ở gần gốc lóng ngắn, lóng ngọn nhỏ và dài có ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ ánh sáng. Quá trình phân lóng ở bắp thường diễn ra rất sớm và kết thúc khi cây bắp được 5 lá. Do đó, chỉ có điều kiện sinh trưởng trong giai đoạn cây con là ảnh hưởng đến số lóng trên cây. - Lá: lá bắp mọc từ các mắt trên thân với số lá bằng số mắt thân, các giống trồng thường có từ 12 – 22 lá. Lá bắp gồm bẹ lá mọc ôm lấy thân và xen kẻ nhau giữa các mắt kế cận, phiến lá dài 10 - 150 cm và rộng 1,5 – 15 cm tùy vị trí của lá trên thân. Ngoài loại lá thông thường, bắp còn mang lá bi (lá mo hay vỏ trái) bao bọc phát hoa cái (trái). Đây là phần lá biến dạng, chỉ còn bẹ, để che chở trái bên trong. Mỗi trái bắp có 6 – 14 lá bi, mỗi lá dài 8 – 40 cm. - Phát hoa và thụ phấn: Bắp là loại cây đợn tính đồng chu, thường là phát hoa đực (cờ) đỉnh ở ngọn thân trổ trước. Phát hoa cái (trái) mọc từ nhánh ở khoảng giữa thân, thụ phấn chéo nhờ gió với tỷ lệ khoảng 95%. 2. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY BẮP - Chu kỳ sinh trưởng của cây bắp bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi trái chín hoàn toàn. Chu kỳ trung bình 75 – 100 ngày tùy theo giống, điều kiện canh tác và môi trường sống. Sự sinh trưởng của cây bắp được tiến hành qua nhiều thời kỳ nối tiếp nhau một cách liên tục: a/ Thời kỳ mọc mầm: Khoảng 24 giờ sau khi gieo. Khi đó sinh trưởng hãy còn là một khối u rộng, nhưng bên trong đã phân hóa từ 5 – 7 lá mầm và đốt thân. Các chất dinh dưỡng cũng phân hóa: tinh bột tạo thành đường, protein phân hóa thành acid amin… Trong thời kỳ này, cây bắp cần nhiệt độ 28 – 30 oC, ẩm độ 80% và thoáng. b/ Thời kỳ cây con 1 – 5 lá: khi cây có 3 lá cây bắt đầu sống nhờ quang hợp và hấp thụ dinh dưỡng từ rễ. Thời kỳ này quyết định số mắt và lóng của cây, gặp điều kiện bất lợi cây sẽ cho ít mắt. Cây con 5 lá c/ Thời kỳ tăng trưởng chậm: (từ 5 lá đến phân hóa mầm hoa, 20-25 ngày sau khi gieo (NSKG)): Thời kỳ này bắt đầu khi cây được 5 lá đến khi cây được 9 lá. Cây bắp phát triển chậm, chỉ vài mm/ ngày, tuy nhiên các đỉnh sinh trưởng đã bắt đầu phát triển tạo mầm hoa đực. Thời kỳ này cây bắp chịu ảnh hưởng quang kỳ rất mạnh, nhất là những giống nhiệt đới. d/ Thời kỳ tăng trưởng tích cực (từ 25 – 50 NSKG): Thời kỳ này cây phát triển rất nhanh, hệ thống rễ và dưỡng chất khô trong cây cũng tăng rất nhanh. Số lượng và sức sống của hoa cũng được quyết định trong giai đoạn này, do đó cây bắp cũng cần một nhiệt độ thích hợp, ở 18 – 20oC và ẩm độ 80%. e/ Thời kỳ trổ hoa: kéo dài trong 10 – 15 ngày, từ khi cây trổ cờ, tung phấn, phun râu đến khi hạt đã thụ phấn. Toàn thể cây bắp hoạt động tích cực, hấp thụ nhiều nước (2 lít/cây/ngày) và dinh dưỡng. Nhiệt độ thích hợp 22-25oC, nhiệt độ <20oC hay >35oC sẽ ảnh hưởng đến trổ cờ và thụ phấn. f/ Thời kỳ tạo hạt đến chín: kéo dài 25 – 35 ngày, tùy theo giống và thời vụ. Công ty cổ phần BVTV Delta  
Các giai đoạn tăng trưởng của cây lúa
CÂY LƯƠNG THỰC Các giai đoạn tăng trưởng của cây lúa
CÁC GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín. Có thể chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín. 1. Giai đoạn tăng trưởng - Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng. Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới (nở bụi). Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau. Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6. - Thông thường, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu) thấp hơn số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được số chồi tối đa. Các chồi ra sau đó, thường sẽ tự rụi đi không cho bông được do chồi nhỏ, yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu. trong canh tác, người ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sản sinh ra số chồi vô hiệu này bằng cách tạo điều kiện cho lúa nở bụi càng sớm càng tốt và khống chế sự mọc thêm chồi từ khoảng 7 ngày trước khi phân hóa đòng trở đi, để tập trung dinh dưỡng cho những chồi hữu hiệu. 2. Giai đoạn sinh sản - Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông. Giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày, trung bình 30 ngày. Lúc này, số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ bông. Trong suốt thời gian này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này. 3. Giai đoạn chín - Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch. Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại. Giai đoạn này của cây lúa trải qua các thời kỳ sau: + Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt. Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là do quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ. Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa. Kích thước và trọng lượng hạt gạo tăng dần làm đầy vỏ trấu. Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là lúa “cong trái me”. Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ lúa ngậm sữa. + Thời kỳ chín sáp: hạt mất nước từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn xanh. + Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần. + Thời kỳ chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20% hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần. Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của giống. Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Giáo trình cây lúa_ Nguyễn Ngọc Đệ Bài viết liên quan Đặc tính sinh trưởng của rễ lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/106/dac-tinh-sinh-truong-cua-re-lua Dinh dưỡng lúa: https://congtydelta.com/bai-viet/68/dinh-duong-lua Quy trình cây lúa khỏe: https://congtydelta.com/bai-viet/105/quy-trinh-cay-lua-khoe        
Đặc tính sinh trưởng của rễ lúa
CÂY LƯƠNG THỰC Đặc tính sinh trưởng của rễ lúa
  RỄ LÚA Cây lúa thuộc loại Hòa thảo (Graminae), tộc Oryzae, loài Oryza. Trong đó, Oryza sativa L. là tên của lúa trồng phổ biến nhất hiện nay. Hiểu rõ cấu tạo và đặc tính sinh trưởng của các bộ phận cây lúa ta mới có thể có những biện pháp kỹ thuật thích hợp, điều khiển sự sinh trưởng của cây lúa trong từng giai đoạn để đạt năng suất cao nhất. 1. RỄ LÚA Rễ lúa có 2 loại: rễ mầm và rễ phụ Các loại rễ lúa a. Rễ mầm Rễ mầm (radicle) là rễ mọc ra đầu tiên khi hạt lúa nảy mầm. Thường mỗi hạt lúa chỉ có một rễ mầm. Rễ mầm không ăn sâu, ít phân nhánh, chỉ có lông ngắn, thường dài khoảng 10-15 cm. Rễ mầm giữ nhiệm vụ chủ yếu là hút nước cung cấp cho phôi phát triển và sẽ chết sau 10-15 ngày, lúc cây mạ được 3-4 lá. Các rễ thứ cấp có thể mọc ra khi rễ mầm bị thiệt hại. Rễ mầm còn có nhiệm vụ giúp hạt lúa bám vào đất khi gieo sạ trên đồng. b. Rễ phụ (còn gọi là rễ bất định) - Rễ phụ mọc ra từ các mắt (đốt) trên thân lúa. Mỗi mắt có từ 5-25 rễ phụ, rễ phụ mọc dài, có nhiều nhánh và lông hút. Tại mỗi mắt có 2 vòng rễ: vòng rễ trên to và khỏe, vòng rễ dưới nhỏ và kém quan trọng hơn. Trong giai đoạn tăng trưởng, các mắt này thường rất khít nhau và nằm ở dưới mặt đất, nên rễ lúa tạo thành một chùm, do đó, rễ lúa còn gọi là rễ chùm. Tầng rễ phụ đầu tiên mọc ra ở mắt đầu tiên ngay trên trục trung diệp. - Ở đất khô rễ mọc thành chùm to, số rễ nhiều hơn, mọc rộng ra và ăn sâu xuống đất có thể đến 1m hay hơn nữa để tăng khả năng hút nước. - Ở đất ngập nước, bộ rễ ăn sâu 40cm. Bên trong rễ có nhiều khoảng trống ăn thông với thân và lá. Nhờ có cấu tạo đặc biệt này mà rễ lúa có thể sống được trong điều kiện thiếu oxy do ngập nước. - Rễ có nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng nuôi cây, giúp cây bám chặt vào đất, cho nên bộ rễ có khỏe mạnh thì cây lúa mới tốt được. Trong điều kiện bình thường rễ non có màu trắng sữa, rễ già sẽ chuyển sang màu vàng, nâu nhạt rồi nâu đậm và phần chóp rễ vẫn còn màu trắng. Bộ rễ không phát triển, rễ bị thối đen biểu hiện tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng trong đất, cây lúa không hấp thu được dinh dưỡng nên còi cọc, lá vàng, dễ bị bệnh và rụi dần nếu không có biện pháp xử lý kịp thời. - Sự phát triển của bộ rễ tốt hay xấu tùy loại đất, điều kiện nước ruộng, tình trạng dinh dưỡng của cây và giống lúa. - Trong điều kiện canh tác lúa 3 vụ hiện nay, trên ruộng rất dễ gặp tình trạng ngộ độc phèn và ngộ độc hữu cơ làm suy yếu bộ rễ lúa. Để khắc phục tình trạng ngộ độc này và giúp bộ rễ lúa phát triển tốt bà con nông dân có thể bổ sung thêm phân vi lượng Sapphire/ Bio Delta pha 50ml/bình 25 lít phun ở 2 giai đoạn: 7-10 ngày và 17-22 ngày sau khi sạ. Với thành phần trung vi lượng như: axit humic, chất hữu cơ, kẽm, sắt, kali hữu hiệu..., giúp kích thích phát triển bộ rễ, tạo rễ mới cho cây trồng, giúp giải độc phèn, ngộ độc hữu cơ, tổng hợp dinh dưỡng cho cây lúa nảy chồi mạnh. Sản phẩm có thể phối trộn với thuốc diệt cỏ mầm và thuốc trừ sâu. Nếu bà con chuẩn bị bón thúc cho lúa, có thể sử dụng Humic 9999 hoặc Bio One trộn chung với phân bón gốc vừa giúp kích thích rễ phát triển, giúp tăng hiệu quả hấp thụ phân bón của cây lúa vừa tiết kiệm công lao động.        Phân bón: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Giáo trình Cây lúa_Nguyễn Ngọc Đệ
Dinh dưỡng lúa
CÂY LƯƠNG THỰC Dinh dưỡng lúa
DINH DƯỠNG CÂY LÚA - Phân đa lượng: Đa lượng là số lượng nhiều. Phân NPK thuộc loại đa lượng vì cây lúa cần được bón với số lượng nhiều thường là hàng trăm kí trên hecta. - Phân trung lượng: Trung là trung bình, nằm giữa, do cây cần số lượng ít hơn phân NPK, các chất này gọi là trung lượng vì cây vẫn cần nhưng lượng hút vào ít hơn NPK; nếu có bị thiếu cũng không gây hậu quả nghiệm trọng như các yếu tố đa lượng. - Phân vi lượng: Các chất vi lượng thường chỉ bón từ 0,5-2kg trên ha là đủ. Do vậy không phải đất nào cũng thiếu vi lượng rõ rệt như các nguyên tố đa lượng. 1. Quy luật hấp thụ dinh dưỡng của cây lúa - Khi lúa đẻ nhánh hấp thụ ít. - Khi lúa trổ đòng là thời kỳ hấp thụ phân nhiều nhất và cường độ hấp thụ mạnh nhất. - Sau khi ra bông cho đến khi lúa chín lượng hấp thụ phân giảm. Cây lúa hấp thụ dinh dưỡng theo từng giai đoạn 3. DINH DƯỠNG ĐẠM - Vai trò: Là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân. - Triệu chứng thiếu: Cây lúa bị lùn, nở bụi ít, chồi nhỏ, lá ngắn hẹp, trở nên vàng và rụi sớm, cây lúa còi cọc không phát triển. Trong giai đoạn sinh sản bông lúa sẽ ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và có nhiều hạt thối hóa. Triệu chứng thiếu đạm - Triệu chứng dư: cây lúa phát triển thân lá quá mức, mô non mềm, dễ ngã, tán lá rậm rạp, lượng đạm tự do trong cây cao, nên cây dễ nhiễm bệnh, làm giảm năng suất rất nhiều.  Triệu chứng dư đạm 4. DINH DƯỠNG LÂN - Vai trò: Thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây, kích thích rễ phát triển, giúp cây lúa mau lại sức sau khi cấy, nở bụi mạnh, kết nhiều hạt chắc, tăng phẩm chất gạo, giúp lúa chín sớm và tập trung hơn. - Triệu chứng thiếu: + Cây lúa lùn, nở bụi kém, lá thẳng hẹp và màu sậm hơn bình thường hoặc ngã sang màu tím bầm, lúa sẽ trổ và chín muộn, hạt không no đầy và phẩm chất giảm. + Cây lúa cần lân nhất trong giai đoạn đầu. Khi cây lúa trổ, khoảng 37-83% chất lân được chuyển lên bông. Triệu chứng thiếu Lân 5. DINH DƯỠNG KALI - Vai trò: + Làm cứng cây, giúp cây quang hợp tốt, bông to, chắc hạt, chống rét, hạn chế sâu bệnh, Kali chủ yếu trong rơm rạ, chỉ khoảng 6-20% ở trên bông. Triệu chứng thiếu: + Chiều cao và số chồi bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh dốm nâu, lá già rụi sớm. + Cây cần Kali ở giai đoạn đầu sinh trưởng và giai đoạn cuối.            Triệu chứng thiếu Kali 6. DINH DƯỠNG SILIC - Vai trò: + Giúp cây lúa cứng cáp, chống đỗ ngã, kháng sự xâm nhập của mầm bệnh và sự tấn công của côn trùng, lá thẳng đứng, nhiều bông. + Giảm thoát hơi nước giúp cây chịu hạn khỏe hơn. - Triệu chứng thiếu: + Lá mềm, rũ xuống. + Cây thiếu Silic thường bị đỗ. Cây lúa thiếu Silic và lúa bị đỗ ngã do thiếu Silic 7. DINH DƯỠNG SẮT (Fe) - Vai trò: + Là thành phần cấu tạo của Chlorophyll (diệp lục tố) và một số phân hóa tố trong cây. + Sắt cần cho quang hợp. + Thiếu sắt hạn chế sự hấp thụ Kali. - Thiếu sắt: + Toàn bộ lá trở nên úa vàng và rất nhợt nhạt. + Toàn bộ cây lúa trở nên úa vàng và chết nếu thiếu sắt nghiêm trọng. Triệu chứng thiếu sắt - Ngộ độc sắt (Fe): + Các đốm nhỏ màu nâu ở các lá phía dưới bắt đầu từ ngọn lá hoặc toàn bộ lá có màu vàng da cam đến màu nâu. + Màng đen phủ lên bề mặt rễ. Giảm sức oxi hóa của rễ. Triệu chứng ngộ độc sắt               Công ty cổ phần BVTV Delta  
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA