CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG

Sâu tơ
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Sâu tơ
SÂU TƠ Plutella xylostella Linnaeus    Sâu tơ có tên khoa học là Plutella xylostella Linnaeus thuộc họ Ngài rau (Yponomeutidae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera). Sâu thường có tập tính nhả tơ buông xuống đất khi bị động nên còn gọi với tên là “sâu dù”. 1. Phân bố và ký chủ - Sâu tơ gây hại chủ yếu trên  cây rau họ thập tự như: cải bắp, bông cải trắng, bông cải xanh, cải bẹ trắng, cải bẹ xanh, cải dầu, cải thìa, cải tùa xại, cải xà lách xoong, cải xoăn,… - Ngoài ra, sâu còn phá hại trên khoai tây, cà chua,… 2. Đặc điểm hình thái và sinh học - Vòng đời - Trứng Trứng hình bầu dục, dẹp, màu vàng hoặc xanh nhạt, kích thước nhỏ 0,3-0,5 mm. - Ấu trùng + Ấu trùng sâu tơ có 4 tuổi. Cơ thể sâu nở to, thon nhọn ở hai đầu, phân đốt rõ rệt và có 3 đôi chân giả tính từ đốt bụng thứ 5, trên lưng có nhiều lông ngắn thẳng đứng. + Kích thước cơ thể tối đa từ 8-11 mm, phát triển trong khoảng từ 7-15 ngày. Trong đó, sâu tuổi 1 có màu trắng đục, dài 1,2-1,5 mm, phát triển 2-4 ngày. Sâu tuổi 2 màu xanh nhưng vẫn còn đục, dài 1,5-3,5 mm phát triển từ 1-3 ngày. Sang tuổi 3 sâu chuyển màu lục tươi với kích thước cơ thể từ 3,5-5,5 mm thời gian phát triển 1-3 ngày. Ở tuổi 4, sâu có màu xanh lục sậm hơn, dài 5,5-9 mm và thời gian phát triển từ 1-4 ngày. + Sâu phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ từ 20-30oC. Ấu trùng tuổi 1 thường ăn và lột xác dưới bề mặt lá. Trong suốt giai đoạn phát triển, nếu bị động sâu nhanh nhẹn lẫn trốn hoặc nhả tơ máng trên các lá ngọn của cây rau. Khi đạt kích thước tối đa, sâu tuổi 4 quay đầu về phía sau đuôi nhả tơ bao phủ phần đuôi đến phần đầu và lột xác lần cuối để hóa nhộng. - Nhộng + Nhộng có màu xanh nhạt, sau khoảng 2 ngày chuyển sang màu vàng nhạt, kích thước dao động từ 5-7 mm. Mắt rất rõ, kén mỏng và có hình thoi. Thời gian nhộng kéo dài từ 4-7 ngày. - Thành trùng + Thành trùng sâu tơ tương đối nhỏ, mảnh mai, dài 6-10 mm và có đôi râu rất linh hoạt. Cánh trước màu nâu xám có nhiều chấm nhỏ màu nâu, từ chân đến mép ngoài của cánh có một dải hình răng cưa gợn sóng. Cánh sau có rìa lông rất dài. Khi đậu đuôi cánh nhô lên cao giống hình máy nhà. Thời gian trống của thành trùng khá dài, 8-27 ngày đối với ngài đực và 6-26 ngày đối với ngài cái. - Tập quán sinh sống và gây hại + Thành trùng hoạt động vào ban đêm, mạnh nhất là khi trời bắt đầu tối đến nửa đêm, ban ngày ẩn ở mặt dưới lá, gốc rau hoặc cỏ. Khả năng bay của thành trùng rất kém, thông thường chỉ khoảng 2m trên mặt đất và thường di chuyển nhờ gió. Sự bắt cặp cặp có thể xảy ra ngay sau khi vũ hóa. Thời gian đẻ trứng 1-2 ngày sau khi bắt cặp. Mỗi ngài cái có thể đẻ 200 trứng. Phần lớn trứng được đẻ trước giữa đêm với cao điểm từ 7-8 giờ. Trứng được đẻ phân tán hay thành từng khóm từ 3-5 cái ở mặt dưới lá, hai bên gân hoặc chỗ lõm dưới lá. + Sâu tơ là loài gây hại nguy hiểm nhất ở cây họ thập tự. Sự phá hại của sâu chủ yếu ở giai đoạn cây con hoặc giai đoạn mới trồng. Chỉ có ấu trùng ăn lá và khi hiện diện ở mật số cao có thể làm giảm năng suất rõ rệt. + Sâu tuổi 1 đục một lỗ nhỏ ở dưới lá, xong chui đầu vào ăn nhu mô lá, chỉ chừa lại phần biểu bì. + Sâu tuổi 2 gặm ăn mặt dưới lá để lại lớp biểu bì mặt trên lá tạo thành những đốm trong mờ rất đặc trưng. Cuối tuổi 2, sâu gặm ăn tất cả biểu bì tạo những lỗ thủng trên lá. Khi mật số cao 100-300 sâu/cây cây có thể bị phá hại hoàn toàn.   3. Biện pháp phòng trừ - Vệ sinh đồng ruộng trước khi trồng vụ mới để giảm bớt mật số sâu. - Luân canh với cây không phải ký chủ như lúa, bắp,… - Xen canh với cà chua, cải lấy dầu,… nhằm hạn chế mật số sâu tơ, đồng thời làm tăng số lượng thiên địch trên đất canh tác. - Sử dụng luân phiên các loại thuốc trừ sâu để tránh sâu kháng thuốc.   - Các loại thuốc trừu sâu như: VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, B52 DUC 40EC, VDC PENALDUC 145EC Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan BỌ DƯA SÂU XANH DA LÁNG SÂU KHOANG, SÂU ĂN TẠP, SÂU KEO SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU)  
Bọ xít hôi
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Bọ xít hôi
BỌ XÍT HÔI Rice Bug    Bọ xít hôi có tên khoa học Leptocorisa acuta,thuộc họ bọ xít mép (Alydidae), bộ cánh nửa cứng (Hemiptera). 1. Phân bố và ký chủ - Bọ xít hôi xuất hiện hầu hết ở các quốc gia trồng lúa trên thế giới trong đó có Việt Nam. - Ký chủ: Bọ xít hôi có rất nhiều ký chủ phụ, đặc biệt thường gặp trên cỏ lồng vực, lúa hoang, bắp, quan trọng nhất là lúa. 2. Đặc điểm hình thái sinh học - Thành trùng có màu xanh hơi pha nâu ở trên lưng và màu vàng nâu ở mặt bụng, dài từ 14-18 mm, mình thon dài, chân và râu đầu rất dài, râu đầu có 4 đốt. Đầu dài, 2 phiến cạnh của đầu nhô ra trước như dạng ngón tay. Bọ xít đực và cái phân biệt dễ dàng nhờ con cái có đốt bụng thứ 8 (do đốt bụng thứ 7 chẻ đôi thành 2 phần) trong khi con đực cuối bụng tròn. - Đời sống của thành trùng có thể đến 2-3 tháng, trong thời gian này một thành trùng cái có khả năng đẻ từ 250-300 trứng trong vòng khoảng 8 tuần. - Trứng được đẻ thành nhiều hàng song song trên phiến lá dọc gân chính, ở cả hai mặt, hoặc bẹ lá, mỗi ổ có từ 10-30 trứng. - Trứng hình bầu dục, hơi dẹp, dài từ 1,2 -1,4 mm, mới đẻ màu trắng đục, sắp nở màu đen bóng. Thời gian ủ trứng là 5-8 ngày. - Ấu trùng có 5 tuổi, màu xanh lá cây lợt, mới nở dài khoảng 2mm, tuổi lớn nhất dài khoảng từ 12-14 mm. Thời gian phát triển của giai đoạn ấu trùng từ 15-22 ngày. 3. Tập quán sinh sống và cách gây hại - Khi trên ruộng chưa có lúa, thành trùng có thể sống trên cỏ dại và thường di chuyển vào ruộng khi lúa trỗ. Thành trùng  hoạt động mạnh vào sáng sớm và chiều tối và không bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn. - Chúng nở vào buổi sáng, sau khi nở ấu trùng tập trung quanh ổ trứng 2-3 giờ, sau đó phân tán lên bông hay lá non để chích hút nhựa. - Ấu trùng và thành trùng thường tập trung trên bông lúa, chích hút hạt lúa đang ngậm sữa bằng cách dùng vòi chọc vào giữa hai vỏ trấu, chích hút hạt lúa, làm hạt lúa bị lép hoặc lửng, rất dễ bể khi xay.   4. Biện pháp phòng trị - Vệ sinh đồng ruộng, diệt cỏ, nhất là cỏ lồng vực. - Dùng các loại thuốc trừ sâu thông thường như VDC PENALDUC 145EC, Rồng Việt 100WG, VOIDUC 42EC, … có mùi để xua đuổi.  Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan MUỖI HÀNH PHÒNG TRỊ SÂU CUỐN LÁ NHỎ HẠI LÚA RẦY NÂU HẠI LÚA RẦY LƯNG TRẮNG  
Sùng đục củ khoai lang
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Sùng đục củ khoai lang
SÙNG ĐỤC CỦ KHOAI LANG Cylas formicarius Fabricius    Sùng khoai lang còn gọi là Bọ hà có tên khoa học là Cylas formicarius Fabricius thuộc bộ Coleoptera (Cánh cứng), họ Curculionidae (Vòi voi). 1. Phân bố ký chủ    Xuất hiện  và gây hại quan trọng ở hầu hết các vùng trồng khoai trên cả nước, chúng thường xuyên gây hại nặng ở những vùng đất đai thường xảy ra khô hạn nứt nẻ. 2. Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái a/ Thành trùng - Dài từ 5-8 mm, thon dài, chân dài, giống như kiến, đầu có màu đen, miệng dài, mắt kép hình bán cầu hơi lồi ra hai bên đầu và râu đầu gồm 10 đốt. Phần ngực, đốt cuối râu và mắt sùng thường có màu đỏ, phần bụng và cánh có màu xanh đen bóng. Đốt cuối râu của sùng đực có hình ống dài, trong khi đó sùng cái có hình trứng. Ngực có chiều dài gấp đối chiều rộng, đốt đùi to. Thành trùng ít khi bay và chủ yếu di chuyển bằng cách bò vào thời điểm chiều mát và ban đêm. Thành trùng đực Thành trùng cái - Lúc mới vũ hóa thành trùng có màu trắng và ở bên trong củ khoai lang từ 2-3 ngày, đến khi cánh đủ cứng và cơ thể đủ mạnh thì sùng mới chui ra bên ngoài. Đến khoảng 6-8 ngày sau vũ hóa, thành trùng bắt đầu bắt cặp và sau 2-3 ngày đẻ trứng. Thành trùng sống khoảng 100 ngày và đẻ khoảng 200 trứng. b/ Trứng sùng khoai lang - Thành trùng cái có thể đẻ từ 2-4 trứng trong một ngày. Sùng cái đẻ rãi rác trong các lỗ đục nhỏ trên củ khoai lang. Sau khi đẻ trứng xong, sùng lắp lỗ đục lại bằng phân nên trứng rất khó bị phát hiện. - Trứng được đẻ ở gần gốc dây khoai lang hoặc thành trùng lần theo kẽ nứt dưới đất chui xuống đẻ trứng trên củ khoai lang. Trứng nhỏ, bóng, hình bầu dục, chiều dài từ 0,5-0,7 mm. Giai đoạn ủ trứng từ 5-6 ngày vào mùa Hè và từ 11-12 ngày vào mùa Đông. c/ Ấu trùng sùng khoai lang    Ấu trùng có dạng hình ống dài, hai đầu thon nhỏ. Đầu có màu nâu, thân có màu trắng, không chân, phần bụng chia đốt rõ ràng, cơ thể dài từ 5-8,5 mm. Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 15-25 ngày. Nhiệt độ là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của ấu trùng. Ở điều kiện nhiệt độ là 300C và 240C sự phát triển của ấu trùng khoảng 10 ngày và 35 ngày. Nếu trứng được đẻ trên dây khoai lang thì sau khi nở, ấu trùng đục vào trong dây và phá hại, làm dây khoai tại vị trí đục bị dị dạng, phình to, chúng ăn chất dinh dưỡng và thải phân ngay trong đó. d/ Nhộng sùng khoai lang    Nhộng dài trung bình 6,5 mm, lúc đầu nhộng có màu trắng sữa, sau chuyển dần sang màu xám với mắt và chân đen hơn. Vòi cúi gập phía mặt bụng, thời gian nhộng đến vũ hóa từ 4-10 ngày. e/ Tập quán sinh sống và cách gây hại - Các giai đoạn sinh trưởng của sùng khoai lang đều sinh sống trên ký chủ, cả ấu trùng và thành trùng đều gây hại trên củ và dây khoai lang. - Thành trùng thường hiện diện ở mặt dưới lá, ăn biểu bì thân lá và bề mặt củ khoai lang tạo nên những lỗ thủng tròn nhỏ. Ấu trùng lớn lên đục thẳng vào bên trong củ tạo thành những đường hầm ngoằn ngoèo. - Nếu bị sùng tấn công vào giai đoạn củ mới hình thành, củ sẽ không phát triển được, bị lép và giảm năng suất. Nếu bị sùng tấn công vào giai đoạn củ đã lớn, năng suất không giảm nhiều nhưng phẩm chất củ khoai giảm do phần thịt xung quanh đường đục bị chuyển sang màu tím, có mùi hôi và vị đắng. - Củ khoai bị sùng tấn công có màu xanh đen, thường bị đắng và có mùi hôi hắc khó chịu do trong quá trình đục củ sùng đã tiết ra hợp chất terpen, cùng với sự gia tăng các hợp chất phenolic trong củ để phản ứng lại các sựu gây hại của sùng làm cho củ có vị đắng không ăn được. 3. Cách phòng trị - Tiêu hủy tàn dư của khoai lang sau thu hoạch. Nếu có điều kiện nên cho nước vào ngập ruộng từ 1-2 tuần. - Trước khi đưa củ khoai vào tồn trữ, bảo quản cần loại bỏ những củ đã bị nhiễm sùng để tránh lây lan cho củ khác. - Trước khi trồng cần vệ sinh đồng ruộng sach sẽ. - Không sử dụng dây khoai đã nhiễm sùng làm giống cho vụ sau. - Khi khoai tao củ phải vụ luống phủ kín gốc khoai, không để củ lồi khỏi mặt đất. Thường xuyên tưới đủ ẩm cho luống khoai để đất không bị nứt nẻ, sùng không chui xuống củ đẻ trứng. - Trước khi trồng có thể xử lý hom giống bằng cách ngâm vào dung dịch thuốc trừ sâu trong vòng 30 phút. - Khoảng 1 tháng sau khi trồng hoặc từ khi hình thành củ trở đi nếu phát hiện thấy thành trùng sống rãi rác trên ruộng khoai thì có thể dùng thuốc trừ sâu phun xịt  định kỳ 10 ngày/lần. - Nên luân canh với cây trồng khác không phải là thức ăn của sùng. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan CÔN TRÙNG HẠI CAM, QUÝT NHỆN GIÉ HẠI LÚA SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) QUẢN LÝ SÂU HẠI SẦU RIÊNG    
Sâu hại chuối
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Sâu hại chuối
SÂU HẠI CHUỐI 1. Sùng đục củ (Cosmopolites sordidus) - Thánh trùng là một loại mọt dài 0,5-1cm, màu xám, khi mới nở có màu nâu hay đen. Mọt di chuyển ban đêm, ban ngày ẩn núp ở củ hay bẹ chuối gần mặt đất. Con cái sống cả năm và đẻ trứng liên tục, chích vào thân chuối đang mọc để đẻ trứng. Ấu trùng là sùng màu trắng dài 1-1,5 cm, tạo đường đi cho nấm xâm nhiễm. - Cây chuối không hấp thu dinh dưỡng được nên phát triển kém, nếu là cây con thì dễ chết. Cây trổ buồng nhỏ, trái nhỏ. - Khi thấy trong vườn có lá chuối rụng nhiều hoặc cây mọc yếu mà không có dấu hiệu gì khác thì có thể nghi là bị sùng đục củ chuối. * Phòng trị - Chọn cây con đem trồng không có dấu vết của sùng, không chất đống cây con qua đem trước khi trồng để tránh mọt đến đẻ trứng. Không tồn trữ cây con quá lâu. - Dùng thuốc bột rãi quanh gốc cách gốc 30 cm, hay phun thuốc nước lên thân và gốc chuối. 2. Rầy mềm - Thành trùng dài khoảng 1,0-1,7; có màu nâu đến đen, không cánh hoặc không cánh có dạng bầu dục. Rầy mềm thường sống trong các bẹ chuối khô chung với kiến. Rầy thường chích hút cây con ở gần mặt đất, ở gốc, cũng phát hiện được rầy trên ngọn, trong lá còn cuốn tròn chưa mở và ngay cả ở cuống lá. - Rầy chích hút nhựa, nhưng gây hại quan trọng là truyền virus gây bệnh chùn đọt chuối “Brunchy top”. Bệnh gây lá hẹp và mọc xúm xít lại nhau. Lá có những sọc màu xanh đậm. Cây mọc cằn cổi và lùn, bị nặng thì trái rất nhỏ hoặc không trái. * Phòng trị - Phòng ngừa bằng cách loại bỏ ngay những cây có bệnh ra khỏi vườn, không trồng gần vườn có bệnh. - Diệt trừ rầy bằng cách phun các loại thuốc trừ sâu thông thường VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, VDC PENALDUC 145EC cần vệ sinh vườn, tách bỏ các bẹ chuối khô, diệt kiến. 3. Bù lạch (Thrips sp) - Có nhiều loài, màu nâu, màu trắng hay đen. Kích thước rất nhỏ nên khó thấy. Bù lạch đẻ trứng dưới lớp biểu bì của bẹ ở chồi non, còn trên trái thì ở chỗ tiếp xúc giữa 2 trái kế cận. Thành trùng sống trong bẹ lá, lá non hay cuống lá. Bù lạch di chuyển từ vườn này sang vườn khác chủ yếu nhờ gió (thành trùng bay rất yếu) hoặc qua vật liệu nhân giống. - Trái bị chích hút, khi trưởng thành sẽ nổi các sẹo ghẻ ở vỏ, màu đỏ nâu và có thể nứt. * Phòng trị Có thể phun bằng các loại thuốc trừ sâu thông thường VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, VDC PENALDUC 145EC 4. Sâu cuốn lá (Erionota thrax Linnaeus) - Trứng được đẻ rải rác ở mặt dưới lá, có màu vàng nhạt, khi sắp nở có màu hồng. Ấu trùng màu xanh nhạt, khi lớn có màu trắng sáp bao quanh, dài khoảng 6 cm. Nhộng thon dài màu nâu vàng và cũng được phủ lớp sáp trắng. Thành trùng có màu nâu, chiều dài khoảng 5-5,5 cm (con đực), 6-6,5 cm (con cái). Cánh trước có 3 đốm vàng nhạt. - Sâu gây hại bằng cách cắt lá và cuốn lại, lá cuốn lại sẽ khô héo đi. Ở ĐBSCL, sâu xuất hiện cũng phổ biến nhưng có mật số thấp. Khi bị nặng, cây trụi lá, quầy nhỏ. * Phòng trừ - Cắt bỏ lá sâu đem tiêu hủy khi mật số thấp. - Có thể phun bằng các loại thuốc trừ sâu thông thường VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, VDC PENALDUC 145EC 4. Tuyến trùng Gồm có các loài sau: a/ Loài đục rễ (Radopholus similis) - Thành trùng dài 0,68 mm, rộng 0,02-0,03 mm, con cái có kim, đầu hơi tròn. Tấn công và phá hủy rễ, tạo các vết màu nâu đỏ hay đen. Rễ ngắn đi và ít mọc nhánh. Tuyến trùng có thể đục ở vòng ngoài của củ làm vòng củ đỏ lên. - Tuyến trùng đẻ trứng ở các mô trong rễ, khi nở sẽ chích hút nhựa tế bào, các mô chết làm thành các vết đen ở rễ. Cây cằn cỗi, buồng nhỏ, trái nhỏ và dễ bị các loại nấm sống trong đất như Fusarium oxysporum, Rhizoctonia solani tấn công theo các vết chích hút của tuyến trùng, làm chết cây. Mật số tuyến trùng tăng nhiều từ mùa thứ 2 trở đi. b/ Tuyến trùng làm sưng rễ (Meloidogyne incognita) Tuyến trùng gây hại làm rễ bị sưng với nhiều nốt rễ có kích thước khác nhau. Loại này ít gây thiệt hại. c/ Tuyến trùng xoắn ốc (Heliotylenchus spp) Sống bên ngoài rễ làm đứt rễ. d/ Tuyến trùng chích rễ (Pratylenchus spp) Có triệu chứng tương tự tuyến trùng đục rễ Radopholus similis * Cách phòng trị - Loại bỏ các cây bệnh, đào bỏ cả rễ. - Cày phơi đất trong 6 tháng trước khi trồng mới. - Thường xuyên bổ sung phân hữu cơ giúp đất tơi xốp để hạn chế tuyến trùng. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan QUẢN LÝ SÂU HẠI SẦU RIÊNG SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) NHỆN HẠI CAM, QUÝT
Quản lý sâu hại Sầu Riêng
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Quản lý sâu hại Sầu Riêng
QUẢN LÝ SÂU HẠI CHO CÂY SẦU RIÊNG 1. XÉN TÓC (Plocaederus ruficornis) - Hình thái: Có 3 giai đoạn gồm trứng, ấu trùng và thành trùng (xén tóc). + Trứng tròn, màu trắng được đẻ rải rác trong các vết nức của vỏ cây, nở trong thời gian từ 2-3 ngày. + Ấu trùng có thân màu vàng nhạt, đầu rất nhỏ và hay rút xuống phía dưới, chân thoái hóa còn rất nhỏ, có đời sống rất lâu (có thể đến 7-8 tháng) ngay bên trong thân cây. Thành trùng có thân màu nâu đen, dài từ 2,5-4 cm, có râu rất dài, màu đỏ, bằng hoặc hơn thân mình (con đực), sáu chân cũng có màu đỏ với đốm nâu đậm ở cuối đùi và cẳng chân, trên cánh cứng có những đốm gỗ màu nâu hoặc đen, ngực trước có u nhỏ trông gồ ghề, mỗi bên có một gai đưa ra giống 2 cái sừng, thường bị thu hút bởi ánh sáng đèn vào đầu mùa mưa sau khi vừa trưởng thành. + Giai đoạn gây hại là ấu trùng, khả năng phá hại rất cao nhưng lại khó phát hiện triệu chứng gâu hại do ấu trùng không thải phân ra ngoài, thường chỉ phát hiện qua các lỗ đục trên thân, cành héo khô và có thể chết. - Cách gây hại: + Loài xén tóc đục trên thân chính hoặc nhánh lớn, thường làm chết cành hoặc suy yếu cả cây. Con cái đẻ trứng vào các vết nứt của cây hoặc ngay vị trí phân nhánh (chảng ba của cây). Ấu trùng chui qua vỏ vào trong đục thành đường hầm trong thân cây và cành cây, ăn phá ở đó. Những đường đục trong gỗ cây thường có dạng hình tròn (thiết diện cắt ngang) và kéo dài một đoạn thẳng nhỏ trước khi quay hướng đục. + Cây bị tấn công vào giai đoạn nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng rất nhiều, mạch dẫn nhựa tắt nghẽn làm cho cành bị khô héo và rụng lá, các lỗ do ấu trùng đục vào bị  chảy nhựa và cành dễ gãy. * Phòng trị + Rất khó để phòng trị các loài xén tóc vì ấu trùng ở sâu bên trong. Có thể ngừa bằng các cách sau: + Vệ sinh vườn thường xuyên (cắt bỏ tiêu hủy những cành vượt, bệnh) don sạch cỏ rác và lá cây mục. + Không gây ra vết thương vì sẽ tạo điều kiện cho thành trùng đẻ trứng. + Thành trùng chỉ xuất hiện vào lúc đêm tối và khi chúng đẻ trứng. Chúng thường thu hút bởi ánh sáng nên có thể dùng bẫy đèn để thu hút (vào đầu mùa mưa). + Pha hỗn hợp vôi, lưu huỳnh, nước tỷ lệ 10:1:40 quét thân cây để diệt trứng và tránh không cho thành trùng đẻ trứng vào giai đoạn trước và sau mùa mưa. + Nếu phát hiện cây bị sâu đục thân, dùng bông gòn thấm thuốc trừ sâu (nên chọn thuốc lưu dẫn hoặc xông hơi) nhét vào các lỗ đục, trám miệng lỗ đục lại. Ngoài ra, cũng có thể rải thuốc trừ sâu dạng hạt vào các lỗ đục và trám đất sét. + Trong quá trình tìm diệt sâu đục thân, có thể tạo nhiều vết thương trên thân cây, dùng thuốc gốc đồng quét lên thân cây phòng bệnh tấn công. 2. SÂU ĐỤC QUẢ (Conogethes punctiferalis) gây hại từ lúc quả non - quả già. - Hình thái: + Trứng hình bầu dục, dài khoảng 2-2,5 mm. + Ấu trùng dài khoảng 22mm, đầu nâu, thân màu trắng ửng hồng, hai đốt ngực (trước và giữa) và hai đốt thân ở cuối thường có màu trắng hơi hồng, các đốt còn lại có màu hồng. Mỗi đốt sống lưng có 4 đốm nâu nhạt, 2 đốm trên to, 2 đốm dưới dài và hẹp, trên mỗi đốm đều có lông cứng nhỏ, mỗi đốt có một đốm nhỏ màu nâu ở bên hông cơ thể, lỗ thở màu đen. + Trưởng thành là bướm có chiều dài sải cánh 20-23 mm, toàn thân màu vàng, trên cánh có nhiều chấm nhỏ màu đen. - Cách gây hại: Trưởng thành cái đẻ trứng trên vỏ quả sầu riêng non, sâu non ăn phần vỏ rồi đục vào quả sau đó hóa nhộng ngay trên đường đục hoặc ra ngoài và hóa nhộng trên vỏ quả. Sâu gây hại từ khi trái còn non đến trưởng thành, đặc biệt gây hại nặng trên các chùm trái hơn là các trái đơn lẻ. - Ảnh hưởng của sâu đến quả sầu riêng: Quả non bị hại sẽ biến dạng và rụng, quả già bị hại sẽ ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm. Ngoài ra, sâu đục vào quả còn tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập gây thối quả và rụng. * Phòng trị + Cắt tỉa các trái nhỏ, kém phát triển, trái bị sâu hại. + Dùng cành cây nhỏ ngăn tách các trái đóng cặp để hạn chế thiệt hại. + Dùng bẫy đèn để bẫy trưởng thành vào ban đêm. + Phun thuốc sử dụng luân phiên các hoạt chất Emamectin benzoate, Abamectin, Thiosultap sodium, …để hạn chế tính kháng. 3. RẦY NHẢY (Rầy phấn) (Allocaridara malayensis): đối tượng gây hại phổ biến và quan trọng trên cây sầu riêng, phát triển nhiều trong các tháng mùa nắng, gây hại chủ yếu trên lá non. - Hình thái:  + Ấu trùng có cấu trúc giống như lông màu trắng xung quanh cơ thể, đặc biệt là ở phía sau có lông tơ màu trắng dài trông giống như một cái đuôi gà.  + Thành trùng không có cấu trúc lông trắng này, không bay thường xuyên, chỉ bay khi chúng bị quấy phá, có chiều dài 3 – 4 mm, cơ thể có màu nâu lợt, cánh trong suốt, thường xuất hiện ở mặt dưới lá và có thể sống đến 6 tháng; đẻ trứng ở mặt trên lá non còn xếp lại thành từng ổ. - Cách gây hại: thường sống ở mặt dưới lá, cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút các lá non, lá bị hại thường có những chấm vàng. Khi bị hại nặng, lá thường khô, cong lại và rụng hàng loạt, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây. Ngoài ra rầy còn tiết ra mật ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển. * Phòng trị: + Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt để dể trừ rầy. + Phun nước khi lá vừa mở để rửa trôi ấu trùng và thành trùng giúp giúp giảm mật số rầy. + Thường xuyên kiểm tra cây đặc biệt là thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 11 là thời kỳ thường xảy ra dịch rầy nhằm quan sát tình trạng xuất hiện của rầy nhảy. + Sử dụng bẫy dính màu vàng nhằm hấp dẫn và bẫy rầy trưởng thành. + Khi mật số rầy cao có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Nytenpyram (SUPER KING 500SL), Dinotefuran, Pymetrozine (CHETS DUC 700WP)… Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng.  4. NHỆN ĐỎ (Eutetranychus sp.) - Nhện đỏ phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm của vùng nhiệt đới, khả năng sinh sản khá cao, vòng đời rất ngắn, gây hại trên lá già nhất là những lá ở gần mặt đất. - Gây hại bằng cách: Chích hút dịch lá tạo thành những chấm trắng li ti, làm lá bị mất màu, không phát triển được. Lá bị hại nặng sẽ chuyển màu vàng, rụng sớm dẫn đến cây sinh trường kém, ảnh hưởng đến ra hoa đậu quả của cây.   * Phòng trị: + Phun nước lên tán lá để tăng ẩm độ lá, giảm mật số của nhện. + Trong điều kiện tự nhiên, nhện đỏ bị nhiều loại thiên địch tấn công như : nhện nhỏ ăn mồi…cần tạo điều kiện cho thiên địch phát triển để hạn chế nhện đỏ gây hại. + Khi mật số nhện cao có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất để phun như: Abamectin (VOIDUC 42EC), Azadirachtin, Clofentezine, Diafenthiuron, Emamectin benzoate (VDC PENALDUC 145EC, Rồng Việt 100WG), Karanjin, Sulfur… . Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng.  5. RỆP SÁP (Planococcus sp.) - Xuất hiện khá phổ biến, tấn công trên trái từ khi còn non, bám vào cuống quả hoặc các rãnh giữa các gai trên vỏ quả.  - Gây hại bằng cách: Chích hút nhựa làm quả kém phát triển. Nếu quả non bị hại nặng sẽ bị biến dạng hoặc rụng non. Trong quá trình gây hại, rệp còn tiết ra mật đường tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, làm giảm giá trị thương phẩm của trái. * Phòng trị: + Tỉa bỏ những trái non bị nhiễm nặng. + Không trồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như mãng cầu (na)… + Khi mật số rệp cao phun thuốc có chứa hoạt chất như: Abamectin (VOIDUC 42EC), Emamectin benzoate (VDC PENALDUC 145EC, Rồng Việt 100WG), Nytenpyram (SUPER KING 500SL), Dinotefuran, Pymetrozine (CHETS DUC 700WP)…kết hợp dầu khoáng ... Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Sở nông nghiệp và nông thôn tỉnh Tây Ninh  
Sâu xanh 2 sọc trắng (Sâu xanh ăn lá)
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Sâu xanh 2 sọc trắng (Sâu xanh ăn lá)
SÂU XANH 2 SỌC TRẮNG (SÂU XANH ĂN LÁ) - Tên khoa học: Diaphania indica - Phổ ký chủ: gây hại nghiêm trọng trên các loại bầu, bí, dưa, đậu nành, đậu cove,… 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Trứng       Màu trắng đục, trước khi nở chuyển thành màu trắng hơi ngà vàng, rất nhỏ (khoảng 0,5 mm), tròn, có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, được đẻ riêng lẻ hoặc từng cụm trên cả 2 mặt lá, nhất là đọt và trái non. Thời gian ủ trứng 4-5 ngày. - Ấu trùng       Ấu trùng có màu xanh nhạt hay màu xanh lá cây đậm, với 2 sọc tắng chạy dọc cơ thể rất rõ. Ấu trùng có 5 tuổi với 4 lần lột xác và phát triển trong thời gian 10-20 ngày, điều kiện thuận lợi sâu có thể dài 20-25 mm. - Nhộng       Nhộng có màu nâu nhạt khi mới hình thành, vài ngày sau chuyển thành màu nâu đen, kích thước trung bình 12,6-2,3 mm. - Thành trùng + Là loài ngài nhỏ có kích thước chiều dài khoảng 10-12 mm, sải cánh rộng từ 20-25 mm. + Ngài có cánh trước màu trắng bạc với một đường viền màu nâu đậm dọc theo hai cạnh trước và cánh ngoài của cánh trước, cánh ngoài của cánh sau. Cuối đốt bụng có chùm lông của cơn quan sinh sản có màu vàng nâu. + Thành trùng có thể sống từ 5-7 ngày và một thành trùng cái có thể đẻ từ 150-200 trứng, trứng sẽ nở sau 3-5 ngày. A: Trứng, B: Ấu trùng, C: Nhộng, D: Thành trùng đực, E: Thành trùng cái 2. TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI       Ấu trùng có tập quán là dùng tơ cuốn các đọt non lại và ở bên trong ăn phá. Khi sâu lớn có thể cắn trụi cả lá và chồi ngọn của đọt non, sâu còn ăn trái non làm cho trái bị thối và rụng. Khi trái lớn, sâu thường ẩn ở mặt dưới, nơi phần trái chạm đất và cạp da bên ngoài làm trái bị lép nơi đó và da trái bị loang lỗ. Sâu làm nhộng trong các lá non cuốn lại. 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ       Sử dụng các loại thuốc trừ sâu như: VOIDUC 42EC, RỒNG VIỆT 100WG, B52 DUC 40EC, VDC PENALDUC 145EC. Phun thuốc khi sâu còn nhỏ.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan   SÂU XANH DA LÁNG SÂU KHOANG, SÂU ĂN TẠP, SÂU KEO RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÁ, SÂU VẼ BÙA HẠI RAU)    
Ruồi đục lòn (Dòi đục lá, Sâu vẽ bùa hại rau)
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Ruồi đục lòn (Dòi đục lá, Sâu vẽ bùa hại rau)
RUỒI ĐỤC LÒN (DÒI ĐỤC LÒN) - Tên khoa học: Liriomyza trifolii Burgess - Phân bố và ký chủ: gây hại trên nhiều loại cây trồng như bầu, bí, dưa, cà, ớt, các loại đậu,… 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Thành trùng rất nhỏ dài từ 1,3-1,5 mm, màu đen bóng, cánh trước có chiều dài 1,4 mm, rộng 0,6 mm. Cánh sau thoái hóa còn rất nhỏ màu vàng nhạt. Bụng và chân có nhiều lông, chân màu vàng, đốt chày và đốt bàn màu đen, bàn chân 5 đốt, đốt cuối có 2 móng cong màu đen. Thành trùng - Ruồi (thành trùng) có vòng đời trung bình 25-30 ngày.  - Trứng rất nhỏ có màu trắng hồng, tròn đường kính khoảng 0,2 mm. - Ấu trùng có chiều dài khoảng 2 mm, màu vàng nhạt khi mới nở sau đó chuyển sang màu vàng đậm. Cơ thể có 10 đốt, miệng dạng móc câu màu đen, thời gian phát triển của ấu trùng từ 3-4 ngày. Ấu trùng - Nhộng có chiều dài 1,5 mm rộng 0,7 mm, thời gian phát triển của nhộng 6-7 ngày. Nhộng 2. TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI - Thành trùng hoạt động vào 7-9 giờ sáng và 4-5 giờ chiều. Thành trùng dùng bộ phận đẻ trứng rạch nhiều lỗ, các lỗ đục thường xuất hiện ở chóp lá hay dọc theo bìa lá. - Dòi gây hại cho cây bằng cách đục thành những đường ngoằn nghèo ở mặt trên lá, lúc đầu đường đục nhỏ và càng lúc càng to dần cùng với sự phát triển của ấu trùng. - Khi trưởng thành dòi đục thủng biểu bì chui ra ngoài và làm nhộng trên mặt lá hay trên các bộ phận khác của cây hoặc buông mình xuống đất làm nhộng. 3. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ - Làm sạch cỏ xung quanh ruộng, tiêu hủy tàn dư thực vật. - Sử dụng các loại thuốc trừ sâu như (Rồng Việt 100WG, VDC PENALDUC 145EC,… kết hợp với dầu khoáng để tăng hiệu quả phòng trị ruồi đục lòn. Công ty cổ phần BVTV Delta     Bài viết liên quan Bọ dưa Rầy phấn trắng Sâu xanh da láng        
Sâu xanh da láng
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Sâu xanh da láng
SÂU XANH DA LÁNG Tên khoa học: Spodoptera exigua Họ: Noctuidea Bộ: Lepidoptera - Sâu xanh da láng là côn trùng ăn tạp (Tương tự như Sâu ăn tạp).Với phổ ký chủ rộng, nó đã trở thành một loài dịch hại nghiêm trọng đối với thực vật đặc biệt là các loại rau ngắn ngày như: Củ cải đường, bông cải, bắp cải, cần tây, đậu nành, đậu xanh, hành, ớt, bắp, đậu đũa, cà tím, rau diếp, khoai tây, khoai lang, cà chua,… 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Vòng đời - Giai đoạn trứng + Trứng được đẻ thành từng cụm từ 50-150 trứng/ ổ. Sản lượng trứng bình thường khoảng 300-400 trứng trên mỗi con. + Trứng thường được đẻ ở mặt dưới lá, thường gần hoa và phần đọt của cành. + Trứng có hình tròn khi nhìn từ trên xuống, nhưng khi nhìn từ phía khác thì trứng hơi có đỉnh và thuôn nhọn. Đường kính từ 0,4-0,5 mm. Trứng mới đẻ màu xanh đến vàng nhạt, sau chuyển sang màu trắng đục, sắp nở có một chấm đen trên vỏ trứng, đó là mắt của sâu, trên phủ lớp lông màu trắng ngà. + Trứng nở sau 2-3 ngày trong thời tiết ấm áp. - Giai đoạn ấu trùng + Ấu trùng tuổi 1: Sâu tuổi 1 có màu xanh lá hoặc màu vàng, đầu đen bóng, mang nhiều lông. Trên lung có nhiều chấm to màu nâu nhạt, ở mỗi chấm có một lông dài màu nâu, cơ thể có chiều dài từ 1,2-1,5 mm, thường phần đầu có chiều ngang lớn hơn chiều ngang thân mình và các sọc trên cơ thể chưa rõ ràng. + Ấu trùng tuổi 2: Sâu mới lột xác có màu vàng nhạt hoặc màu xanh lá cây, màu sắc trên mình sâu bắt đầu thể hiện rõ dần. Bụng màu vàng xanh, các đốt trên thân rõ dần. Cơ thể sâu có ba sọc màu trắng mờ, một sọc giữa lưng và 2 sọc bên thân, cả ba sọc trên chạy từ đốt thứ nhất đến đốt cuối của bụng. Ở tuổi này sâu có kích thước cơ thể trung bình là 0,45-3,7 mm, kích thước vỏ đầu trung bình 0,36x0,25 mm. Thời gian phát triển của sâu tuổi 2 dao động từ 2-4 ngày. + Ấu trùng tuổi 3: Khi sâu bước sang tuổi 3 các sọc nhạt màu chạy dọc cơ thể sâu xuất hiện rõ hơn. Lúc mới lột xác sâu có màu vàng xanh, sau chuyển sang màu xanh lá cây. Đầu màu vàng nhạt, bóng, vẫn còn mang nhiều lông. Các chấm trên mình sâu nhỏ dần, lông ngắn hơn. Bụng có màu xanh nhạt, chân trong suốt, phần đầu cuối chân có màu hồng. Kích thước thân lúc mới lột xác trung bình 6,5 mm x 0,25 mm, kích thước vỏ đầu trung bình là 0,56 mm x 0,39 mm. Thời gian phát triển của sâu ở tuổi này dao động từ 2-3 ngày. + Ấu trùng tuổi 4: Biểu bì của sâu tuổi 4 bóng láng và sẫm màu hơn các giai đoạn từ tuổi 1 đến tuổi 3, có một sọc đen chạy dọc mặt lưng của sâu. + Ấu trùng tuổi 5: Mặt lưng màu xanh lá hoặc hồng, dưới bụng màu vàng. Các sọc chạy dọc cơ thể sâu hiện ra rất rõ. Cuối tuổi 5, sâu co rút lại, không ăn, không hoạt động và chuôi xuống đất để hóa nhộng. - Giai đoạn nhộng + Sâu làm nhộng trong đất. Nhộng có màu vàng nâu, thời gian phát triển của nhộng dao động từ 6-7 ngày. - Giai đoạn thành trùng + Ngài sâu xanh da láng, màu trắng xám, chiều dài thân từ 7-10 mm, sải cánh rộng từ 20-25 mm. Đầu màu xám, mang nhiều lông. + Cánh trước màu xám hơi ngả nâu, thon dài, hình tam giác, góc cánh hơi bầu, có nhiều vân. Cánh sau là cánh màng, màu xám trắng, càng ra cạnh ngoài cánh các gân có màu đậm, kế đó là một đường viền màu nâu đậm, ngoài cùng là rìa lông trắng. + Thời gian sống của ngài từ 5-10 ngày và một ngài cái có thể đẻ từ 300-400 trứng trong vòng từ 3-5 ngày. 2. TẬP QUÁN GÂY HẠI - Sâu mới nở sống tập trung xung quanh ổ trứng, sâu gây hại mạnh vào ban đêm, ban ngày khi nắng nóng thường chui xuống đất. - Sâu gây hại bằng cách ăn phần diệp lục của lá, chừa lại lớp biểu bì trắng. Cuối tuổi 1 trở về sau sâu phân tán sang các lá lân cận, ăn phần thịt lá còn lại gân lá, khi mật số cao sâu ăn trụi cả lá, cuống và trái non. - Sâu có tập quán nhả tơ buông mình xuống đất khi bị động.                  - Trên cây hành lá và hành củ: Ngài đẻ trứng bên ngoài cọng hành, sâu nở ra và chui vào bên trong ăn phần nhu mô lá, làm lá mất chất diệp lục, giảm khả năng quang hợp làm bụi hành còi cọc, lá bị cạp thũng chỗ chỗ, gãy gập đứt ngọn. Sâu thải phân bên trong ống hành. Trường hợp mật số cao sâu ăn trụi hết lá, không còn lá để bó khi thu hoạch, sâu còn gây hại cả củ làm mất giá trị thương phẩm. - Trên đậu nành và đậu xanh: Sâu gây hại từ khi cây đậu còn nhỏ đến khi trổ hoa, tượng trái. Sâu có thể ăn trụi cả lá, đọt non, hoa và trái non. - Trên cây ớt: Sâu ăn phá đọt non, ăn lủng lá, hoa và trái. Trên trái ớt sâu thường ăn ở phần đầu trái nới tiếp giáp với đài hoa hay đục lổ ở giữa trái, trái bị sâu ăn thường thối và rụng sớm. 3. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Biện pháp canh tác + Thăm đồng thường xuyên, phát hiện sớm ổ trứng và ngắt bỏ. Bắt sâu non bằng tay khi sâu còn nhỏ sống tập trung. + Luân canh với lúa nước để diệt nhộng sâu trong đất. + Cày ải diệt sâu, nhộng. Trồng mật độ thích hợp, tránh quá dày. + Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch, dọn sạch tàn dư thực vật. + Bón phân cân đối, tránh thừa phân đạm cây quá xanh tốt dễ bị sâu tấn công. - Biện pháp sinh học         Sử dụng các chế phẩm nấm xanh Metarhizium anisopliae, nấm trắng Beauveria bassiana, Bacillus thuringiensis var. phun để tạo sự đối kháng tiêu diệt sâu… Các loại chế phẩm này nên phun thuốc vào các buổi chiều mát, không được phối trộn chung với thuốc hóa học. - Biện pháp hóa học + Khi mật độ sâu xuất hiện nhiều, gây hại rộng thì phải sử dụng thuốc hoá học đặc trị có một trong các hoạt chất như Abamectin (Rồng Việt, VoiDuc, Penalduc, B52 Duc,…), Emamectin, Thiosultap - sodium,… . * Lưu ý: Thời gian thích hợp nhất để phun thuốc là vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối, khi đó sâu chui lên phá hại cây trồng nên dễ tiếp xúc với thuốc hơn. Thời điểm phát hiện thấy sâu non mới nở hoặc còn nhỏ sống tập trung thì nên tiến hành phun thuốc luôn. Do sâu có tính kháng thuốc mạnh nên cần phải áp dụng phun luân phiên thuốc có các hoạt chất khác nhau như trên để đạt hiệu quả cao. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Rầy phấn trắng Bọ dưa Sâu ăn tạp  
Sâu khoang, sâu ăn tạp, sâu keo
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Sâu khoang, sâu ăn tạp, sâu keo
SÂU KHOANG, SÂU ĂN TẠP, SÂU KEO      Sâu khoang (còn được gọi là sâu ăn tạp, sâu keo) gây hại trên tất cả các loại rau, là đối tượng gây hại nặng trên cây rau muống. Sâu non tuổi nhỏ thường gây hại nghiêm trọng nhất bởi hàng trăm con sâu non tập trung lại ăn lá cây và nhanh chóng làm lá cây xơ xác. Sâu non có thể gặm vỏ quả làm giảm phẩm chất. Tên Khoa học: Spodoptera litura Họ: Noctuidae Bộ: Lepidoptera 1. VÒNG ĐỜI 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - Trứng + Hình bán cầu, đường kính 0,4-0,5 mm. Trứng được đẻ thành ổ trên lá và được bao phủ một lớp lông màu trắng bảo vệ. + Trứng mới đẻ có màu trắng hơi ngã vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm. + Trứng nở trong khoảng 4 ngày ở điều kiện ấm áp, hoặc lên đến 11-12 ngày vào mùa đông. - Ấu trùng + Sâu non mới nở có màu xanh sáng, sống tập trung và phân tán khi lớn. Sâu tuổi lớn có màu từ xám xanh đến nâu đen với những sọc vàng sáng ở hai bên hông chạy từ đốt thứ nhất của bụng đến đốt cuối. Dọc theo đường ấy có những điểm hình bán nguyệt. Từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám của bụng mỗi đốt có 1 chấm đen rõ, đây là điểm đặc biệt của loài sâu này để phân biệt với các loài sâu khác cùng giống, trong số đó 2 chấm đen ở đốt thứ nhất to nhất và càng lớn 2 chấm này gần như giao nhau thành một khoang đen trên lưng nên sâu này còn có tên là “Sâu Khoang”. Sâu lớn đủ sức dài khoảng 35-53 mm, hình ống tròn. + Khi sắp hóa nhộng, sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó để hóa nhộng bên trong. + Sâu ăn rất mạnh, ấu trùng tuổi 1 đến tuổi 3 ăn theo nhóm trên lá, thường chừa lại lớp mỏng lá. Ấu trùng tuổi 4 đến tuổi 6 sống phân tán, dành cả ngày trốn trong đất, chỉ lên ăn vào ban đêm và sáng sớm. Không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành, trái non. - Nhộng Nhộng dài từ 18-20 mm, màu nâu hoặc nâu tối. Cuối bụng có một đôi gai ngắn, thời gian nhộng từ 7-10 ngày. - Thành trùng + Ngài có chiều dài thân từ 20-25 mm, sải cánh rộng từ 35-45 mm. Cánh trước màu nâu vàng. Phần giữa từ cạnh trước cánh đến cạnh sau cánh có một vân ngang rộng, màu trắng. Trong đường vân trắng này có 2 đường vân màu nâu. Cánh sau màu trắng óng ánh. + Ngài thường vũ hóa vào buổi chiều tối và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày ngài đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ. Ngài hoạt động từ tối đến nữa đêm. Ngài bay rất mạnh, có khi bay xa đến vài chục mét và bay cao đến 6-7 m. + Sau khi vũ hóa vài giờ ngài có thể bắt cặp và một ngày sau đẻ trứng. Con cái đẻ 100-300 trứng ở mặt dưới lá của cây ký chủ, thành trùng cái gặp điều kiện thuận lợi có thể đẻ 1000-2000 trứng. 3. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ - Tiến hành cài bừa, phơi ải kỹ đất trước khi trồng rau, kết hợp làm cỏ xung quanh bờ ruộng để tiêu diệt chỗ ẩn náo của thành trùng. Có thể cho ruộng ngập nước 2-3 ngày để diệt nhộng. - Phát hiện và tiêu diệt ổ trứng sâu. Phun thuốc khi sâu còn nhỏ để tiêu diệt sâu hiệu quả nhất. - Sử dụng luân phiên nhiều loại thuốc để tránh làm sâu kháng thuốc. Nên phun thuốc bảo vệ cây con khi vừa xuống giống, tránh thất thoát cây giống.  Các sản phẩm trừ sâu, rầy Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Bọ dưa Quản lý sâu hại trên cây ớt Rầy phấn trắng    
Rầy phấn trắng
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Rầy phấn trắng
RẦY PHẤN TRẮNG - Tên khoa học: Bemisia tabaci - Rầy phấn trắng gây hại trên dưa bầu bí, ớt, cà chua và nhiều cây trồng khác. 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - Vòng đời rầy phấn trắng trung bình 15-30 ngày. Tùy theo điều kiện nhiệt độ môi trường. Vòng đời rầy phấn trắng - Trứng rầy phấn trắng rất nhỏ, hình bầu dục, có cuống dài khoảng 0,18-0,2 mm, trứng mới đẻ màu trắng trong, những ngày sau chuyển sang màu nâu nhạt rồi thành nâu xám. Trứng rầy phấn trắng - Ấu trùng tuổi 1 non màu nhạt, hình ovan dài khoảng 0,7-0,9 mm, chiều rộng 0,5-0,6 mm. Khi mới nở có chân bò dưới mặt lá tìm được chỗ sống thích hợp rồi ở cố định một chỗ ở mặt dưới lá. Ấu trùng rầy phấn trắng - Nhộng giả hình bầu dục, màu trắng, miệng thoái hóa, râu và chân hơi ngắn. Cả hai mặt của nhộng ở giai đoạn đầu đều có điểm màu cam và sẽ biến mất khi sắp vũ hóa, xác nhộng màu trắng, không có các tua sáp xung quanh nhộng nhưng có lông 2 bên sườn. - Rầy trưởng thành có kích thước nhỏ, trên cơ thể phủ một lớp phấn bằng sáp. Cơ thể thành trùng có màu trắng nhạt hay vàng nhạt, chân dài và mảnh. Con đực dài khoảng 1mm, cánh trải rộng khoảng 1,5 mm, con cái dài khoảng 1,4 mm, cánh trải rộng khoảng 2mm. Khi đậu cánh xếp lại phía sau bụng như mái lều che cơ thể. 2. ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI - Rầy phấn trắng tập trung gây hại ở mặt dưới lá, thường hoạt động vào sáng sớm hoặc chiều mát. - Gây hại trực tiếp: cả thành trùng và ấu trùng sử dụng kim để chích hút nhựa lá, làm cho lá rụng. Tuy nhiên, việc gây hại trực tiếp, ngay cả khi mật số cao vẫn không gây chết cây. Rầy phấn trắng gây hại trên cây lúa - Gây hại gián tiếp: Do sự bài tiết chất mật ngọt và lớp sáp trắng tạo môi trường thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển làm đen bề mặt lá, giảm khả năng quang hợp và giá trị thương phẩm của sản phẩm. - Truyền bệnh virus: Rầy chích hút ở cây bị khảm, do virus sau đó bay sang chích hút ở cây khỏe thì sẽ truyền virus qua cây làm cho cây bị bệnh khảm với các triệu chứng như: chùn đọt, ngừng sinh trưởng, cây yếu, thất thu năng suất trầm trọng. Cà chua bị virus 3. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Thường xuyên quan sát mặt dưới lá xem có rầy phấn trắng đang gây hại, do khi mật số ít thì cây không biểu hiện triệu chứng. - Sử dụng các loại thuốc như: Rồng Việt, Penalduc 145EC, Super King 500SL, Voiduc, …. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Quản lý sâu hại trên cây ớt Đặc điểm gây hại của Bọ dưa    
Côn trùng hại cam, quýt
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Côn trùng hại cam, quýt
CÔN TRÙNG HẠI CÂY CÓ MÚI (CAM, CHANH, QUÝT, BƯỞI) 1. SÂU VẼ BÙA (Phyllocnistis citrella stainton) Sâu vẽ bùa Thành trùng của sâu vẽ bùa - Hầu như trong vườn cây có múi nào ở ĐBSCL cũng có sự hiện diện của sâu vẽ bùa. - Sâu gây hại tập trung ở các vườn ươm và các vườn cây tơ ở giai đoạn lá non, lá bị biến dạng, khô và rụng đi. - Sâu non dài 3,5 – 4 mm màu xanh lợt phá hại lá bằng cách đào những đường ngoằn nghèo, ăn lớp biểu bì của lá, làm lá biến dạng, mặt trên lá bị khô đi, lá bị rụng. Trứng dẹp được đẻ trên lá, làm nhộng trong những đường hầm ở lá. - Thường sâu chỉ tấn công ở lá non, cành non. Vào thời điểm lá ra đọt non là thời kỳ sâu vẽ bùa tấn công mạnh nhất. * Phòng trị - Phun vào giai đoạn cây bắt đầu ra lá mới - Sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng việt, B52 Duc, Penalduc 145EC kết hợp với dầu khoáng để tăng hiệu lực phòng trị. 2. RẦY MỀM Rầy mềm - Có 2 loại Toxoptera citricidus da màu xanh và Toxoptera aurantii màu đen. - Có kích thước rất nhỏ, thường tập trung ở mặt dưới lá, tấn công phần non của cây để hút nhựa của lá non và cành non, làm giảm khả năng tăng trưởng của cây. Lá non bị cong và biến dạng. - Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh virus Tristeza lên cây cam quýt. - Một số rầy mềm có màu đen bóng, nhưng đa số có màu xanh lá cây và không có cánh. Ở vùng nhiệt đới thường là con cái, đẻ con, khi con còn nhỏ vẫn sinh sản được (sinh sản đơn tính), do đó mật số tăng rất nhanh. Rầy tiết ra mật hấp dẫn kiến, kiến mang đi khắp vườn và bảo vệ rầy. Mật do rầy tiết ra còn là môi trường tốt cho nấm bồ hóng phát triển, làm giảm quang hợp của lá. * Phòng trị Sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng việt, B52 Duc, Penalduc 145EC kết hợp với dầu khoáng để tăng hiệu lực phòng trị. 3. RẦY CHỔNG CÁNH Dấu hiệu nhận biết rầy chổng cánh Thành trùng rầy chổng cánh - Rầy chổng cánh xuất hiện khi cây có chồi non. Chúng tạo mật độ cao vào đầu mùa mưa là lúc cây ra đọt non và trổ hoa. Là loài côn trùng gây hại đặc biệt nghiêm trọng ở ĐBSCL. - Ấu trùng và thành trùng chích hút dinh dưỡng lá, đọt non làm phiến lá nhỏ và xoăn, đọt non lụi dần, sần sùi. - Chất thải của rầy thu hút nấm bồ hóng ảnh hưởng đến quang hợp. - Rầy chổng cánh là môi giới truyền bệnh vàng lá gân xanh do vi khuẩn Liberobacter asiatium gây ra (Greening). - Trứng màu vàng, hình quả lê, dài khoảng 0,3 mm, thường được đẻ thành từng chùm ở nách lá hoặc trên lá các chồi non. Ấu trùng rất nhỏ, hình bầu dục dẹp, mới nở thường có màu vàng tươi, có màu xanh lục ở tuổi 2, tuổi 3, màu nâu ở tuổi 4, tuổi 5. Thành trùng có kích thước rất nhỏ, thân dài 2,5 – 3,0 mm, màu nâu xám, cánh màu nâu vàng, chân màu xấm nâu. Khi đậu, phần bụng của thành trùng nhổng cao một góc 30o, nên gọi là rầy Chổng Cánh. * Phòng trị Sử dụng thuốc trừ sâu rầy như Chet 700, Penalduc 145EC. 4. RỆP SÁP Rệp sáp - Kích thước nhỏ, thân mềm phủ đầy phấn hoặc sáp trắng. - Chân ngắn ít di chuyển, gây hại trên bề mặt lá hay cành non bằng cách hút nhựa làm rụng lá. Rệp sáp phát triển nhiều trong những tháng khô và giảm trong mùa mưa. Rầy tiết ra mật hấp dẫn kiến và được kiến mang chúng đi nơi này sang nơi khác. Chất mật này thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển gây cản trở quang hợp của lá. * Phòng trị - Rệp sẽ rất dễ trị khi mất lớp sáp bảo vệ. Trước khi phun thuốc có thể sử dụng máy bơm nước tia mạnh vòi nước vào những chỗ có nhiều rệp tập trung để rửa trôi bớt rệp cũng như rửa trôi bớt lớp sáp bảo vệ bám trên mình rệp giúp thuốc dễ dàng tiếp xúc với rệp hơn. - Sau đó sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng việt, B52 Duc, Penalduc 145EC kết hợp với dầu khoáng. 5. RỆP DÍNH Rệp dính - Rệp dính có kích thước nhỏ hơn rệp sáp. Gồm 2 nhóm: có lớp vỏ cứng bao bọc và không có vỏ cứng bao bọc. - Rệp dính là tác nhân gây hại khá quan trọng trong các vườn cam quýt bằng cách hút nhựa làm rụng lá, nếu nặng làm chết cây con hay cành non, chồi không phát triển được bình thường. Rệp còn tấn công trên trái. Xuất hiện nhiều ở mùa khô, ẩm độ không khí cao. * Phòng trị: Tương tự như cách phòng trị rệp sáp   6. SÂU ĂN LÁ - Gồm nhiều loài như: - Loài Papilio polytes + Bướm có màu đen ở cuối cánh, con đực có chỗ lồi ra hình muỗng. Cánh trước màu đen, rìa cánh phía sau có những đốm nhỏ màu đỏ, trong có một chấm đen, giữa cánh sau có các đốm trắng, bốn đốm lớn và 1 đốm nhỏ. Ấu trùng màu xanh có những đốm xanh nhạt. Nếu bị động, ấu trùng sẽ tiết ra chất lỏng bốc hơi độc để tự vệ. - Loài Papilio alphenor + Bướm to với sải cánh dài 10cm, màu đen với những đốm trắng hình trứng to ở lưng con cái, còn trên lung cánh con đực có những đốm đỏ hình lưỡi liềm. Mỗi con đực có chỗ lồi ra hình muỗng ở cuối cánh. Trứng hình cầu lóng lánh, được đẻ từng trứng trên những lá non. Sâu non ăn lá non di chuyển đến lá già hơn khi lớn dần. Sâu non có màu xanh hồng nhạt và một vạch chéo màu nâu xanh lá cây nhạt ở phần ngực khi mới nở. Khi lớn chuyển dần sang màu xanh lá cây. Nhộng màu xanh treo lơ lửng tại các góc cành nhỏ bằng tơ vòng quanh ngực. - Loài Papilio rumanzovia + Có tập quán giống như P. polytes. Bướm có màu đen bóng với cánh trước màu trắng, có những đốm lưỡi liềm màu đỏ sáng gần mép lung cánh, sải cánh dài khoảng 14cm. + Thường sâu ăn lá phá hại nặng vào đầu hoặc cuối mùa mưa. * Phòng trị Sử dụng thuốc trừ sâu như Rồng việt, B52 Duc, Penalduc 145EC. 7. SÂU ĐỤC VỎ TRÁI - Sâu tấn công trên trái làm trái bị biến dạng với những chỗ sưng phồng, lồi lên trên vỏ, thường gặp ở các loại cam quýt vỏ dầy như ở bưởi. - Bướm có kích thước nhỏ màu trắng, với sải cánh rộng khoảng 8 mm. Sâu non màu xanh nhạt, đục lòn trong vỏ trái tạo những vết u sần phồng lên. Trứng được đẻ vào ban đêm trên vỏ trái non, sâu nở ra thì đào hầm ăn mô bên trong vỏ, khi phát triển đầy đủ thì rời khỏi trái. Trái có thể bị rụng nhiều khi bị tấn công nặng lúc nhỏ, còn ở giai đoạn sau thì sự nguy hại không đáng kể, làm cho hình dạng trái u sần, khó bán. * Phòng trị - Tỉa các trái đã bị hại. - Phun thuốc định kỳ mỗi tuần từ khi bắt đầu đậu trái. - Bao trái. 8. NGÀI CHÍCH HÚT TRÁI Đây là loại bướm đêm, thường phá hại vào ban đêm, dễ phát hiện nhờ có 2 mắt rất sáng à cánh lấp lánh. Thường phá hại trên trái chín bằng cách chích hút dịch trái. Trên trái bị hại có thể có nhiều lỗ đục. Trái bị chích hút dễ bị nhiễm bệnh và rụng đi. * Phòng trị: - Làm cỏ, vệ sinh vườn, nhặt bỏ trái rụng để bướm không có chỗ đẻ trứng. - Dùng vợt bắt giết thành trùng vào ban đêm. - Sử dụng các loại thuốc trừ sâu để phun, kết hợp làm bẫy. Thuốc trừ sâu, rầy Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Ruồi đục trái xoài Cách nhận biết bệnh vàng lá thối rễ và phương pháp phòng trị        
Muỗi hành
CÔN TRÙNG HẠI CÂY TRỒNG Muỗi hành
MUỖI HÀNH (SÂU NĂN) - Muỗi hành (sâu năn) gây hại và phát triển thành dịch ở nhiều nước trồng lúa ở Châu Á. Thất thoát năng suất do muỗi hành có thể đến 50%. + Tên khoa học: Orselia oryzae + Bộ: Diptera + Họ: Cecidomiidae 1. Đặc điểm hình thái - Trưởng thành là loại muỗi nhỏ, dài khoảng 3-5 mm, bụng màu hồng nhạt. - Trứng được đẻ rải rác từng quả, rất nhỏ, màu trắng, trước khi nở có màu vàng. - Ấu trùng giống như con dòi, mình dẹt, màu trắng sữa, dài 4-5 mm. - Nhộng màu hồng, dài 4-5 mm, nằm trong ống hành. 2. Đặc điểm sinh học - Vòng đời: 25-30 ngày - Trứng: 3-4 ngày - Sâu non: 15-18 ngày - Nhộng: 4-5 ngày - Trưởng thành: 2-3 ngày 3. Đặc điểm sinh thái và gây hại Muỗi hoạt động về đêm. Sức bay yếu nên thường phân bố thành khu vực. Trứng được đẻ riêng lẻ hoặc từng nhóm 3-4 cái ở phía dưới mặt lá, khu vực gần gốc lúa. Mỗi con muỗi cái đẻ từ 100-200 trứng. Trứng cần có ẩm độ cao (trên 80%) để phát triển và nở. Sâu năn phát triển thích hợp trong điều kiện tương đối ẩm, có mưa và trời ít nắng. Thường phát sinh cục bộ trên một cánh đồng hoặc một vùng hẹp do khả năng di chuyển yếu của muỗi. 4. Đặc điểm gây hại - Muỗi tấn công cây lúa từ giai đoạn mạ đến cuối đẻ nhánh. Ấu trùng mới nở có một thời gian ngắn khoảng 1-2 ngày sống trong nước, nếu không có nước trong vòng 24 giờ ấu trùng sẽ chết, sau đó chui qua bẹ lá đục vào đỉnh sinh trưởng của lúa để chích hút. Lúc này, ấu trùng đồng thời tiết ra một chất khiến bẹ của chiết lá non nhất mọc dài ra thành ống tròn màu xanh lá hơi nhạt, phần phiến lá cuộn thành mảnh nhỏ ở đầu ống, ấu trùng sống trong đó. Khoảng 1 tuần sau khi muỗi xâm nhập, ống lúa sẽ mọc dài ra và tròn giống như cọng hành (hoặc cọng năn). Lúc này, ấu trùng sắp hóa nhộng, chúng bò lên ngọn lá hành đục một lỗ nhỏ nằm chờ hóa muỗi chui ra ngoài để tiếp tục vòng đời gây hại cho lúa. Khi đã chui ra, chúng sẽ để lại vỏ nhộng dính trên ống hành.    - Những bẹ lá lúa đã bị sâu năn chích hút và biến dạng thành ống tuy không chết đi nhưng cũng không thể trổ bông được. Để bù lại, cây lúa sẽ đâm thêm nhiều chồi mới, những chồi mới này hầu như không có khả năng trổ bông. 5. Biên pháp phòng trừ - Vệ sinh đồng ruộng, gieo cấy thời vụ đồng loạt. - Bón đạm vừa phải, đúng lúc để lúa đẻ nhánh tập trung. Thay nước ruộng khi phát hiện trên ruộng có lúa bị hại. - Cần thăm đồng thường xuyên, phát hiện sớm muỗi hành để có biện pháp phòng trị kịp thời. - Phun thuốc phòng ngừa muỗi hành vào 3 giai đoạn: 7-10 ngày, 20-25 ngày, 35-40 ngày sau sạ. Sử dụng thuốc có tác động lưu dẫn mạnh như: Penalduc 145EC, Chet 585WG/ Chet 555WG vừa phòng trừ muỗi hành vừa ngừa được rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân, nhện gié. Thuốc trừ sâu rầy * Cần chủ động phun ngừa muỗi hành. Tránh trường hợp muỗi hành phát triển thành dịch, khi đó việc quản lý muỗi hành vô cùng khó khăn và kém hiệu quả. Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Nhên gié hại lúa Sâu cuốn lá nhỏ hại lúa Rầy lưng trắng hại lúa Rầy nâu hại lúa    
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA