CÂY ĂN TRÁI

Cách xử lý cây Na ra quả trong thân
CÂY ĂN TRÁI Cách xử lý cây Na ra quả trong thân
CÁCH XỬ LÝ CÂY NA RA QUẢ TRONG THÂN       Trong quá trình chăm sóc cây Na có rất nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất và chất lượng quả như: tỉa cành tuốt lá, thụ phấn bổ sung kết hợp chăm sóc bón phân hợp lý. Song song đó, kỹ thuật xử lý cho Na ra quả trong thân đang được nhiều nhà vườn áp dụng, bình thường những cây ra quả đầu cành khoảng 125 - 130 ngày cho thu hoạch thì những quả xử lý ra quả trong thân chỉ khoảng 90 - 95 ngày đã cho thu hoạch. Áp dụng kỹ thuật này cũng đã tăng tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng mỗi quả na lên 300 - 400g  (so với trước đây 200g). Quả Na dai to, đẹp hơn, để được lâu hơn khi quả đã chín khoảng 5 – 7 ngày. QUY TRÌNH XỬ LÝ CÂY NA RA QUẢ TRONG THÂN - Bước 1: Tạo mầm chồi trong thân + Việc này được tiến hành sau khi thu hoạch cắt tỉa hết các cành, thu gọn tán cây Na. Thời điểm đốn cành vào khoảng tháng 9-10 dương lịch hàng năm. Tạo mầm chồi trong thân + Càng thu gọn tán thì tỷ lệ bật mầm trong thân càng nhiều. Sau khi cắt tỉa tán cây xong tiến hành thu dọn tàn dư trong vườn sạch và phun thuốc trừ nấm bệnh lên thân cây để giúp các mắt trên thân sạch bệnh, tạo điều kiện cho mắt bật chồi khỏe. - Bước 2: Tỉa cành mầm chồi trong thân + Thời gian trung tuần tháng 9 -10 dương lịch. Thời tiết thu, không mưa, khi cây Na bắt đầu vàng lá và rụng đi thì đây là thời điểm thích hợp nhất để tiến hành tỉa hết cành tăm, cành sâu bệnh và bấm cành trong thân. + Tất cả cành tăm, cành sâu bệnh, cành nhỏ được cắt tỉa hết tạo độ thông thoáng cho cây Na. Những cành có sức sống thì để lại để xử lý quả trong thân. Lưu ý, chia đều khoảng cách giữa các cành trong thân để khi xử lý ra quả, để khoảng cách quả trong thân đều. Tỉa các cành tăm, cành sâu bệnh - Bước 3: Bấm cành vượt và các cành trong thân xử lý ra chồi mang hoa + Thời điểm trước tết 10 ngày hoặc tết âm lịch xong. + Tiến hành bấm các cành sát với thân càng ngắn càng tốt. Khoảng cách để lại sát cành tầm 1cm. Bấm cành trong thân còn khoảng 1cm + Trường hợp muốn rãi vụ thì có thể tiến hành lựa chọn quả chính. Sau đó khi quả phát triển có kích thước bằng cái chén thì tiến hành bấm cành bên để tạo mầm chồi mới mang hoa, Xử lý thụ phấn để tạo quả vụ sau. Mầm trong thân mang hoa * Lưu ý: Việc tỉa hoa, thụ phấn, đậu quả cần thực hiện sao cho số lượng quả để lại phù hợp với sức sống của cây. Tránh tình trạng để cây mang nhiều quả. Nếu để nhiều quả thì cây dễ bị suy kiệt, thậm chí vụ sau cây không thể ra hoa đậu quả. Cần cung cấp dinh dưỡng cho cây kịp thời giúp cây nuôi quả. Công ty cổ phần BVTV Delta Nguồn: Cẩm nang cây trồng - Hoa quả sạch Hữu Lũng Bài viết liên quan Cách tỉa cành - tạo tán cho cây Na Đặc điểm thực vật Cây Na    
Cách tỉa cành - tạo tán cho Cây Na
Cây Na Cách tỉa cành - tạo tán cho Cây Na
CÁCH TỈA CÀNH - TẠO TÁN CHO CÂY NA 1. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC TỈA CÀNH - TẠO TÁN - Cây Na trồng sau 3 năm cho quả, năm thứ 4, thứ 5 trở đi quả ngày một nhiều. Nếu được chăm tốt năng suất ngày càng cao và sẽ kéo dài được thời gian cho quả. Cùng với việc bón phân tưới nước đầy đủ, cắt tỉa cành là biện pháp kỹ thuật để góp phần khắc phục hiện tượng chóng tàn của cây: Làm cho cây khỏe, trẻ, hạn chế sâu, bệnh hại, sai quả, quả to và phẩm chất thơm ngon, cây không cao dễ chăm sóc thu hoạch. Do đặc điểm của cây Na là sau khi rụng lá, gặp mưa hoặc tưới nước cành sẽ ra lá mới đồng thời kèm theo nụ hoa. Đặc biệt là các cành mọc trong thân sẽ cho trái to và nhanh thu hoach. Tỉa cành kết hợp tuốt lá là một trong những biện pháp điều khiển cho cây Na ra hoa trái vụ, rải vụ thu hoạch (Na gối). 2. CÁCH TỈA CÀNH TẠO TÁN - Cây Na là cây có cành đa cấp, chúng nên được tạo tán để có dáng thích hợp như tán hình phễu, hình nón ngược. Người trồng sẽ có lợi nếu làm theo hệ thống này dễ dàng chăm sóc cây kể cả phun thuốc và thu hái quả, các cây trẻ cho tán mọc nhanh và ra quả sớm. + Chon 3 - 4 cành khỏe, thẳng mọc từ thân chính và phát triển theo 3 - 4 hướng tương đối đồng đều nhau làm cành cấp 1. Cành cấp 1 cùng với thân chính tạo thành 1 góc 35 - 40o. Từ cành cấp 1 sẽ phát triển các cành cấp 2 và chỉ giữ lại 2 - 3 cành. + Cành cấp 2 phải để cách thân chính 15 - 30 cm và cành này cách cành khác 20 - 25 cm và cùng cành cấp 1 tạo thành một góc 30 - 35o. Từ cành cấp 2 sẽ hình thành những cành cấp 3. + Cành cấp 3 không hạn chế về số lượng và chiều dài nhưng cần loại bỏ các chỗ cành mọc quá dày hoặc quá yếu. Sau 3 năm cây sẽ có bộ tán, thuận lợi trong chăm sóc, phòng ngừa sâu bệnh và thu hoạch.           Tỉa cành - tạo tán cho Cây Na 3. TỈA CÀNH SAU THU HOẠCH Trong kỹ thuật đốn (tỉa), có “kỹ thuật đốn phớt”, “kỹ thuật đốn lửng”, “kỹ thuật đốn đau”. - Đốn phớt: Với những cây đang thời kỳ sung sức nhưng phát triển quá rậm, ít quả thì cắt bỏ toàn bộ những cành nhỏ mọc trong tán, chừa lại những cành to bằng ngón tay út trở lên và trên những cành ấy cắt bỏ tất cả ngọn ở nơi tiếp giáp giữa cành bánh tẻ và cành non. Sau khi cắt, ta có một bộ tán trụi lá toàn cành hữu hiệu, sẵn sang đâm chồi mới và ra hoa. * Tỉa cành: Hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những đoạn cành sau đây:  + Cành đã mang quả (thường rất ngắn khoảng 10 - 15cm). + Cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu (cành tăm), cành nằm bên trong tán không có khả năng mang quả.  + Cành đan chéo nhau, những cành vượt trong thời gian cây đang mang quả nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng với quả. - Đốn lửng: Khi cây có chiều cao quá tầm hái, mật độ cành trên tán quá dầy cành và cho quả nhỏ, năng suất giảm thì đốn lửng. Dùng dao hoặc kéo để đốn, tạo mặt tán chè bằng. - Đốn đau: những cây được đốn lửng nhiều lần, cây phát triển kém, năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 - 45 cm nhằm tạo một bộ khung tán mới cho cây Na. ** Lưu ý: Dùng dao, kéo sắc để tạo vết cắt gọn, tránh làm xước cành sẽ làm ảnh hưởng đến cấc mầm phía dưới vừa dễ nhiễm bệnh. Vết cắt, đốn vát 45o. - Sau khi cắt tỉa cành xong dùng dung dịch Bordeaux (booc đô) 3% hoặc các thuốc có hoạt chất Mancozeb bôi lên vết cắt vừa để hạn chế cây bốc hơi nước, vừa để chống nhiễm khuẩn cho cây nhanh liền sẹo. - Ngay sau khi tạo tán xong bón 25 kg phân hữu cơ + 1 - 2 kg NPK 16-16-8 + 0,4 kg vôi/cây hoặc 25 kg phân hữu cơ + 1,5 kg đạm urea + 0,8 kg super lân + 0,7 kg KCl/cây. Cuốc xới đất, vùi đất kỹ, tủ hốc, tưới nước giữ ẩm cho cây để chuẩn bị phân hóa mầm hoa và ra hoa tốt. - Sau khi cắt tỉa 10 ngày, trên mỗi cành sẽ mọc ra nhiều chồi, nên tỉa bớt chỉ chừa lại 4 - 6 chồi khỏe mạnh được phân đều về các hướng.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Đặc điểm thực vật của Cây Na
Cây Na
CÂY ĂN TRÁI Cây Na
CÂY NA (Sugar Apple) 1. PHÂN LOẠI, NGUỒN GỐC - Cây Na có tên khoa học: Annona squamosa thuộc chi Annona, loài Annonasceae. Chi Annona xuất phát từ chữ Latin “anon” – “sản xuất hàng năm” do thuộc tính cho quả hàng năm của các loài khác nhau trong chi này. - Na còn có tên thường gọi khác là Mãng cầu ta, Mãng cầu dai, Sa Lê, Phan Lệ Chi. - Cây Na được xác định có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới. Kể từ thế kỷ 16, cây Na đã được nhập vào nhiều nước nhiệt đới. Do tính thích nghi rộng nên Na được trồng phổ biến ở các vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. - Na được nhập vào nước ta từ lâu và được trồng khắp cả nước chỉ trừ một vài vùng có nhiệt độ xuống quá thấp vào mùa đông. Na sinh trưởng thuận lợi ở nhiệt độ trung bình hàng năm 25 - 30oC, lượng mưa trung bình khoảng 1000mm/năm. Na là cây có tính thích nghi rất rộng. Na chịu được đất xấu, đất trồng đồi trọc, đất chua mặn, chịu hạn tốt nhưng không chịu úng ngập, độ pH thích hợp 5,5 - 6,5. 2. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT - Có hàng chục loại Mãng cầu có quả ăn được nhưng trên thế giới có 2 loài được trồng phổ biến nhất đó là Na (Annona squamosa) và Mãng cầu xiêm (Annona muricata). - Cây Na là cây thân gỗ thường rụng lá vào mùa đông, cao từ 5 - 10 m, phân cành thường tạo thành hình nón. Hệ thống rễ ăn sâu và có thể lan rộng hơn đường kính tán. Lúc cây còn nhỏ có tồn tại rễ cọc tuy nhiên rễ sau đó bị tiêu biến. - Lá đơn, hình elip, có mùi hăng. - Hoa lưỡng tính, đài dưới màu trắng xanh hoặc vàng xanh gồm 2 vòng xoắn 3 cánh ngoài lớn hơn. - Quả hình trứng là quả phức do nhiều nhụy hoa sau khi thụ phấn thụ tinh kết hợp lại, quả nhiều thịt màu trắng, hạt màu đen bóng, mỗi quả có nhiều hạt. Trong hạt Na có chất độc. - Cây Na có thể được nhân giống vô tính, đặc biệt thông qua các kỹ thuật ghép. Tuy nhiên Na thường được nhân giống hữu tính bằng hạt. Việc nhân giống bằng hạt vừa tạo được sự đồng đều của cây con, hệ số nhân cao. Hạt giống có thể gieo trực tiếp vào các hố trồng hoặc trong vườn ươm. Sau 20-30 ngày hạt nảy mầm đạt 85-90% và 6-8 tháng sau cây có thể được đem vào hố trồng. Cây na sau 3 năm cho quả, năm thứ 4, thứ 5 trở đi quả ngày một nhiều. - Quả na ngon, ngọt, có mùi thơm thanh khiết nên được nhiều người ưa thích. Quả na nặng khoảng 130g - 370g, số hạt 1 quả từ 14 - 66 hạt, phần ăn được từ 34,4% - 60,6%, độ chua từ 0,2% đến 0,8%, lượng đường chiếm khoảng 68% của tổng chất rắn. Quả Na còn chứa nhiều vitamin nhóm B (0,07mg/100g) và C (20mg/100g), một lượng nhỏ canxi và phốt pho. Ở CuBa còn có giống na không hạt nhưng quả hơi nhỏ. Trồng na chủ yếu để lấy quả ăn tươi, ngoài ra ở một số nước, quả na được chế thành mứt, nước giải khát, hoặc thuốc chữa bệnh. - Các bộ phận khác của cây cũng có thể được sử dụng vào việc hữu ích, như bột tán lá cây na có thể dụng diệt chấy rận. Các lá cũng có thể được nghiền ra chữa ap-xe, chữa chứng bụng khó tiêu, ghẻ và bệnh ngoài da,…   Công ty cổ phần BVTV Delta
Kỹ thuật trồng khóm
CÂY ĂN TRÁI Kỹ thuật trồng khóm
KỸ THUẬT TRỒNG KHÓM Ananas comosus (L.) Merr. 1. THỜI VỤ Ở miền Nam, thời điểm trồng tốt nhất vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 6). 2. CHUẨN BỊ ĐẤT - Làm đất + Cây khóm có thể trồng trên đất đồi núi hay ở vùng đồng bằng. Ở mỗi địa hình có chế độ canh tác riêng. + Ở vùng cao, trước khi trồng nên tiến hành cày sâu 25 – 30 cm rồi san bằng mặt. + Đất ĐBSCL, khóm thường được trồng trên líp nhằm mục đích nâng cao tầng canh tác, tránh ngập nước. Thiết kế líp rộng từ 4 - 6 m. Mương rộng khoảng ½ chiều rộng líp, sâu từ 1 – 1,2 m. Líp khóm ở ĐBSCL - Diệt cỏ + Cỏ dại là một trở ngạy lớn vì việc làm cỏ thường gặp nhiều khó khăn trong các ruộng khóm. Do đó, cần diệt sạch cỏ trước khi trồng. Có thể sử dụng thuốc BVTV để diệt cỏ và hoàn thành trước khi trồng 15 ngày. - Bón lót + Trước khi trồng 3-4 ngày tiến hành bón toàn bộ phân hữu cơ,  phân lân, ¼ phân đạm và ¼ phân kali. Trộn phân rải đều trên mặt líp rồi cày chôn vào đất hoặc bón theo các hốc trồng. 3. CHUẨN BỊ GIỐNG TRỒNG - Giống trồng - Có 4 nhóm chính: + Nhóm Cayenne: được trồng phổ biến trên thế giới, với đặc điểm lá gần như không có gai, trái có dạng hình trụ, mắt dẹp, cạn, lỏi trung bình, trong lượng trung bình 2,5 kg, vị ngọt hơi chua, ít xơ. Rất phù hợp cho chế biến đóng hộp. + Nhóm Queen: Được trồng chủ yếu ở nước ta hiện nay, dùng để ăn tươi. Với đặc điểm: lá đầy gai, chồi nhỏ, gồm nhiều chồi cuống. Trái có hình nón, mắt khóm sâu, trọng lượng trung bình 1 kg, có lỏi nhỏ, vị ngọt, ít chua, ít xơ, xơ ngắn. + Nhóm Spanish (Tây Ban Nha): Dùng để ăn tươi rất tốt. Lá dài, hẹp, có gai. Chồi cho nhiều chồi cuống. Dạng trái hơi tròn (trụ bầu), mắt rộng và dẹp. Trong lượng trái trung bình 1,2 – 1,5 kg, lỏi rất lớn. Vị ngọt, hơi có vị cay chua, nhiều xơ. + Nhóm Abacaxi: Ít phổ biến, còn gọi là Brazilian, dùng để ăn tươi. Lá đầy gai, nhiều chồi cuống. Trái có dạng hình tháp, trọng lượng trái trung bình 1,5 kg. Lỏi nhỏ, vị ngọt mềm nhiều nước. - Tiêu chuẩn giống + Chọn chồi giống từ những cây mẹ tốt, không sâu bệnh (nhất là bệnh héo khô đầu lá). + Giống phổ biến là giống Queen, dùng chồi ngọn và chồi nách để nhân giống, ngày nay có thể nhân giống bằng phương pháp nuôi cây mô có thể đáp ứng theo yêu cầu của nhà vườn. Cây khóm con nuôi cấy mô + Chồi đem trồng phải mập, khỏe, xanh đậm, phiến lá rộng, dày, không sâu bệnh, chiều dài chồi  không ngắn hơn 20 cm. - Xử lý chồi + Để ngừa bệnh thối gốc cây con có thể nhúng chồi trong dung dịch Bio Rosamil 72WG pha 1 gói cho 25 lít nước. Sau đó đem trồng. 4. MẬT ĐỘ TRỒNG - Đối với giống Queen: Khoảng cách cây trên hàng từ 30-40 cm, khoảng cách giữa 2 hàng con từ 40-60 cm, khoảng cách giữa 2 hàng kép từ 60-90 cm - Đối với giống Cayenne: khoảng cách trồng thưa hơn: Khoảng cách cây trên hàng từ 40-60 cm, khoảng cách giữa 2 hàng con từ 60-80 cm, khoảng cách giữa 2 hàng kép từ 90-120 cm. - Kiểu trồng: Tùy theo chiều rộng líp mà bố trí thích hợp. Thường khóm được trồng theo hàng kép: kép 2, kép 3,… theo hình vuông, nanh sấu. 5. CÁCH TRỒNG -Trồng cây thẳng hàng, đều nhau để có thể cơ giới hóa khi chăm sóc. Trước khi đặt chồi cần bóc bỏ một một vài lá già ở gốc chồi để rễ dễ mọc ra, nếu chồi quá dài có thể cắt bớt lá. Dùng chét (hay dao nhỏ), đào lỗ sâu 7 – 10 cm, rộng 5 – 7 cm, trồng cây sâu khoảng 5-7cm, ém chặt đất vào gốc chồi giúp cây đứng vững, sau đó tưới đẫm nước. Vài ngày sau khi trồng chú ý sửa lại các cây bị ngã do mưa hay tưới. 6. CHĂM SÓC * Trồng dặm + Sau khi trồng 15-20 ngày, tiến hành trồng dặm ở nơi cây chết bằng cây tốt khác để cây phát triển đồng đều. * Bón phân - Bón lót: bón trước khi trồng 3 - 4 ngày, Phân chuồng hoai: 10 tấn/ha, toàn bộ phân lân, ¼ phân đạm và ¼ phân kali. Trộn phân rải đều trên mặt líp rồi cày chôn vào đất hoặc bón theo các hốc trồng. + Lượng phân sử dụng cho 1 ha dứa (thơm), Đạm Urea: 120 - 140kg/ha, Supe lân: 180 - 220 kg/ha, kali sulphate (K2SO4) 170 - 190kg/ha (chỉ nên dùng kali sulphate, không nên dùng kali clorua). Bón ở các giai đoạn: - Bón (tưới) thúc lần 1: 2 - 3 tháng sau khi trồng (khi dứa (thơm) bén rễ) - lưu ý: không dùng Kali Clorua  + Đạm Urea: 130 - 150kg/ha  + Kali sunphat (K2SO4): 60 - 100kg/ha + Kết hợp tưới Bio one liều lượng 50ml/ 25 lít nước kích thích ra rễ nhanh. Phân bón vi lượng: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon - Bón (tưới) thúc lần 2: 5 - 6 tháng sau khi trồng, + Đạm Urea: 200 - 250kg/ha                 + Kali sunphat (K2SO4): 60 - 100kg/ha - Bón (tưới) lần 3: trước khi xử lý ra hoa 2 tháng bón như lần 1. + Đạm Urea: 130 - 150kg/ha  + Kali sunphat (K2SO4): 120 - 160kg/ha  + Có thể phun bổ sung công thức 50gr hỗn hợp N-P-K-MgO theo tỷ lệ 10 - 0 - 0 - 16 MgO + 10gr NaCaB5O9 + 10gr Ca(NO3)2 trong bình phun 8 lít nước, 1 tháng phun một lần. Ngừng phun cho cây trước khi hoa nở. - Không nên bón đạm (N) sau khi cây đã có quả. - Có thể bổ sung phân vi lượng Dưỡng trái khóm, giúp trái to đẹp màu tăng năng suất và chất lượng trái. 7. XỬ LÝ RA HOA - Ở ĐBSCL hiện nay, việc kích thích khóm ra hoa trái vụ được áp dụng phổ biến bằng CaC2 (khí đá, đất đèn). - Yêu cầu xử lý gồm có: + Thời gian sinh trưởng từ 8-10 tháng sau khi trồng bằng chồi thân, từ 12 tháng tuổi sau khi trồng bằng bằng chồi cuống. + Nồng độ CaC2: 2,5 – 5 g pha trong 1 lít nước (nước lạnh càng tốt để tránh bốc hơi Acethylene), xử lý cho 20 cây, xử lý lúc trời mát. + Cách xử lý: Rót hỗn hợp khí đá đã pha vào noãn cây (50ml/ cây). Bình chứ nên đậy kín để tránh bốc hơi (không sử dụng bình bằng đồng để chứa vì dễ gây nổ). Sau khi xử lý 15 phút thì hữu hiệu dù trời có mưa. + Ở nhóm Queen, sau khi xử lý khoảng 30-40 ngày thì cây ra hoa, khoảng 4 tháng 15 ngày sau khi xử lý thì thu hoạch. Nhóm Cayenne có thời gian ra hoa trễ hơn, trung bình là 50-60 ngày. Hoa khóm 8. THU HOẠCH - Nếu thu hoạch xuất khẩu tươi thì cần thu lúc trái già tối đa, ruột không còn nhớt, vỏ trái có màu xanh trong, mắt trái nở rộng (ở nhóm Queen là 4 tháng 15 ngày sau khi xử lý ra hoa). - Nếu thu hoạch trái để tiêu thụ tươi tại chỗ thì hái khi 1/3 trái chuyển màu vàng.   Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài: https://congtydelta.com/bai-viet/76/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-xoai Kỹ thuật trồng mít thái: https://congtydelta.com/bai-viet/70/ky-thuat-trong-mit-thai  
Nguyên nhân gây hiện tượng xơ đen trên mít Thái siêu sớm và cách khắc phục
CÂY ĂN TRÁI Nguyên nhân gây hiện tượng xơ đen trên mít Thái siêu sớm và cách khắc phục
NGUYÊN NHÂN GÂY HIỆN TƯỢNG XƠ ĐEN TRÊN MÍT THÁI SIÊU SỚM VÀ CÁCH KHẮC PHỤC - Mít Thái siêu sớm hay còn gọi là mít Chiang Rai, mít Thái có nguồn gốc từ tỉnh Chiang Rai, thuộc Miền Bắc Thái lan. Giống mít này được du nhập về Việt Nam và được trồng phổ biến từ Bắc tới Nam. Mít Thái siêu sớm có thể cho trái rất sớm chỉ sau 1 năm trồng, cây tầm thấp 6 – 8m, trái to 8-12 kg, đặc biệt có trái lên đến 25kg, năng suất dao động từ 35-40 tấn/ha. Cây sinh trưởng mạnh và cho trái quanh năm. Chất lượng trái ngon, múi mọng có màu vàng, giòn ngọt, hạt nhỏ hơn giống mít nghệ. - Với những đặc điểm nổi bật trên, Mít Thái siêu sớm đang được bà con nông dân trồng với diện tích khá lớn. Tuy nhiên, hiện tại bà con nông dân trồng mít ở ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung đang gặp những vấn đề khó khăn về sâu bệnh hại như bệnh nứt thân chảy nhựa do nấm Phytophthora spp. gây ra, bệnh xì mũ thối mạch dẫn (do vi khuẩn) hay còn gọi là bệnh chết nhanh làm cho cây giảm năng suất, giảm chất lượng trái, cây suy kiệt và chết rất nhanh. Đặc biệt, trên cây mít Thái siêu sớm còn thấy xuất hiện hiện tượng xơ đen làm cho múi mít và xơ bị đen ảnh hưởng đến phẩm chất trái mít. 1. NGUYÊN NHÂN GÂY HIỆN TƯỢNG XƠ ĐEN - Theo các khảo sát cho thấy trái bị xơ đen thông thường là dạng trái bị méo mó, đầu trái nhỏ. Phần xơ bên trong bị đen, múi bị lép, hột không phát triển, vết đen trên xơ không có hình dạng nhất định. - Có 2 nguyên nhân gây nên hiện tượng xơ đen trên mít: + Do thiếu dinh dưỡng. + Do vi khuẩn xâm nhập.    Trái mít bị xơ đen - Theo như công bố mới nhất cho thấy hiện tượng Mít biểu hiện triệu chứng xuất hiện những đốm vàng nâu bên trong trái được xác định là do vi khuẩn Pantoea stewartii subsp. Stewartii gây ra lần đầu tiên được công bố tại Malaysia (Zulperio et al.2017). Theo một nghiên cứu bệnh trên Mít tại Mexico đã chứng minh hiện tượng xơ đen là do vi khuẩn Pantoea stewartii subsp. Stewartii gây ra (2017). - Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Nhân (2018) cũng cho rằng hiện tượng mít bị xơ đen có thể là do vi khuẩn tấn công vào trái trong quá trình thụ phấn bằng 2 con đường: (1): qua vòi nhị cái đi vào bên trong trái, (2): qua khe hở giữa các múi lúc trái còn non (hình: A, B). 2. CÁCH KHẮC PHỤC - Theo một nghiên cứu cho rằng, hiện tượng xơ đen xuất hiện nhiều vào mùa mưa và bổ sung Bo giúp giảm tỷ lệ xơ đen. Bà con nên sử dụng Canxi Bo bổ sung dạng vi lượng phun cho cây định kỳ 7-10 ngày/ lần, giai đoạn trước khi có bông và giai đoạn trái non. Phân bón: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon - Bà con cần che mưa cho trái để hạn chế nước mưa mang vi khuẩn xâm nhập vào trái gây hại. Phun ngừa vi khuẩn bằng Pyramos 40SL hoặc Kasuduc 3SL vào giai đoạn trước có bông và giai đoạn trái non. Thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng mít Thái: https://congtydelta.com/bai-viet/70/ky-thuat-trong-mit-thai      
Cách nhận biết bệnh vàng lá thối rễ và phương pháp phòng trị
CÂY ĂN TRÁI Cách nhận biết bệnh vàng lá thối rễ và phương pháp phòng trị
CÁCH NHẬN BIẾT BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ TRÊN CÂY ĂN TRÁI VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÒNG TRỊ - Thời tiết mưa nhiều, ngập úng kéo dài là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây hại phát triển và tấn công rễ cây trồng làm cây vàng lá, kém sinh trưởng và có thể chết cây. Trong đó, bệnh quan trọng nhất phải kể đến là bệnh vàng lá thối rễ. - Tác nhân: Thối rễ do nhiều loại nấm nhưng chủ yếu là nấm Fusarium sp. Nấm này luôn hiện diện trong đất nhưng không xâm nhập trực tiếp vào rễ. - Triệu chứng: + Nấm xâm nhập chủ yếu qua các mảng thối ở rễ non khi rễ bị oi nước trong một thời gian dài. Dễ dàng phát hiện bệnh khi thấy lá bị vàng cả phần gân lá và thịt lá, triệu chứng vàng lá có thể xuất hiện trên một vài nhánh hoặc cả cây. Triệu chứng bệnh thường xuất hiện đầu tiên trên những lá già, sau đó đến các lá non và lá dễ bị rụng khi có gió. Triệu chứng vàng lá thối rễ trên cam sành + Quan sát phần rễ sẽ thấy rễ bị hư, đặc biệt là rễ non bị thối và tuột vỏ, làm mất khả năng hút nước và dinh dưỡng của rễ. Tuy nhiên, bà con cần chú ý, bệnh không xuất hiện ngay mùa mưa, lúc đất bị oi nước, mà bệnh thường xuất hiện nghiêm trọng trong đầu mùa nắng vì từ khi bắt đầu xâm nhập cho đến khi triệu chứng bệnh thể hiện cần có thời gian ủ bệnh đến vài tháng. Nấm bệnh  tồn tại trong đất qua một thời gian dài khi không có ký chủ và nguồn bệnh trong đất tăng dần qua nhiều năm. Chúng có thể lan truyền theo nước tưới, đất do động vật và người mang, giống bị nhiễm bệnh. Triệu chứng thối rễ - Biện pháp phòng trị + Khi phát hiện triệu chứng bệnh, sử dụng nhóm thuốc có hoạt chất Metalaxyl (Mataxyl) hoặc  Mancozeb  + Metalaxyl  (BioRosamil, Manco Nhật, Unizebando) tưới quanh gốc 2- 3 lần mỗi lần cách nhau 7-10 ngày.      Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh + Cần làm cho đất tơi xốp bằng cách bổ sung phân hữu cơ cho cây trồng hàng năm hoặc sử dụng Humic 9999, Bio One để bổ sung humic, chất hữu cơ cho đất làm đất tơi xốp, tăng mật số vi sinh vật có lợi và hạn chế nấm bệnh gây hại. Nguồn: SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH BẾN TRE Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Bệnh héo muộn trên cà chua: https://congtydelta.com/bai-viet/84/benh-heo-muon-tren-ca-chua Bệnh héo rũ trên cà chua: https://congtydelta.com/bai-viet/85/benh-heo-ru-tren-ca-chua Bệnh héo rũ trên cây dưa hấu: https://congtydelta.com/bai-viet/62/benh-heo-ru-tren-cay-dua-hau Bệnh héo xanh trên cây ớt: https://congtydelta.com/bai-viet/67/benh-heo-xanh-tren-cay-ot
Xử lý ra hoa thanh long
CÂY ĂN TRÁI Xử lý ra hoa thanh long
XỬ LÝ RA HOA THANH LONG Cây thanh long thuộc nhóm cây dài ngày, sự ra hoa chịu ảnh hưởng của quang kỳ, ở miền Nam thanh long bắt đầu ra hoa vào tháng 4 – 9 dl vì số giờ chiếu sáng trong ngày > 12 giờ (ngày dài). Vì vậy, muốn thanh long ra hoa nghịch vụ vào giai đoạn đêm dài ngày ngắn, nông dân áp dụng phương pháp thắp đèn trong một thời gian nhất định cây sẽ ra hoa đồng loạt. Hiện nay, phương pháp này được ứng dụng ở các vườn thanh long trên khắp cả nước. 1. Ra hoa tự nhiên - Sau khi trồng khoảng 8 – 10 tháng cây có thể cho hoa đầu tiên, tùy điều kiện dinh dưỡng. Thường nông dân để trái khi cây được 1 - 1,5 tuổi. Ở tuổi cây 3 năm cây bắt đầu cho trái ổn định. - Hoa tự nhiên xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 10, rộ nhất từ tháng 5 đến tháng 8 - Tuy nhiên, quá trình diễn ra không đồng loạt ở các cành thanh long trưởng thành nên việc ra hoa không tập trung ở mùa thuận, số đợt ra hoa tự nhiên trong mùa thuận trung bình có 4 – 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm, tốn nhiều công, năng suất thấp. - Vì vậy, việc xông đèn tạo ngày dài 12 – 14 đêm (8 giờ/ đêm) là cây ra hoa đồng loạt vào mùa thuận cũng được nông dân áp dụng. 2. Xử lý ra hoa trái vụ (Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau) Khi cây được 1 - 1,5 tuổi, có thể xử lý ra hoa. - Bón phân trước khi xử lý Nhằm mục đích giúp cây có đầy đủ chất dinh dưỡng để chuẩn bị ra hoa và nuôi trái sau này. - Bón phân gồm phân vô cơ và hữu cơ: + Lần 1: Trước khi thắp đèn 1 tháng, bón 5 kg phân chuồng hoai mục hoặc 0,5 kg phân hữu cơ sinh học/ trụ. Phun phân vi lượng Rồng đỏ liều lượng 50ml/ bình 25 lít nước. + Lần 2: Trước khi thắp đèn 15 ngày, bón 0,5 kg/ trụ phân hữu cơ sinh học. Phun phân bón lá Ruby liều lượng 50ml/ bình 25 lít nước. + Lần 3: Sau khi nụ xuất hiện bón 0,5 kg/ trụ phân hữu cơ sinh học. Phun Canxi Bo liều lượng 50ml/ bình 25 lít nước sau khi nụ xuất hiện 22 ngày. Nụ thanh long sau 4 ngày tắt đèn + Lần 4: Sau khi đậu trái 9 ngày: phun Dưỡng trái thanh long liều lượng 50ml/ bình 25 lít nước. + Lần 5: Sau khi đậu trái 18 ngày: phun Siêu to trái thanh long 50ml/ bình 25 lít nước. + Lần 6: Trước thu hoạch 15 ngày phun phân vi lượng Ruby 50ml/ bình 25 lít nước. * Phân bón lá: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon  3. Xử lý ra hoa  - Có 3 đợt trái trong mùa nghịch + Trong giai đoạn đầu vụ nghịch từ cuối tháng 9 đến tháng 11 sử dụng bóng đèn compact đỏ 20W mật độ 1100 bóng/ ha để xử lý ra hoa cho thanh long tiết kiệm được 66,7% lượng điện tiêu thụ so với bóng đèn tròn. + Trong giai đoạn vụ 2 và vụ 3 của vụ nghịch từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau sử dụng bóng đèn compact 20W với mật đô 1600 bóng/ ha. + Treo bóng đèn cách mặt đất 0, 7 – 1,2 m, khoảng cách giữa các đèn là 3m và cách tán cây 0,5 – 1m. Sử dụng đèn compact + Thời gian xông đèn 16 đêm, mỗi đêm chiếu sáng từ 7 giờ tối đến 5 giờ sáng tương ứng thời gian chiếu sáng là 10 giờ/ đêm. + Thời điểm ngừng xông đèn khi thấy 3 – 5 % số nhánh có mắt dưới gai phồng to. - Khi thực hiện xông đèn, bắt buộc phải có biển báo, tránh những nguy hiểm đáng tiếc trong quá trình xử lý ra hoa thanh long. Cấm bảng thông báo nguy hiểm + Ngoài ra, có thể sử dụng đèn cao áp 250W, khi xử lý bóng đèn cao áp 250W có khả năng kích thích thanh long ra hoa sớm. Một bóng đèn cao áp có thể thắp trung bình cho khoảng 15 trụ thanh long, đồng thời lại rất tiết kiệm điện năng, kinh tế là 30 bóng/500 trụ thanh long (tùy theo độ bằng phẳng mỗi vườn). Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu còn khá cao nên chưa được áp dụng rộng rãi. Sử dụng đèn cao áp xử lý ra hoa trái vụ cho thanh long Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long  Công ty cổ phần BVTV Delta
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long
CÂY ĂN TRÁI Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY THANH LONG Dragon fruit Cây thanh long (tên tiếng Anh là Pitahaya, hay còn gọi là Dragon fruit, thuộc họ Xương rồng, có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia. Thanh 1ong được người Pháp đem vào trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay, tập trung tại Bình Thuận, Long An, Tiền Giang, TP. HCM, Khánh Hòa. Thanh long là cây ngày dài (trường quang kỳ),mùa thanh long tự nhiên xảy ra từ tháng 4 tới vườn tháng 10, rộ nhất từ tháng 5 tới tháng 8. Vào thời điểm ấy giá rẻ , một số nhà vườn tiến bộ đã phát hiện, hoàn chỉnh dần từng bước kỹ thuật thắp đèn tạo quả trái vụ để chủ động thu hoạch, nâng cao hiệu quả kinh tế. 1. Thời vụ trồng - Thường trồng vào tháng 10 - 11 dương lịch, Những nơi thiếu nguồn nước tưới như Bình Thuận, Vũng Tàu, An Giang nên trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5 - 6 dương lịch) nhưng phải chú ý đến việc chuẩn bị hom giống từ trước do lúc này cây đang ra hoa và mang quả, không thể lấy hom trực tiếp được. 2. Chuẩn bị cây giống - Có 4 loại giống được trồng : Phổ biến là Thanh long vỏ đỏ ruột trắng, thanh long vỏ đỏ ruột đỏ, thanh long vỏ đỏ ruột tím. Riêng thanh long vỏ vàng ruột trắng là giống nhập, có giá trị kinh tế cao, đang được trồng thử nghiệm tại Tiền Giang. - Cây giống chuẩn bị đủ về số lượng và tiêu chuẩn cây con đem trồng. Kiểm tra bầu thanh long giống trước khi trồng phải có rễ dài, hom có màu xanh, không sâu bệnh. Cây thanh long giống 3. Chuẩn bị đất trồng - Đào hố rộng 30-40cm để bón phân cho phù hợp: + Cây hom trong bầu ươm thì đào hố sâu khoảng 10cm + Cây hom không trồng trong bầu ươm, thì đào hố sâu 5 cm là vừa. Vì thanh long không trồng quá sâu, cây phát triển chậm. + Nơi đất bằng cần lên luống để tránh ngập úng, làm thối rễ; + Nơi đất dốc cần đào hố sâu 50 x 50 x 50cm. Cự ly giữa các hố khoảng 2,5-3m; - Hố được cuốc trước khi trồng 15 ngày. Bón lót phân vào hố trồng - Bón lót bằng 5kg phân chuồng hoai + 0,2kg phân lân hoặc 0,3kg (NPK 20-20- 15)/hố; - Trộn đều và lấp đầy hố trồng; - Khơi hỗn hợp đất và phân dưới hố lên; - Tạo hố trồng sâu hơn bầu 2 – 4cm; - Đáy hố phẳng; - Rãi thuốc trừ sâu, bệnh; - Lắp 1 lớp đất lên trên lớp phân thuốc dày 5cm. 4. Trồng cây - Mật độ trồng khoảng 700-1.000 trụ/ha, khoảng cách trồng 3 x 3 m hoặc 3 x 3,5m. Thanh long là cây cần nhiều ánh nắng, nếu trồng dầy thì quả nhỏ, bán không được giá. - Có thể bố trí trồng xen các loại cây ngắn ngày khác nhưng phải đảm bảo cho thanh long nhận đầy đủ ánh sáng - Dùng dao lam bóc vỏ bầu cây trước khi trồng sao cho không bị vỡ bầu; - Đặt cây vào giữa hố, cạnh bằng của cây thanh long áp vào cột; - Đặt từ 3 - 4 hom quanh cây chống (trụ), cần chú ý: - Đặt hom cạn 5 cm để tránh thối gốc do đất ẩm. - Đặt áp phần phẳng của hom vào mé trụ để sau này hom ra rễ và bám nhanh vào trụ. Cột hom vào trụ để gió khỏi làm lung lay lúc đầu vì rễ trên không chưa phát triển để bám vào cây trụ. Cách trồng cây thanh long - Sử dụng đất mặt tơi xốp lấp hố; - Ấn đất đảm bảo có độ chặt vừa phải, không làm vỡ bầu cây khi lấp đất; - Dùng dây cột cố định chồi vào trụ trồng tránh làm xê dịch cây ảnh hường đến ra rễ; - Tủ gốc bằng rơm, rạ, cỏ khô, bột xơ dừa; - Tưới nước vừa đủ ẩm gốc. 6. Chăm sóc thanh long sau trồng 6.1. Che tủ giữ ẩm - Có thể trồng cây cỏ đậu hoặc sử dụng rơm rạ, sơ dừa để tủ gốc để giữ ẩm cho đất - Kết hợp trồng xen các loại cây rau ngắn ngày như cà, ớt, rau cải,… vừa che bớt nắng giai đoạn đầu, vừa tăng hiệu quả kinh tế. Vườn thanh long xen cà phổi 6.2. Tưới nước - Tưới nước cho cây mới trồng: Giai đoạn cây con mới trồng chỉ tưới vừa đủ ẩm, có thể tưới 2-3 ngày một lần khoảng 5 lít nước/gốc (trụ) - Tưới nước cho cây giai đoạn phát triển: Giai đoạn kinh doanh cây cần nước rất cao, thân cây thanh long chứa nhiều nước, nên mỗi ngày nên tưới một lần, hoặc 2 ngày một lần, tưới ướt tòan bộ cây. - Tưới nước cho cây giai đoạn cây ra hoa và mang trái: Giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa kết trái thì nhu cầu nước rất cao (trừ lúc trước ra hoa 2-3 tuần không cần tưới nước, để cây chuẩn bị ra hoa), tưới ướt toàn cây. - Giai đoạn cây ra hoa tránh tưới ướt hoa vì có thể làm hoa bị thối, hư. - Giai đoạn mang trái là giai đoạn cần nhiều nước nhất của cây thanh long, vì cây vừa phát triển, vừa nuôi trái, nếu thiếu trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng. Mỗi ngày tưới một lần, tưới ướt cả cây. Tưới nước cho cây thanh long 6.3. Bón phân Bón phân cho 1 trụ (gốc): * Thời kỳ 1-2 năm đầu: Bón lót: 15-20 kg phân chuồng hoai, 100 gam super lân cho một trụ. Bón thúc: 100 g urê + 100 g NPK 16-16-8 vào các giai đoạn 20-30 ngày sau khi trồng, sau đó 3 tháng bón 1 lần. Khi cây ra hoa có thể cấp thêm 50 g phân kali (KCl). - Cách bón: xới nhẹ, rãi xung quanh gốc, lắp phân lại bằng một lớp đất mỏng, bón cách gốc 20-40cm theo tuổi cây. * Thời kỳ từ năm thứ 3 trở đi: Chia làm 8 lần trong năm - Liều lượng bón: 1,08 kg urê + 3,2 kg lân + 0,8 kg KCl. + Lần 1- Sau khi thu hoạch. 100% phân lân + phân chuồng hoai + 200g urê + Lần 2 - Cuối tháng 12: 500g urê + 150 g KCl + Lần 3 - Cuối tháng 2: 180 g urê + 150 g KCl + Lần 4 - Cuối tháng 4: 100 g urê + 100 g KCl. + Từ lần 5 đến lần 8: cứ mỗi tháng bón 1 lần, liều lượng như lần 4. + Rải phân đều trên bề mặt đất xung quanh gốc, xới nhẹ cho phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó ủ rơm hay cỏ khô, sau khi rải phân cần tưới nước. + Ngoài ra có thể phun bổ sung thêm các loại phân vi lượng bằng cách phun thêm phân bón lá vào 10 ngày sau khi đậu trái và lúc phát triển nhanh. + Đối với vườn thanh long từ 3-5 năm tuổi: theo công thức 500g N + 500g P2O5 + 500g K2O/trụ/năm tương đương 1,08kg Urea + 3,6kg lân super + 0,83kg KCl. + Đối với vườn thanh long từ 5 năm tuổi trở lên, bón lượng phân là: 750g N + 500g P2O5 + 750g K2O/ trụ/ năm tương đương 1,63kg Ure + 3,6kg lân super + 1,25kg KCl. - Cách bón: rãi đều trên mặt đất xung quanh trụ (gốc) thanh long, xới nhẹ cho hạt phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó tủ bằng rơm rạ hay cỏ khô, sau khi rãi phân cần tƣới nƣớc cho phân tan. - Thời gian bón: Chia làm 8 lần bón + Lần 1: ngay sau khi kết thúc thu hoạch vụ chính (vào khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10dl) hoặc có thể áp dụng khi đã thu hoạch 80% số lượng quả trên vườn. Bón 3,6kg phân lân + 200g Urea/ trụ (cây từ 3-5 năm tuổi) hoặc 3,6 kg phân lân + 300g Urea (cây > 5 năm tuổi). + Lần 2: cuối tháng 12 dương lịch. Bón 200g Urea + 150g KCl/ trụ (cây 3-5 năm tuổi) hoặc 300g Urea + 250g KCl (cây > 5 năm tuổi). + Lần 3: cuối tháng 2 dương lịch. Bón 200g Urea + 150g KCl/ trụ (cây 3-5 năm tuổi) hoặc 300g Urea + 250g KCl (cây > 5 năm tuổi). + Lần 4: cuối tháng 4 dương lịch. Bón 100g Urea + 100g KCl/ trụ (cây 3-5 năm tuổi) hoặc 300g Urea + 250g KCl (cây > 5 năm tuổi). + Từ lần 5- lần 8 cứ mỗi tháng/lần với liều lượng và loại phân như lần 4. Bón phân hữu cơ cho thanh long * Phân bón lá: - Sau khi thu hoạch và cắt tỉa cành tạo tán, tiến hành phun phân bón lá 30-10-10, phun 3 lần, cách nhau 7 ngày, 15g/ bình 8 lít. - Khi chuẩn bị ra hoa, phun phân bón lá 10-60-10, phun 2 lần, cách nhau 7 ngày, sau đó chuyển sang phun phân bón lá 6-30-30, phun 2 lần, cách nhau 7 ngày, 15g/ bình 8 lít. - Trong giai đoạn nuôi trái phun Dưỡng trái thanh long, Siêu nuôi trái, 7 ngày/lần, 50ml/ bình 25 lít. - Trước thu hoạch (15-20 ngày), phun phân bón lá Canxibo, 50ml/ bình 25 lít, phun 2 lần, cách nhau 7 ngày. Phun phân bón lá cho thanh long Ghi chú:  + Có thể sử dụng các loại phân bón lá có công dụng tăng chất lượng quả đạt tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu. + Để tăng chất lượng quả đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (tai lá xanh, cứng, 3 tai ở đầu chóp quả dài ≥ 7cm: phun kết hợp loại bón lá có trên thị trường theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Tốt nhất nên chọn các phân có nguồn gốc hữu cơ để phun, cần lưu ý: tránh sử dụng các loại phân bón lá có chứa phân chất kích thích sinh trưởng, vì phân có thể làm cho trái phát triển không bình thường nên phẩm chất trái không đạt. MỘT SỐ SẢN PHẨM PHÂN BÓN VI LƯỢNG CHUYÊN DÙNG TRÊN CÂY THANH LONG        Công ty cổ phân BVTV Delta
Kỹ thuật
CÂY ĂN TRÁI Kỹ thuật "vuốt tai" trái thanh long
KỸ THUẬT “VUỐT TAI” TRÁI THANH LONG Vuốt tai thanh long là biện pháp kỹ thuật nhằm giữ cho tai trái thanh long có màu xanh, dài, dày đẹp khi chín. Từ mục đích đó có thể ứng dụng một số chất kích thích sinh trưởng ngoại sinh có tác dụng ngăn cản quá trình sinh sắc tố khi trái bước vào giai đoạn chín giữ lại màu xanh của diệp lục như Alpha-Naphthalene Acetic Acid; Beta-Naphtoxy Acetic Acid; Cytokinin. Chất kích thích sinh trưởng ngoại sinh có tác dụng kéo dài tế bào giúp tai thanh long dài ra, dày lên như Gibberellic Acid (GA3) và các yếu tố dinh dưỡng đa trung vi lượng giúp tai có màu xanh bền đẹp khi chín. 1. CÔNG THỨC VÀ CÁCH PHA THUỐC  Công thức pha thuốc: Thiên nông 100gam ( 1 gói)  + MIRACLE – Gro  1 gói  + GA3 1 gam pha cho 1 lít nước (riêng GA3 bạn có thể dùng loại gói dạng bột 1 g tai thanh long sẽ đẹp hơn) Cách pha thuốc: Cho lần lượt từng thứ một vào 1 lít nước sạch khuấy đều cho tan hết rồi cho sản phẩm tiếp theo làm như trên cho đến hết. 2. THỜI GIAN VÀ CÁCH VUỐT TAI THANH LONG 2.1. Vuốt trái thanh long sống - Có thể vuốt trái sống thanh long (tức là khi trái đang còn xanh, hoặc mới chín): Vuốt trước khi thu hoạch 15 ngày tức là sau rút râu 25 - 27 ngày). - Chỉ vuốt khoảng ¼ tai trái về phía trên, lưu ý khi vuốt trái sống không vuốt tai cụt vì rất dễ bị chảy thuốc xuống trái dẫn đến bị lem trái. Vuốt tai trái thanh long sống Lưu ý: + Vuốt tai trái thanh long khi sống ngoài việc giúp tai xanh và cứng nó còn có tác dụng giúp trái mau lớn hơn. + Hạn chế: vuốt giai đoạn này rất mạo hiểm, rất dễ bị lem trái. + Đặc biệt tránh vuốt tai thanh long sống vào những hôm trời mưa, trái bị lem, ảnh hưởng đến mẫu mã. 2.2. Vuốt tai trái thanh long chín - Lần 1: Khi trái thanh long chín đều tiến hành vuốt tai (7 hoặc 10 ngày trước khi thu hoạch). - Lần 2: Trước khi thu hoạch đi bán 2 - 3 ngày tiến hành vuốt tai 1 lần nữa. Vuốt tai trái thanh long chín Cách vuốt: Vuốt khoảng ½ tai. - Khi vuốt tai vào giai đoạn này nếu như gặp trời mưa, thì nên vuốt lại vì mưa xuống làm trôi thuốc, không có tác dụng. 3. DỤNG CỤ VÀ CÁCH THỨC VUỐT TAI THANH LONG 3.1. Dụng cụ dùng để vuốt tai thanh long - Dùng 1 chai nhựa để đựng thuốc, chai có đục 1 lỗ ở nắp. - Đeo bao tay ni nông trong cùng để tránh thuốc tiếp xúc tới da người. - Dùng 2 - 3 lớp bao tay vải ở ngoài để thấm thuốc vuốt tai thanh long. Lưu ý: Không tự ý pha thuốc liều lượng quá đặc, có thể sẽ làm cháy và vàng tai thanh long. 3.2. Cách thức vuốt tai thanh long hiệu quả - Thực hiện “Vuốt tai” bằng dung dịch thuốc vừa mới pha được. Bỏ thuốc vào trong chai có đục 1 lỗ ở nắp. - Đeo 1 bao tay ni lông trong cùng, sau đó đeo 2 - 3 lớp bao tay vải ở ngoài dùng để thấm thuốc. - Người vuốt đổ thuốc vào ngón cái và ngón trỏ rồi dùng 2 ngón ấy vuốt ướt thuốc từ gốc đến ngọn tai trái. Kỹ thuật vuốt tai trái Lưu ý: Mỗi trái thanh long có hơn chục tai, trong đó những tai ở đuôi trái dài nhất và ngắn dần về phía đầu trái. Muốn trái đẹp không nên vuốt bỏ sót một tai nào. Chỉ sau 2 - 3 ngày sau vuốt thuốc, tai trái thanh long chuyển màu xanh ngắt, tai trái có vẻ dày, thẳng, dài thêm, cho mẫu mã trái đẹp. Công ty cổ phần Delta   Bài viết liên quan Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long Xử lý ra hoa thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/74/xu-ly-ra-hoa-thanh-long Sản phẩm sử dụng trên cây thanh long https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài
CÂY ĂN TRÁI Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY XOÀI Mangifera indica L. - Xoài được xem như là cây ăn trái quan trọng chiếm phần lớn thị phần trái cây trong nước, được sử dụng rộng rãi từ trái còn xanh đến trái chín. Diện tích trồng xoài của cả nước năm 2017 vào khoảng hơn 92.000ha với sản lượng 790.000 tấn xoài hàng năm. - Hiện nay, xoài đang được phát triển theo hướng xuất khẩu nên các nhà vườn rất quan tâm đến kỹ thuật canh tác và chăm sóc cây xoài. Giúp tăng năng suất trên vườn xoài và đồng thời tăng thu nhập phát triển kinh tế gia đình. 1. THỜI VỤ Nên trồng vào đầu mùa mưa, từ tháng 5 – 7 dương lịch. Tuy nhiên, nếu đủ nước tưới và che mát, có thể trồng xoài bất cứ lúc nào trong năm. 2. NHÂN GIỐNG - Có nhiều giống xoài đang được trồng ở ĐBSCL như: xoài ăn chín: Xoài Cát Hòa Lộc, Xoài Cát Chu, Xoài Thanh Ca, Xoài Úc và một số giống xoài ăn sống như: Xoài Đài Loan, Xoài Thái, Xoài hòn, Xoài Tượng, Xoài ghép, Xoài Nam Doc Mai, Xoài Keo,… - Có 3 phương pháp nhân giống: trồng bằng hột, cành ghép và trồng bằng cây ghép. - Do trồng bằng hột, thời gian cho trái rất lâu (6 – 8 năm). Nên bà con thường sử dụng giống trồng bằng cây ghép mua tại các cửa hàng giống cây trồng. Cây giống xoài Thái 3. LÀM ĐẤT Lên liếp trồng xoài từ đất ruộng Lên liếp trước khi trồng, tùy vùng có độ cao địa hình khác nhau mà bà con thiết kế liếp cho phù hợp. Vùng ĐBSCL đất thấp và có nhiều sét, dễ bị úng nước nên trồng cây trên mô, đường kính mô từ 80 - 100 cm, cao 30 – 60 cm (tùy thuộc vào cao độ địa hình đất và hệ thống đê bao chống lũ). Đất làm mô có thể là đất bãi bồi ven sông, đất mặt ruộng, đất mặt vườn cây ăn trái. Đào hố trên mô kích thước 60x60x60 cm, bón lót 20kg phân chuồng hoai mục + 200- 300 g vôi bột + 0,5 kg Super Lân vào hố, lấp đất để khoảng 30 ngày mới tiến hành trồng cây. 4. KHOẢNG CÁCH TRỒNG Vì xoài là cây đại thụ có khả năng sống rất lâu (từ 30-50 năm), đồng thời xoài ưa sáng và có trái ở chồi ngoài tán cây, nên không trồng quá dầy. Có thể trồng thưa với khoảng cách 8x8 m hoặc 10x10m thuận lợi cho việc chăm sóc và di chuyển. 5. TRỒNG CÂY - Sau khi ủ hố 1 tháng, bà con đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, bỏ túi nilon và đặt bầu cây vào giữa, lấp đất sao cho vừa bằng cổ rễ, sau đó nén chặt xung quanh. Cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc lại để tránh lay gốc, dẫn đến chết cây. Sau khi trồng, phủ rơm, rác mục xung quanh gốc và tưới nước giữ ẩm cho cây trong tháng đầu để tạo độ ẩm cho rễ phát triển. - Có thể nhúng bầu đất hoặc tưới gốc bằng Bio Delta liều lượng 50ml/ 25 Lít nước để kích thích ra rễ. 6. TỈA CÀNH, TẠO TÁN - Sau khi trồng một thời gian vài tháng (thường là 3 tháng), từ phần chồi ghép có mọc lên 3 tầng lá ( 3 chồi) ta tiến hành hãm ngọn. Từ vị trí hãm, sẽ có nhiều chồi mới mọc lên, ta chỉ để lại 3 chồi khỏe mạnh nhất – gọi là tầng cấp 1. Khi mỗi chồi này mọc được 3 cơi lá tiếp theo, ta tiến hành hãm ngọn lần 2. Tiếp tục như vậy lần thứ 3 thì dừng lại để cây phát triển tự nhiên. Cây xoài con được 4 cơi đọt - Hàng năm tiến hành cắt bỏ các cành mọc sâu trong tán, cành bệnh, cành già cỗi, cành mọc quá gần mặt đất, cuống quả, cành vụn của mùa trước, việc cắt tỉa cành nên tiến hành ngay sau khi thu hoạch. 7. BÓN PHÂN - Phân bón là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc cho trái cách năm của xoài. Sau năm đạt năng suất cao (trúng mùa) cần gia tăng lượng phân bón để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây đủ sức nuôi trái ở năm sau. Bón phân - Bón phân được chia thành 2 giai đoạn: + Giai đoạn kiến thiết (2 năm đầu): Chia thành 2 đợt bón/ năm (tháng 4 – 5 và tháng 11 dl): bón 150 - 300 g phân NPK 16-16-8 và 100 - 200g Urea/ cây/ năm hoặc pha 01 muỗng canh phân NPK 16-16-8 với ½ muỗng Urea/ thùng 10 lít nước, tưới vào 5, 6 gốc, định kỳ 30 ngày/ lần. + Phân trung vi lượng: Bón bằng cách đổ gốc hoặc phun xịt qua lá Bio Delta hoặc Thần dược với liều lượng 50ml/ 25 lít nước, mỗi năm 2-3 lần, tốt nhất là giai đoạn cây đang ra chồi non, ra lá mới. Có thể kết hợp phun chung với thuốc bảo vệ thực vật để giảm công lao động. Phân bón vi lượng: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon + Giai đoạn kinh doanh (năm thứ 3 trở đi): + Sau khi thu hoạch, cắt tỉa cành: 550g – 300g – 240g (N-P-K) tương đương phân Urea 1,2 kg/ cây/ năm, Lân Long Thành: 2,3 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,4 kg/ cây/ năm. Phun phân vi lượng Ruby liều lượng 50ml/ 25 lít nước giúp cây phục hồi sau tổn thương do cắt tỉa cành. + Trước khi ra hoa (tháng 9-10): 180g – 300g – 240g (N-P-K)g/ cây/ năm tương đương phân Urea:0,4 kg/ cây/ năm, Lân Long Thành: 2,3 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,4 kg/ cây/ năm. + Sau đậu trái 30 - 35 ngày: 360g – 300g – 480g (N-P-K) g/ cây/ năm tương đương phân NPK 20-20-15: 1,5 kg/ cây/ năm, Phân Urea: 0,13 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,5 kg/ cây/ năm. Phun Canxi Bo và Siêu nuôi trái (50ml/ 25 lít nước) giúp trái to, đẹp màu, hạn chế hiện tượng nứt trái. - Cách bón phân: xới xáo nhẹ đất nơi hình chiếu tán cây, sau đó bón phân lấp đất lại và tưới nước cho cây. 8. XỬ LÝ RA HOA Xem bài Xử lý ra hoa xoài trái vụ: https://congtydelta.com/bai-viet/72/xu-ly-ra-hoa-xoai-trai-vu 9. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH - Xoài có nhiều sâu bệnh, gây thiệt hại nhiều nhất ở giai đoạn cây ra đọt non và lúc trổ bông, nhất là khi xoài trổ bông nghịch vụ trong mùa mưa. - Sâu hại quan trọng như: Rầy bông xoài, Bọ trĩ, Bọ cắt lá, Sâu ăn bông, Ruồi đục trái, Sâu đục trái,…và một số loại thuốc phòng trị như: Penalduc 145EC, Anh hung diệt sâu, Vua sâu,… Thuốc trừ sâu rầy: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray - Bệnh hại quan trọng như: Bệnh thán thư, bệnh phấn trắng, bệnh chết đọt, bệnh bồ hóng, bệnh đốm rong, Bệnh khô hoa, Đốm vi khuẩn, … và một số loại thuốc phòng trị như: Bio Rosamil 72WG, Amity Top 500SC, Pyramos 40SL,… Thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 10. BAO TRÁI Bao trái xoài là vấn đề cần thiết trong hệ thống sản xuất trái cây thương phẩm. Bao trái hạn chế tác động vật lý giữa các trái với nhau, giảm sâu bệnh hại trên trái xoài, tạo mẫu mã đẹp cho trái. Bao trái 11. THU HOẠCH Tùy hình thức tiêu thụ mà nhà vườn chọn thời điểm thu hoạch. Thường sẽ thu hoạch khi trái già tránh dập trái khi vận chuyển đi xa. Trái có thể thu hoạch Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan: Ruồi đục trái xoài: https://congtydelta.com/bai-viet/73/ruoi-duc-trai-xoai Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long Kỹ thuật trồng mít thái: https://congtydelta.com/bai-viet/70/ky-thuat-trong-mit-thai          
Xử lý ra hoa xoài trái vụ
CÂY ĂN TRÁI Xử lý ra hoa xoài trái vụ
XỬ LÝ RA HOA XOÀI   1. Giới thiệu - Trong điều kiện tự nhiên ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cây xoài thường ra hoa tự nhiên vào tháng 12-1 và thu hoạch tập trung từ tháng 4-5. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu thị trường, thì việc cho cây xoài ra hoa trái vụ luôn được sự quan tâm của các nhà vườn. - Theo một số nghiên cứu các biên pháp kích thích ra hoa như: Xông khói (Gonzales, 1923 tại Philippines) ứng dụng tác động của khí CO và CO2 cùng với nhiệt gây ra bởi việc hun khói, kỹ thuật cắt rễ nhằm làm giảm sự sinh trưởng của cây, khấc thân hay khoanh cành, điều khiển sự ra hoa bằng hóa chất, các chất kích thích ra hoa: Paclobutrazol (PBZ), Uniconazol (UCZ), cycocel, ethephon, chlorate kali (KClO3),... - Trong đó, phương pháp xử lý ra hoa bằng chất kích thích Paclobutrazol (PBZ) được áp dụng phổ biến. Tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và sự nhạy cảm của giống, việc xử lý PBZ có thể tạo ra trái mùa nghịch, cho trái sớm, làm giảm hiện tượng cho trái cách năm cũng như những cây ra trái không ổn định. - Paclobutrazol là một chất làm chậm tăng trưởng thông qua sự ức chế quá trình sinh tổng hợp GA (Gibberellin) thuộc nhóm triazole có vòng 5 cạnh, trong đó có 2 nguyên tử Cacbon và 3 nguyên tử Nitơ có tên hóa học là (2RS, 3RS) -1- (4-chlorophenyl)-4,4-dimethylethyl- 2-(1H-1,2,4-triazol-l-yl) pentan-3-ol và có công thức hoá học tổng quát là C16H20ClN3O. PBZ có thể được hấp thu qua lá, tán cây, thân và rễ, được di chuyển qua mô xylem đến bên dưới chồi sinh mô. Ở đó nó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp GA và làm chậm tốc độ phân chia tế bào, làm cho thực vật trở nên già cỗi hơn làm gia tăng việc sản xuất hoa và nụ trái. 2. Quy trình xử lý xoài ra hoa 2.1 Giai đoạn sau khi thu hoạch Cây xoài ra hoa trên chồi tận cùng nên việc kích thích cho xoài ra đọt non là yếu tố quan trọng quyết định khả năng ra hoa của xoài. Do đó, sau khi thu hoạch xoài chính vụ vào tháng 4-5 cần tiến hành các biện pháp kỹ thuật để thúc đẩy cây ra đọt non tập trung để dễ phòng trừ sâu bệnh và kích thích ra hoa. Các biện pháp quan trọng cần thực hiện là: - Tỉa bỏ những phát hoa đã rụng trái, cành vô hiệu trong mình mẹ, cành ốm yếu, bị sâu bệnh hoặc che rợp lẫn nhau gây trở ngại cho việc chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch. Thông thường những phát hoa đã rụng bông và trái non phải mất 3-4 tháng mới rụng. Do đó, nếu cắt bỏ những phát hoa nầy sẽ kích thích cho cây ra đọt sớm hơn. - Bón phân: Giúp cho cây ra chồi mập, lá to, tích lũy nhiều chất dự trữ giúp cho cây có khả năng ra hoa và nuôi trái trong mùa sau. Đây là giai đoạn thúc đẩy sự sinh trưởng của cây nên công thức phân thường có đạm và lân cao hơn so với kali như 2:1:1, 2:2:1 hay 3:2:1. Lượng phân bón tùy theo tuổi cây, tình trạng sinh trưởng và năng suất mùa trước. Xới đất quanh gốc bón phân cho cây - Tưới nước: 2-3 ngày/ lần giúp cho cây xoài ra đọt tập trung. Đối với cây già (20-30 năm tuổi) khả năng ra đọt kém, cần kích thích cho cây ra đọt non bằng cách phun urê ở nồng độ 1,5-2,0% hoặc gibberellin ở nồng độ từ 5-10 ppm. 2.2 Giai đoạn ra đọt non - Sự phát triển của đọt non có ảnh hưởng rất quan trọng đến khả năng ra hoa và nuôi trái của cây xoài, do đó cần chú ý phòng trừ các loại sâu, bệnh để bảo vệ cho đọt non xoài phát triển tốt. - Các loại sâu bệnh cần chú ý phòng trừ trong giai đoạn này là: Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), Rầy bông xoài (Idiocerus spp.) hay một số lọai sâu ăn lá như câu cấu xanh (Hypomeces squamosus), bọ cắt lá (Deporaus marginatus Pascoe). - Trường hợp bón phân không đúng lúc hay lượng phân không đầy đủ chồi non xuất sẽ ngắn, ốm yếu. Có thể bổ sung bằng cách phun các lọai phân bón qua lá như phân vi lượng Ruby của công ty Delta (https://congtydelta.com/san-pham/568/ruby-chai-500-ml).   2.3 Xử lý paclobutrazol - Thời điểm xử lý: Khi lá non đã phát triển hoàn toàn, lá có màu đỏ đồng hay vàng nhạt (15-20 ngày tuổi) hay lá có màu đọt chuối đến màu xanh nhạt. Không nên xử lý hóa chất khi lá đã già (có màu xanh đậm). Lá non có màu đồng - Liều lượng: 1-2 g nguyên chất/ m đường kính tán hoặc sản phẩm thương mại Paclo 25 liều lượng 10g/ 10 lít nước cho 1 m đường kính tán. Liều lượng hóa chất tùy thuộc vào tuổi cây, tình trạng sinh trưởng của cây. Liều lượng paclobutrazol cũng tùy thuộc vào từng giống. Nồng độ quá cao có thể làm cho phát hoa ngắn hay chùn lại, không có khả năng đậu trái. - Cách xử lý tưới vào đất: Xới đất xung quanh theo hình chiếu của tán cây, sau đó pha hóa chất với 20-50 lít nước tưới đều vùng đất đã xới. Đối với vùng đất tơi, xốp, có nhiều cát nên tưới với lượng nước ít hơn để tránh cho dung dịch hóa chất bị thất thoát do bị thấm sâu qua khỏi tầng rễ. Một tuần sau khi xử lý hóa chất nên tưới nước đầy đủ để rễ cây xoài có thể hấp thụ hóa chất hoàn toàn. 2.5 Kích thích ra hoa - Sau khi xử lý PBZ khoảng 60-90 ngày, khi lá chồi ngọn có 2 mép dợn sóng phun thiourea ở nồng độ 0,3-0,5% hoặc KNO3 200 - 250g/ 10 lít nước hoặc PBZ 150g/ 25 lít nước. - Cần chú ý là điều kiện mưa dầm, ẩm độ đất cao có thể kích thích mầm lá phát triển thay vì mầm hoa. Do đó chỉ nên kích thích ra hoa khi trời khô ráo và rút nước trong mương khô kiệt cho đến khi mầm hoa xuất hiện. 2.6 Giai đoạn nhú mầm hoa (cựa gà) Khi nhú mầm hoa (cựa gà) (khoảng 8 ngày sau khi kích thích ra hoa), có thể phun ngừa bệnh thán thư bằng Amity Top 500SC, ngừa bọ trĩ bằng Penal Duc 145EC kết hợp vi khuẩn Pyramos 40SL. Bổ sung Canxi Bo liều lượng 50ml/ 25 lít nước giúp. Có thể phun lập lại sau khi mầm hoa ra khoảng 1 tấc. Link thuốc trừ sâu: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray Link thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 2.6  Giai đoạn nở hoa (bung chà) - Hoa xoài thụ phấn chéo, chủ yếu nhờ côn trùng như ruồi nên tuyệt đối không phun các loại thuốc trừ sâu bệnh, phân bón trong giai đoạn nầy để không làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn của hoa. 2.7 Giai đoạn phát triển trái - Giai đoạn 7-10 ngày sau khi đậu trái (khi thấy “trứng cá”): phun phân bón lá như: Ruby (50ml/ bình 25 lít nước) để giúp quá trình phân chia tế bào và làm giảm sự rụng trái non. - Giai đoạn 28-35 ngày sau khi đậu trái: Chú ý phòng ngừa sâu đục trái (hột) (Deandis albizonalis) bằng Vua sâu. Phun Dưỡng trái xoài - Giai đoạn 30-35 ngày sau khi đậu trái: Bón phân gốc với tỉ lệ 1:1:1 để giúp cho trái phát triển. Có thể phun canxi bo để hạn chế sự nứt trái. Có thể phun 2-3 lần cách nhau 10 ngày/lần để làm tăng phẩm chất trái. - Giai đoạn 55-60 ngày sau khi đậu trái: Nếu trái phát triển chậm nên bón thêm phân vào đất để giúp trái phát triển tốt. Phun Siêu to trái xoài. Bao trái để ngừa sâu, bệnh. Bao trái bằng túi lưới (bên trái) và túi giấy (bên phải) - Giai đoạn 70-75 ngày sau khi đậu trái: Phun phân vi lượng Ngọt trái lên trái để tăng phẩm chất trái như màu sắc, độ ngọt. - Giai đoạn 84-90 ngày sau khi đậu trái: Thu hoạch khi trái đã phát triển bề rộng, bề ngang, “lên màu” hoặc tỉ trọng bằng 1,02. Có thể xác định thời điểm thu hoạch thích hợp bằng cách cho trái xoài vào nuớc, nếu trái chìm dưới đáy từ từ thì vừa thu hoạch, nếu nổi lơ lửng là chưa thật già và nếu chìm quá nhanh tức là trái đã quá già. Trái già có thể thu hoach   Các sản phẩm phân bón lá bổ sung dinh dưỡng cho cây xoài: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon       Công ty cổ phần BVTV Delta
Kỹ thuật trồng Mít Thái
CÂY ĂN TRÁI Kỹ thuật trồng Mít Thái
KỸ THUẬT TRỒNG MÍT THÁI - Mít Thái siêu sớm là giống mít mới xuất hiện những năm gần đây, là giống cây dễ trồng, ít công chăm sóc, ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, đậu trái quanh năm. - Đặc điểm nổi bật của cây mít Thái là cho thu hoạch rất nhanh. Từ lúc trồng đến lúc cho thu hoạch lứa đầu tiên chỉ mất khoảng 12-15 tháng. Cây đậu trái quanh năm nhất là vào mùa hè. Trái mít khi chín có trọng lượng từ 10-15 kg, bên trong có múi khá to và mọng, ăn thơm ngọt đậm. Bên cạnh đó, mít Thái giàu chất dinh dưỡng như vitamin A, C, canxi, sắt, kali, ma-giê và nhiều dinh dưỡng khác, do đó rất có lợi cho sức khỏe người dùng. - Tuy mít Thái dễ trồng nhưng để trồng thành công cây mít Thái, cần lưu ý một số kỹ thuật sau: 1. Chọn đất và chuẩn bị đất trồng - Mít là cây dễ tính, có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, gồm: Đất đỏ bazan, phù sa, đất xám, đất đồi núi… - Tuy nhiên, đất trồng mít phải thoát nước tốt, có tầng canh tác sâu, mít chịu úng kém, ở các vùng đất thấp, khi trồng phải lên líp và đắp mô cao từ 50 – 70 cm. Đào hố trồng cây mỗi hố nên đào với kích thước khoảng 65x65x65 cm - Bón lót: 0,3 - 0,5kg vôi bột + 3kg phân chuồng hoai mục  + 400 g phân lân cao cấp/ hố.   - Ủ hố trồng khoảng 20 – 30 ngày sau đó tiến hành trồng cây giống. 2. Chọn giống Không nên nhân giống bằng hạt vì bị lai giống và cây lâu cho trái. Nên sử dụng cây ghép có đường kính gốc ghép từ 1 – 1,5 cm, cành ghép cao 20 – 30 cm (kể từ vết ghép), cây khỏe mạnh, sạch bệnh nhưng phải là dòng F1 thuần chủng thì mới đảm bảo về năng suất và chất lượng. Nên chọn cây có bộ rễ phát triển mạnh; lá đang giai đoạn già; vết ghép tiếp hợp tốt. Cây mít giống 3. Thời vụ và khoảng cách trồng: - Thời vụ trồng: để cây sinh trưởng và phát triển có hiệu quả nhất, nên trồng vào đầu mùa mưa, nghĩa là từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch. - Khoảng cách trồng: Do mít Thái có khả năng cho trái sớm nên có thể trồng theo mật độ dày, khoảng 3,5m x 3,5 m hoặc 4 m x 4 m. Sau khi thu hoạch mít từ 5 – 7 năm, có thể loại bỏ cây ở giữa, đảm bảo mật độ giữa các cây mít luôn thông thoáng, giúp cây phát triển và đậu trái tốt hơn. 4. Trồng và chăm sóc: - Cách trồng: Rút nhẹ túi đựng bầu ra bỏ, đặt bầu đất vào hố trồng và lấp đất lại, không làm vỡ bầu, đứt rễ. Nếu đất khô phải tưới cho cây ngay, dùng rơm, rạ, cỏ rác... đậy xung quanh bầu để giữ ẩm. Cây cao, ốm yếu dùng cọc cắm cố định cho cây khỏi ngã đổ. Trồng cây con vào hố - Tưới nước: Tháng đầu sau khi trồng, nếu khô hạn phải tưới thường xuyên 2-3 ngày/ lần. Sau đó, có thể tưới 4-5 ngày/ lần. Từ năm thứ hai về sau, tưới cho cây vào giai đoạn mới bón phân và những tháng quá khô hạn. Mít Thái rất sợ úng nên vào mùa mưa lũ, phải kiểm tra kênh mương cống rãnh và có kế hoạch chống úng. - Bón phân: a. Bón lót: 0,3 - 0,5kg vôi bột + 3kg phân chuồng hoai mục  + 400 g phân lân cao cấp/ hố. b. Thời kỳ kiến thiết cơ bản: + Năm thứ nhất: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One +20g NPK 20-10-15 /cây/ lần bón. + Năm thứ hai: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One + 70g NPK (16-16-8)/cây/ lần bón. + Năm thứ ba: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One + 80g NPK (20-20-15)/cây/ lần bón. Đặc biệt, trong thời kỳ kiến thiết cơ bản có thể sử dụng thêm phân phun qua lá hoặc tưới gốc Bio Mít liều lượng 50ml/25 lít. c. Thời kỳ kinh doanh: + Bón lần 1 (sau thu hoạch): Bio One + 100g NPK (20-20-15)/ cây. + Bón lần 2 (khi cây phân hóa mầm hoa): Bio One + 400g NPK (20-20-15)/cây. + Bón lần 3 (khi cây nuôi trái): Bio One + 50g KCl/cây. Đặc biệt, trong khi cây nuôi trái phun thêm Amino Mít định kỳ 10 ngày 1 lần 50ml/25 lít. 5. Tỉa cành, tỉa trái: - Tỉa cành: Tỉa những cành sâu bệnh để cây thông thoáng nhằm tăng năng suất và mang tính thẩm mỹ. Tiến hành tỉa cành khi cây cao khoảng 1 m trở lên, cây còn nhỏ tỉa cành tạo tán 2-3 lần/năm. Cây lớn mỗi năm một lần khi thu hoạch trái xong. Cách tỉa cành mít như sau: + Cắt bỏ các cành gần sát mặt đất (từ 40 cm trở xuống). + Tỉa bỏ bớt các cành cấp 2, cấp 3... cho cây vừa đẹp vừa thoáng. + Giữ lại cành cấp 1 cách gốc khoảng 40 cm trở lên, chọn các cành mọc theo các hướng khác nhau, cành trên cách cành dưới khoảng 40 – 50 cm, tạo thành tầng không quá 5 cành cấp 1. - Tỉa trái: Tỉa bớt trái xấu, trái sâu bệnh, trái nhỏ và cả những trái bình thường cho mật độ trái phù hợp với từng cây. Tỉa trái +    Khi cây 1 năm tuổi: nên tỉa bỏ chỉ chừa một trái/lứa. +    Năm thứ hai: để 2 trái/lứa, thu hoạch được 4 trái/năm. +    Năm thứ ba: để 3 trái/lứa, một năm 2 lứa, sẽ được 6 trái và như thế tăng số trái/cây theo từng năm  tuổi. 6. Phòng trừ sâu, bệnh hại mít Thái:  6.1. Bệnh hại: a. Bệnh thối nhũn - Cây con ở vườn ươm có độ ẩm cao, quá rậm rạp dễ bị bệnh và bệnh lây lan rất nhanh. Bệnh có thể do nấm Rhizoctonia solani, Sclerotium, Pythium gây nên. - Trên thân gốc và bề mặt vật liệu nuôi cây có nhiều hạch nấm tròn to, nhỏ dầy đặc và lây lan nhanh. Bệnh làm teo gốc, thân lá có đoạn tươi xanh và phần non chết gục như bị luộc trong nước nóng. - Phòng bệnh: Sử dụng phân hoai mục. Tạo thông thoáng, khô ráo và thoát nước tốt. Xử lý nguyên vật liệu trong vườn ươm bằng các loại thuốc có chứa các hoạt chất như Metalaxyl  + Mancozeb  (BioRosamil 72WG),... - Trị bệnh bằng các loại thuốc có chứa các hoạt chất: Cyproconazole, Difenoconazole (Amity top 500SC). b. Bệnh thối gốc chảy nhựa - Bệnh xảy ra trên các vườn mít quá ẩm ướt và có nhiều loại sâu hại chích hút nhựa cây, gây những vết thương và là cơ hội tốt cho nấm Phytopthora xâm nhập. - Bệnh thể hiện ở vùng gốc có nhiều vết loét, nước dịch từ bên trong chảy rỉ ra, vỏ vùng gốc bị thối từng mảng to, bề mặt lớp gỗ ẩm ướt và thâm đen. Lá vàng, rụng và cây chết. Thường khi phát hiện được thì bệnh ở tình trạng nặng, khó chữa trị. - Cách phòng hữu hiệu nhất là trồng cây trên đất cao ráo, thoát nước tốt. Bảo vệ các thiên địch để hạn chế mật độ sâu rầy gây hại, khi cần thiết dùng các loại thuốc hóa học có chứa các hoạt chất để phun xịt như Metalaxyl  + Mancozeb  (BioRosamil 72WG) kết hợp với Pyramos 40SL. 6.2. Sâu hại: a. Sâu đục thân, đục cành Thành trùng đẻ trứng trên lá non, trái non sau đó đục vào thân cành. Phun Vua sâu vào giai đoạn ra lá non, trái non. b. Ruồi đục trái  Đẻ trứng vào trái già, gây thối nhũn trái. Nên dùng chất dẫn dụ sinh học để diệt ruồi đực. Bao trái Bao trái c. Sâu đục trái Gây hại nặng trên mít làm giảm chất lượng và sản lượng. Thường ở các phần tiếp giáp các trái hay giữa trái tiếp giáp với thân, bị gây hại nặng nhất. Trái có thể bị hư hỏng hay bị rụng sớm. Không nên dùng biện pháp xử lý thuốc hóa học mà dùng biện pháp sinh học để phòng trừ sự gây hại hay bao trái vào cuối giai đoạn trái rụng sinh lý. d. Rầy, rệp Có rất nhiều loài gây hại trên mít, chúng chích hút nhựa lá non, đọt non, trái làm lá quăn queo, cây chậm lớn, trái dị hình và kèm theo là nấm đốm bồ hóng tấn công làm giảm khả năng quang hợp của cây và trái không đẹp. Khi trồng ở nơi cao ráo thường bị rệp sáp tấn công ở phần gốc và rễ. Dùng các loại thuốc hóa học có các hoạt chất sau đây để trị rầy rệp khi điều tra có mật số cao: Pymetrozine (Chets 555),... 6.3. Phòng ngừa hiện tượng xơ đen: Giống cây mít Thái Lan thường bị xơ đen, da không bóng, hình dạng bên ngoài vẫn phát triển bình thường. Trên cùng một cây có thể có trái bệnh, trái không bệnh. Nguyên nhân có thể do thiếu canxi – do mưa quá nhiều khiến canxi trong đất bị hao hụt. Do đó, trước khi cây ra hoa và trong thời gian ra hoa, cần bổ sung canxi cho mít. Loại canxi tốt nhất là canxi lỏng, phun lá và tưới gốc giai đoạn mít ra nụ và cứ định kỳ 2 tháng phun lại 1 lần đến khi thu hoạch ( Canxi Bo Delta ). Trái mít bị sơ đen 7. Thu hoạch: Cây mít sau trồng 3 năm đã cho quả. Từ khi ra hoa đến trái già khoảng 5 tháng. Quả mít già các gai quả sẽ nở căng, vỏ quả chuyển từ màu xanh non sang xanh vàng, nhựa mủ lỏng và trong, vỗ tay vào mặt quả có tiếng bộp bộp. Nếu vận chuyển đi xa thì thu quả già. Nếu thu quả ăn ngay thì đợi cho quả có mùi thơm. Thu quả quá sớm, quả còn non sẽ kém chất lượng. Thu quá muộn dễ bị thối quả. Trái mít đã thu hoạch   Một số sản phẩm liên quan Thuốc trừ sâu, bệnh      Chi tiết sản phẩm: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray Phân bón lá bổ sung vi lượng              Công ty cổ phần BVTV Delta    
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA