KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Kỹ thuật trồng Mít Thái
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng Mít Thái
KỸ THUẬT TRỒNG MÍT THÁI - Mít Thái siêu sớm là giống mít mới xuất hiện những năm gần đây, là giống cây dễ trồng, ít công chăm sóc, ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, đậu trái quanh năm. - Đặc điểm nổi bật của cây mít Thái là cho thu hoạch rất nhanh. Từ lúc trồng đến lúc cho thu hoạch lứa đầu tiên chỉ mất khoảng 12-15 tháng. Cây đậu trái quanh năm nhất là vào mùa hè. Trái mít khi chín có trọng lượng từ 10-15 kg, bên trong có múi khá to và mọng, ăn thơm ngọt đậm. Bên cạnh đó, mít Thái giàu chất dinh dưỡng như vitamin A, C, canxi, sắt, kali, ma-giê và nhiều dinh dưỡng khác, do đó rất có lợi cho sức khỏe người dùng. - Tuy mít Thái dễ trồng nhưng để trồng thành công cây mít Thái, cần lưu ý một số kỹ thuật sau: 1. Chọn đất và chuẩn bị đất trồng - Mít là cây dễ tính, có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, gồm: Đất đỏ bazan, phù sa, đất xám, đất đồi núi… - Tuy nhiên, đất trồng mít phải thoát nước tốt, có tầng canh tác sâu, mít chịu úng kém, ở các vùng đất thấp, khi trồng phải lên líp và đắp mô cao từ 50 – 70 cm. Đào hố trồng cây mỗi hố nên đào với kích thước khoảng 65x65x65 cm - Bón lót: 0,3 - 0,5kg vôi bột + 3kg phân chuồng hoai mục  + 400 g phân lân cao cấp/ hố.   - Ủ hố trồng khoảng 20 – 30 ngày sau đó tiến hành trồng cây giống. 2. Chọn giống Không nên nhân giống bằng hạt vì bị lai giống và cây lâu cho trái. Nên sử dụng cây ghép có đường kính gốc ghép từ 1 – 1,5 cm, cành ghép cao 20 – 30 cm (kể từ vết ghép), cây khỏe mạnh, sạch bệnh nhưng phải là dòng F1 thuần chủng thì mới đảm bảo về năng suất và chất lượng. Nên chọn cây có bộ rễ phát triển mạnh; lá đang giai đoạn già; vết ghép tiếp hợp tốt. Cây mít giống 3. Thời vụ và khoảng cách trồng: - Thời vụ trồng: để cây sinh trưởng và phát triển có hiệu quả nhất, nên trồng vào đầu mùa mưa, nghĩa là từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch. - Khoảng cách trồng: Do mít Thái có khả năng cho trái sớm nên có thể trồng theo mật độ dày, khoảng 3,5m x 3,5 m hoặc 4 m x 4 m. Sau khi thu hoạch mít từ 5 – 7 năm, có thể loại bỏ cây ở giữa, đảm bảo mật độ giữa các cây mít luôn thông thoáng, giúp cây phát triển và đậu trái tốt hơn. 4. Trồng và chăm sóc: - Cách trồng: Rút nhẹ túi đựng bầu ra bỏ, đặt bầu đất vào hố trồng và lấp đất lại, không làm vỡ bầu, đứt rễ. Nếu đất khô phải tưới cho cây ngay, dùng rơm, rạ, cỏ rác... đậy xung quanh bầu để giữ ẩm. Cây cao, ốm yếu dùng cọc cắm cố định cho cây khỏi ngã đổ. Trồng cây con vào hố - Tưới nước: Tháng đầu sau khi trồng, nếu khô hạn phải tưới thường xuyên 2-3 ngày/ lần. Sau đó, có thể tưới 4-5 ngày/ lần. Từ năm thứ hai về sau, tưới cho cây vào giai đoạn mới bón phân và những tháng quá khô hạn. Mít Thái rất sợ úng nên vào mùa mưa lũ, phải kiểm tra kênh mương cống rãnh và có kế hoạch chống úng. - Bón phân: a. Bón lót: 0,3 - 0,5kg vôi bột + 3kg phân chuồng hoai mục  + 400 g phân lân cao cấp/ hố. b. Thời kỳ kiến thiết cơ bản: + Năm thứ nhất: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One +20g NPK 20-10-15 /cây/ lần bón. + Năm thứ hai: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One + 70g NPK (16-16-8)/cây/ lần bón. + Năm thứ ba: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One + 80g NPK (20-20-15)/cây/ lần bón. Đặc biệt, trong thời kỳ kiến thiết cơ bản có thể sử dụng thêm phân phun qua lá hoặc tưới gốc Bio Mít liều lượng 50ml/25 lít. c. Thời kỳ kinh doanh: + Bón lần 1 (sau thu hoạch): Bio One + 100g NPK (20-20-15)/ cây. + Bón lần 2 (khi cây phân hóa mầm hoa): Bio One + 400g NPK (20-20-15)/cây. + Bón lần 3 (khi cây nuôi trái): Bio One + 50g KCl/cây. Đặc biệt, trong khi cây nuôi trái phun thêm Amino Mít định kỳ 10 ngày 1 lần 50ml/25 lít. 5. Tỉa cành, tỉa trái: - Tỉa cành: Tỉa những cành sâu bệnh để cây thông thoáng nhằm tăng năng suất và mang tính thẩm mỹ. Tiến hành tỉa cành khi cây cao khoảng 1 m trở lên, cây còn nhỏ tỉa cành tạo tán 2-3 lần/năm. Cây lớn mỗi năm một lần khi thu hoạch trái xong. Cách tỉa cành mít như sau: + Cắt bỏ các cành gần sát mặt đất (từ 40 cm trở xuống). + Tỉa bỏ bớt các cành cấp 2, cấp 3... cho cây vừa đẹp vừa thoáng. + Giữ lại cành cấp 1 cách gốc khoảng 40 cm trở lên, chọn các cành mọc theo các hướng khác nhau, cành trên cách cành dưới khoảng 40 – 50 cm, tạo thành tầng không quá 5 cành cấp 1. - Tỉa trái: Tỉa bớt trái xấu, trái sâu bệnh, trái nhỏ và cả những trái bình thường cho mật độ trái phù hợp với từng cây. Tỉa trái +    Khi cây 1 năm tuổi: nên tỉa bỏ chỉ chừa một trái/lứa. +    Năm thứ hai: để 2 trái/lứa, thu hoạch được 4 trái/năm. +    Năm thứ ba: để 3 trái/lứa, một năm 2 lứa, sẽ được 6 trái và như thế tăng số trái/cây theo từng năm  tuổi. 6. Phòng trừ sâu, bệnh hại mít Thái:  6.1. Bệnh hại: a. Bệnh thối nhũn - Cây con ở vườn ươm có độ ẩm cao, quá rậm rạp dễ bị bệnh và bệnh lây lan rất nhanh. Bệnh có thể do nấm Rhizoctonia solani, Sclerotium, Pythium gây nên. - Trên thân gốc và bề mặt vật liệu nuôi cây có nhiều hạch nấm tròn to, nhỏ dầy đặc và lây lan nhanh. Bệnh làm teo gốc, thân lá có đoạn tươi xanh và phần non chết gục như bị luộc trong nước nóng. - Phòng bệnh: Sử dụng phân hoai mục. Tạo thông thoáng, khô ráo và thoát nước tốt. Xử lý nguyên vật liệu trong vườn ươm bằng các loại thuốc có chứa các hoạt chất như Metalaxyl  + Mancozeb  (BioRosamil 72WG),... - Trị bệnh bằng các loại thuốc có chứa các hoạt chất: Cyproconazole, Difenoconazole (Amity top 500SC). b. Bệnh thối gốc chảy nhựa - Bệnh xảy ra trên các vườn mít quá ẩm ướt và có nhiều loại sâu hại chích hút nhựa cây, gây những vết thương và là cơ hội tốt cho nấm Phytopthora xâm nhập. - Bệnh thể hiện ở vùng gốc có nhiều vết loét, nước dịch từ bên trong chảy rỉ ra, vỏ vùng gốc bị thối từng mảng to, bề mặt lớp gỗ ẩm ướt và thâm đen. Lá vàng, rụng và cây chết. Thường khi phát hiện được thì bệnh ở tình trạng nặng, khó chữa trị. - Cách phòng hữu hiệu nhất là trồng cây trên đất cao ráo, thoát nước tốt. Bảo vệ các thiên địch để hạn chế mật độ sâu rầy gây hại, khi cần thiết dùng các loại thuốc hóa học có chứa các hoạt chất để phun xịt như Metalaxyl  + Mancozeb  (BioRosamil 72WG) kết hợp với Pyramos 40SL. 6.2. Sâu hại: a. Sâu đục thân, đục cành Thành trùng đẻ trứng trên lá non, trái non sau đó đục vào thân cành. Phun Vua sâu vào giai đoạn ra lá non, trái non. b. Ruồi đục trái  Đẻ trứng vào trái già, gây thối nhũn trái. Nên dùng chất dẫn dụ sinh học để diệt ruồi đực. Bao trái Bao trái c. Sâu đục trái Gây hại nặng trên mít làm giảm chất lượng và sản lượng. Thường ở các phần tiếp giáp các trái hay giữa trái tiếp giáp với thân, bị gây hại nặng nhất. Trái có thể bị hư hỏng hay bị rụng sớm. Không nên dùng biện pháp xử lý thuốc hóa học mà dùng biện pháp sinh học để phòng trừ sự gây hại hay bao trái vào cuối giai đoạn trái rụng sinh lý. d. Rầy, rệp Có rất nhiều loài gây hại trên mít, chúng chích hút nhựa lá non, đọt non, trái làm lá quăn queo, cây chậm lớn, trái dị hình và kèm theo là nấm đốm bồ hóng tấn công làm giảm khả năng quang hợp của cây và trái không đẹp. Khi trồng ở nơi cao ráo thường bị rệp sáp tấn công ở phần gốc và rễ. Dùng các loại thuốc hóa học có các hoạt chất sau đây để trị rầy rệp khi điều tra có mật số cao: Pymetrozine (Chets 555),... 6.3. Phòng ngừa hiện tượng xơ đen: Giống cây mít Thái Lan thường bị xơ đen, da không bóng, hình dạng bên ngoài vẫn phát triển bình thường. Trên cùng một cây có thể có trái bệnh, trái không bệnh. Nguyên nhân có thể do thiếu canxi – do mưa quá nhiều khiến canxi trong đất bị hao hụt. Do đó, trước khi cây ra hoa và trong thời gian ra hoa, cần bổ sung canxi cho mít. Loại canxi tốt nhất là canxi lỏng, phun lá và tưới gốc giai đoạn mít ra nụ và cứ định kỳ 2 tháng phun lại 1 lần đến khi thu hoạch ( Canxi Bo Delta ). Trái mít bị sơ đen 7. Thu hoạch: Cây mít sau trồng 3 năm đã cho quả. Từ khi ra hoa đến trái già khoảng 5 tháng. Quả mít già các gai quả sẽ nở căng, vỏ quả chuyển từ màu xanh non sang xanh vàng, nhựa mủ lỏng và trong, vỗ tay vào mặt quả có tiếng bộp bộp. Nếu vận chuyển đi xa thì thu quả già. Nếu thu quả ăn ngay thì đợi cho quả có mùi thơm. Thu quả quá sớm, quả còn non sẽ kém chất lượng. Thu quá muộn dễ bị thối quả. Trái mít đã thu hoạch   Một số sản phẩm liên quan Thuốc trừ sâu, bệnh      Chi tiết sản phẩm: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray Phân bón lá bổ sung vi lượng              Công ty cổ phần BVTV Delta    
Kỹ thuật trồng ớt
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng ớt
KỸ THUẬT TRỒNG ỚT 1. Chọn giống: - Giống Hiểm lai 207, số 1 và 131, Tên lửa: Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-5 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/ cây, chống chịu bệnh thán thư khá. - Giống TN 16: cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6 cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm. - Giống Sừng vàng Châu Phi: Bắt đầu thu hoạch 105 ngày sau khi gieo, trái to, dài 12-13 cm đường kính trái 1,2-1,4 cm, trọng lượng trung bình trái 15-16 g, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, đẹp, cứng, rất cay, mùi thơm, ít rụng trái non, năng suất trung bình 3-4 tấn/ 1000m2. 2. Thời vụ - Có thể trồng quanh năm, tuy nhiên mùa nắng tốt hơn mùa mưa. - Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1dl và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên bờ đất bờ liếp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài. - Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh. - Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5, trồng tháng 5-6 thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư. 3. Chuẩn bị đất - Chọn đất cao, thoát nước tốt. Cuốc đất, bón vôi, lên liếp rộng 1,0-1,2 m, mùa nắng cao 20 cm, lối đi 0,5 m, mùa mưa liếp cao hơn, dạng mui ghe vì ớt chịu úng kém, giữa liếp cao hai bên thấp dần. Bón phân lót, xới trộn đều, mặt liếp phải làm bằng phẳng để rễ dễ phát triển và màng phủ lâu hư. - Rảy phân lót: nên bón lót lượng phân khá nhiều vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại cạnh tranh. Có thể giảm bớt 30% lượng phân so với không dùng màng phủ. - Đậy màng phủ: Tưới thật đẫm nước khi đậy màng phủ, trên 1000 m2 dùng 1,5-2 cuộn màng phủ, chiều dài mỗi cuộn 400m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống. Nếu liếp trồng một hàng dùng màng phủ  khổ rộng 1,0-1,2 m, liếp trồng 2 hàng dùng màng phủ khổ 1,2-1,6 m, nên phủ kín chân liếp thì hiệu quả càng cao, dùng que ghim mé màng phủ tránh gió tốc. 4. Gieo trồng a. Chuẩn bị cây con - Lượng hạt giống đủ gieo cho 1000m2 từ 15-25 g (150-160 hạt/g). Giá thể ươm cây con gồm mụn xơ dừa + tro trấu + phân chuồng hoai + 10kg super lân, trộn đều cho nước đủ ẩm. - Dùng khay ươm lắp đầy giá thể, gieo hạt thẳng vào khay. Cây con đặt trên giàn cách mặt đất 0,5-1 m, đổ lên trên một lớp tro dày 5-10 cm để dễ chăm sóc và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại cây con. - Hạt ớt thường nảy mầm chậm 6-10 ngày sau khi gieo, cây con cấy vào lúc 25-35 ngày tuổi.     b. Trồng cây: - Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50 x (30-50) cm, mật độ 3000-4000 cây/ 1000m2, nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa 70 x (50-60) cm, mật độ 2000-2500 cây/ 1000m2. - Trồng buổi chiều mát, nhẹ nhàng để tránh vỡ đất xung quanh rễ, lắp đất vừa ngang miệng bầu đất, rãi thuốc có mùi hôi ngay lỗ trồng nhằm tránh dế hay sâu ăn tạp hại cây con c. Chăm sóc - Bón phân: Loại lượng và thời kỳ phân bón có thể gia giảm tùy sự sinh trưởng cây ớt với lượng phân nguyên chất khuyến cáo cho 1ha là 220,3 kg N – 180 kg P2O5 – 240 kg K2O. Bảng: Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho cây ớt (kg/ha) Loại phân Tổng số Bón lót Các giai đoạn bón thúc 20-25 NSKT 55-60 NSKT 80-85 NSKT 100-110 NSKT Vôi bột 1500 1500 -       Phân hữu cơ vi sinh 2000 2000 -       NPK (20-20-15) 900 300 150 150 200 100 KCl 175 - 35 52,5 52.5 35 Calcium nitrate 135 - 27 40,5 40,5 27 Canxi Bo   - - Chia làm nhiều lần phun Ghi chú: NSKT: ngày sau khi trồng - Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân mỗi lần một bên hàng ớt hoặc đục lỗ màng phủ giữa 2 gốc ớt. - Phun bổ sung phân bón lá: Canxi Bo (50ml/ bình 25 lít) định kỳ khoảng 10 ngày/ lần để hạn chế thối chóp đuôi trái do tiếu canxi. d. Tươi nước: Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh. Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít. Nếu trồng trên nền đất lúa thì tưới thấm là phương pháp hiệu quả nhất, khoảng 3-5 ngày tưới/ lần, mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để ứ đọng lâu. e. Làm giàn: Giàn giữ cho cây đứng vững, cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái. Giai đoạn cây ớt khoảng 40-45 ngày tuổi dùng cọc cắm dọc theo hàng ớt khoảng 3 m/cọc, sau đó dùng dây gân căng dọc theo hàng ớt. f. Tỉa nhánh: Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành (chán ba) đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng, các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng. 5. Phòng trị sâu bệnh - Bọ trĩ, rầy phấn trắng, rầy mềm, sâu đục trái …. phun VDC PENALDUC 145EC và  ruồi đục trái, sâu đục trái phun Vua sâu          - Bệnh do vi khuẩn : đốm lá vi khuẩn, bệnh héo xanh phun Pyramos 40SL ( 35 - 40ml cho 1 bình 25 lít). - Bệnh do nấm: bệnh thán thư, bệnh héo vàng, bệnh phấn trắng phun BioRosamil 72WG (75 g/ bình 25 lít), Unizebando 800WP (75 g/ bình 25 lít), Amity top 500SC  (15 – 25 ml/bình 25 lít), Avinduc 50SC (50ml/ bình 25 lít)             6. Thu hoạch Thu hoach khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ớt cay cho thu hoạch khoảng 35-40 ngày sau khi trổ hoa (khoảng 85 ngày sau khi gieo đối với ớt hiểm và 100-110 ngày sau khi gieo đối với ớt sừng), ở các lứa rộ thu hoạch thường cách 3-5 ngày thu 1 lần.   Công ty cố phần BVTV Delta
Phân bón acid humic
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Phân bón acid humic
PHÂN BÓN ACID HUMIC 1. THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT CỦA ACID HUMIC - Acid humic là một loại hợp chất hữu cơ từ di cốt động thực vật (chủ yếu là thực vật) trải qua quá trình phân giải và chuyển hóa của vi sinh vật và 1 loạt quá trình hóa học mà hình thành. - Nguyên tố cấu thành acid humic gồm có: Hydro, oxy, nitơ, lưu huỳnh. - Acid humic màu nâu đen hoặc đen, dạng bột không định hình, trong điều kiện chất lỏng giống như nước không kết dính. - Acid humic có thể tan chảy trong 1 số dung dịch acid kiềm, muối, nước, phân giải thành một số chất tính kiềm như: KOH, NH4OH, NaCO3, Na4P2O2 và muối trung tính (NaF, Na2C2O4) và chất acid yếu: oxalic acid, acid chanh, benzoic acid, 1 số hữu cơ lan: ancohol, aceton, và dung dịch hỗn hợn 5 loại NaOH. - Acid humic là 1 loại thể keo thân thiện với nước, ở nồng độ thấp là dung dịch không dính, ở nồng độ cao là 1 loại dung dịch keo. - Kết cấu của acid humic có: acrboxy và phenolic-carboxyl khiến nó có tính acid yếu. - Acid humic còn có khả năng kết hợp với 1 số ion kim loại Al3+, Fe2+, Cu2+, Cr3+ làm thành hợp chất có lợi cho cây trồng. - Hoạt tính sinh lý của acid humic là kích thích cây trồng sinh trưởng và trao đổi chất, cải thiện thực chất cây quả và khả năng kháng bệnh. 2. ỨNG DỤNG ACID HUMIC TRONG NÔNG NGHIỆP a. Cải thiện đất đai, kích thích cây trồng sinh trưởng. - Acid humic là loại vật chất xốp có thể cải thiện loại đất kết cấu hạt, điều tiết tính trạng nước phân, khí nhiệt, nâng cao dung lượng trao đổi của đất, điều tiết độ kiềm acid của của đất để đạt sự cân bằng. Sự hấp thụ acid humic làm giảm thiểu vật chất có hại trong đất ( bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng và các chất độc hại khác) nâng cao năng lực tự làm sạch của đất, giảm thiểu ô nhiễm. Đồng thời acid humic còn có tính keo, có thể cải thiện được quần thể vi sinh trong đất, thích nghi với vi khuẩn có ích sinh sôi nảy nở. - Kích thích cây trồng trao đổi chất, kích thích hạt giống nảy mầm, cây non phát triển nhanh, rễ phát triển gốc cành khỏe, tác dụng quang hợp được tăng cường, tăng nhanh hấp thụ vận chuyển chất dinh dưỡng. - Có năng lực trao đổi và hấp thụ rất mạnh làm giảm tổn thất đạm amon, nâng cao tỷ lệ sử dụng đạm có tác dụng điều tiết ure, làm chậm sự phân gải ure giảm thiểu ure bốc hơi. - Tăng hiệu quả đối với phân lân, kali. - Nâng cao hoạt tính của các nguyên tố trung vi lượng như boron, canxi, kẽm, mangan, đồng. b. Nâng cao hiệu suất thuốc bảo vệ thực vật giảm thiểu độc hại của thuốc, bảo vệ môi trường. MỘT SỐ ẢN PHẨM NỔI BẬT https://congtydelta.com/san-pham/536/humic-9999-dang-bot-tan-80-dt https://congtydelta.com/san-pham/533/bio-one-dt-goi-12kg-x-20-goi-1-thung https://congtydelta.com/san-pham/574/khoang-nui-lua-tui-1-kg Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon     Công ty cổ phần BVTV Delta  
Phòng trừ bệnh do vi rút và vi khuẩn hại gừng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Phòng trừ bệnh do vi rút và vi khuẩn hại gừng
PHÒNG TRỪ BỆNH DO VI RÚT VÀ VI KHUẨN HẠI GỪNG Tên khoa học: Zingiber officinale Hiện nay, việc sản xuất gừng đang bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây hại như vi rút, vi khuẩn, nấm và tuyến trùng. Trong số đó, vi khuẩn là tác nhân gây hại quan trọng nhất, gây héo và thối mềm ở gừng từ đó làm giảm sản lượng và chất lượng của củ gừng. 1. Bệnh khảm do virus  Tác nhân: do virus CMV (Cucumber Mosaic Virus ) được truyền bệnh qua môi giới là Rầy mềm. - Triệu chứng + Ở giai đoạn đầu với các vết khảm màu vàng và xanh đen song song với gân lá, cây còi cọc ở giai đoạn cuối nhiễm bệnh. + Sự xâm nhiễm của virus này trên gừng làm giảm năng suất củ nghiêm trọng. Lá gừng bị khảm - Quá trình lây nhiễm: qua các dụng cụ nông nghiệp, côn trùng chích hút, đặc biệt do rầy mềm chích hút. - Phòng trừ → Thăm ruộng thường xuyên để phát hiện sớm và tiêu hủy các cây bị nhiễm bệnh. → Phòng trừ rầy mềm. 2. Bệnh héo do vi khuẩn - Tác nhân: do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra + Là bệnh gây hại nghiêm trọng nhất trên cây gừng, bệnh truyền qua đất và hom giống.  Gây hại nặng và cực kỳ nguy hiểm đối với gừng trồng ở các vùng nhiệt đới. + Bệnh lây lan nhanh chóng trong điều kiện mưa nhiều và thời tiết ấm áp. - Triệu chứng + Đầu tiên lá tóp lại nhưng vẫn còn xanh, các lá ở dưới bị trước và lan dần lên trên. Bệnh nặng làm lá bị vàng (lá vàng từ dưới lên trên), sau đó cây héo cụp xuống, có thể quan sát thấy những vùng mọng nước xuất hiện ở cổ rễ nơi tiếp giáp giữa thân giả và củ. + Mổ dọc thân cây bệnh có những sọc đen chạy dài, củ sậm màu hơn và xuất hiện các vùng nhũn nước chứa các túi dịch vi khuẩn. + Khi cắt củ gừng bị bệnh ngâm vào ly nước trong sẽ xuất hiện dòng tuôn vi khuẩn màu trắng sữa. + Ở cây bị bệnh nặng, khi nhổ bụi gừng lên gần như cả củ đều bị thối, phần non bị thối trước trong 5-7 ngày, phần già bị thối chậm hơn. a. Triệu chứng cây héo xanh, b. Củ gừng bị thối, c. Dòng tuôn vi khuẩn - Quá trình lây nhễm + Bệnh tồn tại trong đất, hom giống và xác bã thực vật xâm nhiễm qua các vết thương cơ học hoặc do tuyến trùng. + Bệnh lây lan qua dụng cụ nông nghiệp, nước tưới, nước mưa và xác bã thực vật nhiễm bệnh. - Phòng trị → Biện pháp vật lý: Xử lý giống bằng nước ấm có nhiệt độ 500C trong 30 phút trước khi trồng. → Biện pháp hóa học: 30 ngày sau khi trồng phun ngừa thuốc đặc trị vi khuẩn như Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) hoặc Kasuduc 3SL (35-40ml/ bình 25 lít), những lần sau phun cách nhau 15 ngày. 3. Bệnh thối củ do vi khuẩn Tác nhân: do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi. - Triệu chứng: Bệnh làm củ gừng mềm dần và thối, có mùi thối đặc trưng. Triệu chứng thối củ - Quá trình lây nhiễm + Bệnh gây hại nghiệm trọng ở các vùng thường xuyên ngập nước, qua các vết thương có sẵn hoặc qua giống nhiễm bệnh. + Vi khuẩn bắt đầu ăn chất lỏng tiết ra từ các tế bào bị thương và sinh sôi. Vi khuẩn tiết ra enzym pectolytic làm phân hủy và phá vỡ các tế bào cung cấp thêm thức ăn cho vi khuẩn. Thường thì phần vỏ ngoài không bị thối, cho đến khi bị nứt ra phần thối bên trong lây lan cho các củ gừng bên cạnh. - Phòng trị + Biện pháp vật lý → Xử lý giống bằng nước ấm có nhiệt độ 500C trong 30 phút trước khi trồng. → Vệ sinh đồng ruộng, dọn dẹp tàn dư thực vật. → Xử lý đất bằng vôi. → Trồng trên đất thoát nước tốt. → Tiêu huỷ cây bệnh tránh lây lan. → Bảo quản nơi thoáng mát sau thu hoạch. + Biện pháp hóa học: xử lý với thuốc đặc trị vi khuẩn như Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) hoặc Kasuduc 3SL (35-40ml/ bình 25 lít).            Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh   Công ty cổ phần BVTV Delta    
Rầy lưng trắng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Rầy lưng trắng
RẦY LƯNG TRẮNG Tên khoa học: Sogatella furcifera, còn có tên khác là Sogata furcifera Họ rầy thân (Dephacidae), bộ cánh đều (Homoptera) 1. TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI  Rầy lưng trắng chích hút cây lúa tạo hiện tượng cháy rầy tương tự như rầy nâu nhưng không truyền bệnh virus cho cây lúa       2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Thành trùng có kích thước cơ thể dài từ 3 – 4 mm, thân màu nâu đen. Giữa ngực trước có một vệt màu vàng lợt. Cánh trong suốt và có một đốm đen ở ngay giữa cạnh sạu của cánh trước, khi cánh xếp lại tạo thành một đốm đen to trên lưng. - Thành trùng cái vừa có dạng cánh ngắn và dạng cánh dài, trong khi rầy đực chỉ có một dạng cánh dài. - Tuổi thọ của thành trùng từ 15 – 20 ngày. - Rầy cái dùng bộ phận đẻ trứng bén nhọn ở cuối bụng rạch bẹ lá hoặc gân lá đẻ thành từng hàng trứng vào trong bẹ cây lúa, mỗi ô từ 5 – 20 cái, một rầy cái có thể đẻ từ 300 – 350 trứng trong vòng hai tuần. - Trứng tương tự trứng rầy nâu nhưng nấp nhọn hơn và dài hơn. - Trứng được đẻ vào trong bẹ lá hay gân chính của lá, gần cổ lá. Thời gian ủ trứng từ 5 – 7 ngày. - Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 15 – 20 ngày. Khi mới nở màu trắng sữa, trông rất giống ấu trùng rầy nâu, nhưng bắt đầu sang tuổi 2 toàn thân rầy có màu xám, giữa bụng ở mặt lưng có một đốm trắng, cuối bụng nhọn hơn phần cuối bụng của rầy nâu 3. TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI - Thành trùng rất thích ánh sáng đèn, nhất là lúc trăng tròn và rầy cánh dài di chuyển đến ruộng lúa rất sớm. Rầy đực thường vũ hóa trước rầy cái từ 2 – 3 ngày. Rầy cái cánh ngắn thường vũ hóa trước rầy cánh dài. Rầy cái của cả 2 dạng cánh đều bắt đầu đẻ trứng từ 3 – 4 ngày sau khi bắt cặp. Các vết đẻ chung quanh ổ trứng bị hư và ngả sang màu nâu đậm lúc trứng gần nở. - Rầy non mới nở tập trung chích hút tại ổ trứng, vài ngày sau phân tán đến hầu hết các bộ phận của cây. Cả thành trùng và ấu trùng đều thích chích hút cây lúa còn non từ giai đoạn mạ đến nhảy chồi, sau đó mật số giảm dần và đến lúc lúa trổ không còn gây hại nhiều cho cây lúa. Rầy lưng trắng chích hút cây lúa tạo hiện tượng cháy rầy tương tự như rầy nâu nhưng không truyền bệnh virus cho cây lúa. 4. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ  Có thể sử dụng các loại thuốc đặc trị rầy như: VDC PENALDUC 145EC, CHETS DUC 555WG        https://congtydelta.com/vdc-penalduc-145ec   https://congtydelta.com/chets-duc-555-wg-7827.html  Bà con cần thăm đồng thường xuyên để có biện pháp phòng trị kịp thời và hiệu quả                                                                                                                 Công ty cổ phần BVTV Delta
Rầy nâu hại lúa
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Rầy nâu hại lúa
RẦY NÂU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC a. Thành trùng + Có 2 dạng cánh + Cánh dài che phủ cả thân, chủ yếu để bay đi tìm thức ăn + Cánh ngắn phủ đến đốt thứ 6 của thân mình, có khả năng đẻ trứng rất cao b. Trứng: được đẻ thành từng hàng vào bên trong bẹ cây lúa, mỗi hàng từ 8-30 cái + Trứng rầy giống hình hạt gạo, dài từ 0,3-0,4mm, mới đẻ màu trắng trong, sắp nở màu vàng. Phía trên đầu trứng có bộ phận che lại gọi là nấp trứng + Thời gian ủ trứng từ 5-14 ngày c. Ấu trùng + Còn gọi là rầy cám, khi mới nở rất nhỏ màu trắng, càng lớn rầy càng chuyển thành màu nâu nhạt + Ấu trùng tuổi lớn rất giống thành trùng cánh ngắn + Ấu trùng rầy nâu có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14-20 ngày 2. TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI + Lúa đẻ nhánh: rầy chích hút nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc theo thân, nếu gây hại nặng làm cho cây vàng còi cọc, khô héo và chết + Lúa từ làm đòng đến trổ: rầy thường tập trung chích hút ở cuống đòng non,làm cây khô héo, hạt và bông lép đen + Lúa chín: Rầy tập trung lên thân ở phần non mềm + Rầy tập trung đẻ trứng ở gốc cây lúa, cách mặt nước từ 10-15 cm + Rầy trưởng thành bị thu hút bởi ánh sáng đèn + Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút nhựa cây lúa. + Khi chích hút chúng tiết enzyme làm cản trở sự di chuyển của nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cho cây lúa khô héo, gây hiện tượng cháy rầy + Truyền tác nhân gây bệnh lùn lúa cỏ,vàng lùn, lùn xoắn lá - Triệu chứng bệnh lùn lúa cỏ: bụi lúa bị lùn đâm rất nhiều chồi nhỏ. Lá lúa hẹp và ngã màu vàng. Trên lá có nhiều vết đỏ màu nâu - Triệu chứng bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá: + Lá lúa bị vàng và có lá xanh đậm hơn có các triệu chứng như xoắn lá, rách lá, gân sưng hoặc có bướu + Chồi lúa bị lùn, góc lá lúa hơi xòe ngang 3. Biện pháp quản lý a. Biện pháp canh tác + Vệ sinh đồng ruộng + Phát sạch gốc rạ, không để lúa chét phát triển + Để ngừa bệnh vàng lùn xoắn lá, nhổ bỏ các bụi bị bệnh + Sử dụng giống kháng + Gieo sạ giống đồng loạt và tập trung trên từng cánh đồng + Không gieo sạ quá dày, chỉ nên sạ từ 100-120kg giống/ha (hoặc 70-80kg/ha nếu sạ hàng) + Bón phân cân đối + Làm cỏ, tỉa, dặm kịp thời để ruộng thông thoáng + Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, theo dõi mật độ rầy nâu để kịp thời xử lý + Nên có thời gian để đất trống để cắt đứt nguồn thức ăn của rầy nâu (20-30 ngày) + Luôn duy trì mực nước thích hợp, để hạn chế rầy nâu chích hút thân lúa b.Biện pháp hóa học Phun thuốc khi mật độ rầy 20-30 con/bụi lúa, kết hợp nâng mực nước trên ruộng cao 5 - 7 cm. Khi mật độ rầy cao (50-60 con/ bụi lúa) phun 2 lần (lần 1 cách lần 2 5-7 ngày) Sản phẩm nổi bật Pha 25gr cho bình 25 lít nước Có thể kết hợp các gốc chấm Abamectin hoặc Emamectin  https://congtydelta.com/vdc-penalduc-145ec   Công ty cổ phần BVTV Delta
Sâu vẽ bùa
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Sâu vẽ bùa
SÂU VẼ BÙA Tên khoa học: Phyllocnistis citrella Stainton Họ Gracillariidae, bộ cánh vảy (Lepidoptera) 1. PHÂN BỐ KÝ CHỦ Loài sâu này chủ yếu gây hại trên nhóm cây cam, quýt, chanh, nhưng mức độ thiệt hại khác nhau tùy theo giống 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Bướm rất nhỏ, dài khoảng 2mm, sải cánh rộng từ 4 – 5 mm. Toàn thân có màu vàng nhạt, hơi có ánh bạc. Cánh trước có dạng hình lá liễu, gốc cánh màu xám nhạt, phần còn lại màu trắng bạc hơi ngả vàng. Từ gốc cánh có hai vân dọc màu đen kéo dài đến giữa cánh. Khoảng 1/3 về phía đầu cánh có một vân xiên giống hình chữ Y. Phần đầu cánh có rìa lông khá dài màu đen. Cánh sau rất hẹp, màu xám đen, hai rìa lông bên ngoài rất dài màu xám nhạt. - Thời gian sống của bướm từ 4 – 5 ngày. Một bướm cái đẻ từ 40 – 50 trứng, - Trứng hình bầu dục dẹp, rất nhỏ, khoảng 0,2 – 0,3 mm. Trứng mới đẻ trong suốt, sắp nở có màu trắng đục hơn ngả vàng. Thời gian ủ trứng từ 2 – 7 ngày. - Sâu mới nở dài khoảng 0,5mm, thân màu xanh nhạt, gần như trong suốt, đầu màu nâu. Sâu lớn đủ sức dài khoảng 4mm, màu vàng xanh, cơ thể không còn trong suốt. Mình sâu dẹp, có 13 đốt, hai đầu thon nhỏ, chân ngực và chân bụng đều thoái hóa, đốt cuối có hình ống dài. - Ở giai đoạn chuẩn bị nhộng, cơ thể sâu không còn dẹp mà chuyển sang dạng hình ống màu trắng ngả vàng đục. Sâu có 4 tuổi, phát triển trong thời gian từ 5 – 20 ngày tùy điều kiện ngoại cảnh. - Nhộng dài từ 2 – 3 mm, hai đầu thon nhỏ, lúc mới hình thành màu vàng nhạt, sau chuyển thành màu nâu vàng với một gai rất nhỏ trên đầu. Nhộng phát triển trong thời gian từ 7 – 15 ngày. 3. TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI - Bướm ít bị thu hút bởi ánh sáng đèn. Ban ngày bướm ẩn trốn trong tán lá cây, ban đêm bay ra hoạt động và đẻ trứng, mạnh nhất từ 19 – 21 giờ. Từ 12 – 15 giờ sau khi bắt cặp bướm cái bắt đầu đẻ trứng. - Khoảng 85% số trứng được đẻ trong vòng 2 ngày đầu. Trứng thường được đẻ ở mặt dưới lá, trung bình 2 – 3 trứng trên một lá hay một chồi non. Phần lớn trứng tập trung hai bên gân chính. Bướm thích đẻ trứng ở những vườn cam, quýt dưới 4 năm tuổi. - Sâu mới nở đục ngay vào dưới biểu bì là và tiếp tục đục ăn thành những đường ngoằn nghèo như đường vẽ trên các lá bùa nên sâu có tên gọi là “sâu vẽ bùa”.  Sâu sống bên trong đường đục và ăn lớp tế bào nhu mô diệp lục. Lớp biểu bì khi mới bị tách khỏi lớp nhu mô thường trong bóng, do đó rất dễ nhầm lẫn với vệt chất nhầy của ốc sên để lại trên mặt lá khi di chuyển. - Lá bị sâu tấn công sẽ quăn queo làm hạn chế rất lớn sự quang hợp, chồi non ngừng tăng trưởng. Ngoài ảnh hưởng trên, những vết thương do sâu đục trên bề mặt lá hoặc chồi sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. Citri phát triển mạnh, gây ra bệnh loét cho cây cam, sau cùng các chồi non sẽ bị hủy diệt. - Các lá cam, quýt hay chanh quăn queo, co rúm do sâu vẽ bùa tạo nên còn là nơi trú ẩn của nhiều loài sâu hại khác. 4. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Nên phòng vào giai đoạn cây ra lá non như vào đầu mùa mưa hoặc sau khi bón phân, tưới nước. - Có thể áp dụng thuốc sớm khi mới vừa có triệu chứng gây hại đầu tiên bằng thuốc B52 DUC 40EC Pha 25ml/ bình 25 lít     Công ty cổ phần BVTV Delta
Đặc tính thực vật của cây tiêu
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Đặc tính thực vật của cây tiêu
CÂY TIÊU Piper nigrum - Cây tiêu có tên khoa học là Piper nigrum thuộc họ Piperaceae. Tiêu được sử dụng nhiều trong đời sống con người như dùng làm gia vị thức ăn, y học (kích thích tiêu hóa, chống lạnh, nôn mửa, tiêu chảy), hương liệu…. - Hạt tiêu là loại gia vị có giá trị kinh tế cao vì được sử dụng với khối lượng lớn trong công nghiệp chế biến đồ hộp và thực phẩm. Hiện nay, Việt Nam đã được Ủy ban Hồ tiêu thế giới xếp vào nhóm nước xuất khẩu Tiêu hàng đầu thế giới. - Ở nước ta, các vùng có tiềm năng phát triển tiêu gồm: + Đông Nam Bộ: Tốt nhất là vùng đất đỏ Bazalt như Lộc Ninh, Bình Long (Bình Phước), Bà Rịa, Xuân Lộc (Long Khánh). + Tây Nguyên: Lâm Đồng (Di linh, Bảo Lộc, Đa Hoai) Đăk Lăk, Pleiku, Buôn Mê Thuộc. + Miền Trung: Khe Sanh, (Quảng Trị), Tiên Phước. + Kiên Giang: Hà Tiên, Phú Quốc. ĐẶC TÍNH THỰC VẬT Rễ Tùy thuộc vào phương pháp nhân giống và chức năng mà chia ra 4 loại rễ. - Rễ trụ          Khi gieo hột, một rễ cái mọc ra trước ăn sâu vào trong đất để lấy nước gọi là rễ cọc. Rễ cọc mọc rất sâu có thể đến 1m. - Rễ cái Khi nhân giống bằng hom, rễ mọc từ thân hom tiêu gọi là rễ cái. Rễ cái có từ 3-5 rễ ăn sâu vào đất để lấy nước. - Rễ con Rễ mọc ra từng chùm từ rễ cái gọi là rễ con. Rễ con thường phát triển nhiều ở tầng đất mặt để lấy dưỡng chất. - Rễ bám Rễ mọc ra từ các đốt thân để bám trên nọc giúp cây tiêu đứng vững gọi là rễ bám hay rễ khí sinh, rễ này hấp thu dưỡng chất không nhiều lắm   b. Thân Thân tiêu thuộc loại thân bò, cọng trụ, có màu hồng lúc non, khi già có màu xanh hay xám, có thể dài trên 10 m. Thân tiêu được cấu tạo là những bó mạch nên rất mẫn cảm với yếu tố nước. Sự thay đổi hàm lượng nước trong môi trường đất đều có ảnh hưởng đến sự trương nước của cây tiêu. c. Nhánh Tùy thuộc vào chức năng mà trên cây tiêu có thể chia ra 3 loại nhánh: + Nhánh vượt Là những nhánh mọc rất khỏe, đâm thẳng ra từ những mắt trên than chính làm thành góc khoảng 450 với thân. Khi cây còn nhỏ, nhánh này dùng để tạo tán cho tiêu. Nhưng khi cây đã lớn thì cần cắt bỏ vì tiêu hao nhiều dưỡng chất và dễ bị sâu bệnh tấn công. Lấy cành này làm hom giống lâu cho trái, nhưng cây tiêu sống lâu + Nhánh ác Là những nhánh mang trái, mọc từ những mắc trên thân chính gần ngọn. Nhánh ác có lóng ngắn, khúc khuỷu. Lấy nhánh này làm hom nhân giống mau cho trái, nhưng mau cổi và cho năng suất không cao. + Nhánh lươn Là nhánh mọc từ những mắt của thân chính ở phần gốc thân gần mặt đất. Những nhánh này thường bò dài trên mặt đất, cho trái kém. Lấy nhánh làm hom nhân giống lâu cho trái, nhưng cây tiêu sống lâu. d. Lá Lá tiêu hình trái tim tròn hay hơi dài, tùy giống lá thuộc loại lá đơn, mọc xen, có lá bẹ làm thành ống bao lấy chồi. Phiến lá có gân chính hình lông chim, rất thơm. Mặt trên lá láng màu xanh đậm hơn mặt dưới. e. Hoa Hoa tiêu có thể lưỡng tính, đơn tính mọc trên một gié hoa đối diện với lá, trung bình có từ 25-5 hoa. Hoa trần, không cuống hoa, gắn ở nách một lá hoa hình dĩa, và trong một lõm.. Có 2 tiểu nhị, bầu noãn có 1 ngăn. f. Trái - Mỗi trái tiêu chỉ có 1 hột tròn, kích thước thay đổi tùy giống. Trái gần như không có cuống, mọc riêng lẽ trên nhánh của gié. Từ khi hoa nở đến khi trái chin mất 6-10 tháng tùy theo màu và điều kiện canh tác. - Có thể chia thành 3 giai đoạn phát triển như sau: + Giai đoạn ra hoa và thụ phấn: từ 1-1,5 tháng + Giai đoạn từ thụ phấn đến khi trái trưởng thành: Từ 3-5 tháng + Giai đoạn từ trưởng thành đến chín: từ 2-3 tháng   Công ty cổ phần BVTV Delta
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA