KIẾN THỨC NHÀ NÔNG

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY XOÀI Mangifera indica L. - Xoài được xem như là cây ăn trái quan trọng chiếm phần lớn thị phần trái cây trong nước, được sử dụng rộng rãi từ trái còn xanh đến trái chín. Diện tích trồng xoài của cả nước năm 2017 vào khoảng hơn 92.000ha với sản lượng 790.000 tấn xoài hàng năm. - Hiện nay, xoài đang được phát triển theo hướng xuất khẩu nên các nhà vườn rất quan tâm đến kỹ thuật canh tác và chăm sóc cây xoài. Giúp tăng năng suất trên vườn xoài và đồng thời tăng thu nhập phát triển kinh tế gia đình. 1. THỜI VỤ Nên trồng vào đầu mùa mưa, từ tháng 5 – 7 dương lịch. Tuy nhiên, nếu đủ nước tưới và che mát, có thể trồng xoài bất cứ lúc nào trong năm. 2. NHÂN GIỐNG - Có nhiều giống xoài đang được trồng ở ĐBSCL như: xoài ăn chín: Xoài Cát Hòa Lộc, Xoài Cát Chu, Xoài Thanh Ca, Xoài Úc và một số giống xoài ăn sống như: Xoài Đài Loan, Xoài Thái, Xoài hòn, Xoài Tượng, Xoài ghép, Xoài Nam Doc Mai, Xoài Keo,… - Có 3 phương pháp nhân giống: trồng bằng hột, cành ghép và trồng bằng cây ghép. - Do trồng bằng hột, thời gian cho trái rất lâu (6 – 8 năm). Nên bà con thường sử dụng giống trồng bằng cây ghép mua tại các cửa hàng giống cây trồng. Cây giống xoài Thái 3. LÀM ĐẤT Lên liếp trồng xoài từ đất ruộng Lên liếp trước khi trồng, tùy vùng có độ cao địa hình khác nhau mà bà con thiết kế liếp cho phù hợp. Vùng ĐBSCL đất thấp và có nhiều sét, dễ bị úng nước nên trồng cây trên mô, đường kính mô từ 80 - 100 cm, cao 30 – 60 cm (tùy thuộc vào cao độ địa hình đất và hệ thống đê bao chống lũ). Đất làm mô có thể là đất bãi bồi ven sông, đất mặt ruộng, đất mặt vườn cây ăn trái. Đào hố trên mô kích thước 60x60x60 cm, bón lót 20kg phân chuồng hoai mục + 200- 300 g vôi bột + 0,5 kg Super Lân vào hố, lấp đất để khoảng 30 ngày mới tiến hành trồng cây. 4. KHOẢNG CÁCH TRỒNG Vì xoài là cây đại thụ có khả năng sống rất lâu (từ 30-50 năm), đồng thời xoài ưa sáng và có trái ở chồi ngoài tán cây, nên không trồng quá dầy. Có thể trồng thưa với khoảng cách 8x8 m hoặc 10x10m thuận lợi cho việc chăm sóc và di chuyển. 5. TRỒNG CÂY - Sau khi ủ hố 1 tháng, bà con đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, bỏ túi nilon và đặt bầu cây vào giữa, lấp đất sao cho vừa bằng cổ rễ, sau đó nén chặt xung quanh. Cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc lại để tránh lay gốc, dẫn đến chết cây. Sau khi trồng, phủ rơm, rác mục xung quanh gốc và tưới nước giữ ẩm cho cây trong tháng đầu để tạo độ ẩm cho rễ phát triển. - Có thể nhúng bầu đất hoặc tưới gốc bằng Bio Delta liều lượng 50ml/ 25 Lít nước để kích thích ra rễ. 6. TỈA CÀNH, TẠO TÁN - Sau khi trồng một thời gian vài tháng (thường là 3 tháng), từ phần chồi ghép có mọc lên 3 tầng lá ( 3 chồi) ta tiến hành hãm ngọn. Từ vị trí hãm, sẽ có nhiều chồi mới mọc lên, ta chỉ để lại 3 chồi khỏe mạnh nhất – gọi là tầng cấp 1. Khi mỗi chồi này mọc được 3 cơi lá tiếp theo, ta tiến hành hãm ngọn lần 2. Tiếp tục như vậy lần thứ 3 thì dừng lại để cây phát triển tự nhiên. Cây xoài con được 4 cơi đọt - Hàng năm tiến hành cắt bỏ các cành mọc sâu trong tán, cành bệnh, cành già cỗi, cành mọc quá gần mặt đất, cuống quả, cành vụn của mùa trước, việc cắt tỉa cành nên tiến hành ngay sau khi thu hoạch. 7. BÓN PHÂN - Phân bón là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc cho trái cách năm của xoài. Sau năm đạt năng suất cao (trúng mùa) cần gia tăng lượng phân bón để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây đủ sức nuôi trái ở năm sau. Bón phân - Bón phân được chia thành 2 giai đoạn: + Giai đoạn kiến thiết (2 năm đầu): Chia thành 2 đợt bón/ năm (tháng 4 – 5 và tháng 11 dl): bón 150 - 300 g phân NPK 16-16-8 và 100 - 200g Urea/ cây/ năm hoặc pha 01 muỗng canh phân NPK 16-16-8 với ½ muỗng Urea/ thùng 10 lít nước, tưới vào 5, 6 gốc, định kỳ 30 ngày/ lần. + Phân trung vi lượng: Bón bằng cách đổ gốc hoặc phun xịt qua lá Bio Delta hoặc Thần dược với liều lượng 50ml/ 25 lít nước, mỗi năm 2-3 lần, tốt nhất là giai đoạn cây đang ra chồi non, ra lá mới. Có thể kết hợp phun chung với thuốc bảo vệ thực vật để giảm công lao động. Phân bón vi lượng: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon + Giai đoạn kinh doanh (năm thứ 3 trở đi): + Sau khi thu hoạch, cắt tỉa cành: 550g – 300g – 240g (N-P-K) tương đương phân Urea 1,2 kg/ cây/ năm, Lân Long Thành: 2,3 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,4 kg/ cây/ năm. Phun phân vi lượng Ruby liều lượng 50ml/ 25 lít nước giúp cây phục hồi sau tổn thương do cắt tỉa cành. + Trước khi ra hoa (tháng 9-10): 180g – 300g – 240g (N-P-K)g/ cây/ năm tương đương phân Urea:0,4 kg/ cây/ năm, Lân Long Thành: 2,3 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,4 kg/ cây/ năm. + Sau đậu trái 30 - 35 ngày: 360g – 300g – 480g (N-P-K) g/ cây/ năm tương đương phân NPK 20-20-15: 1,5 kg/ cây/ năm, Phân Urea: 0,13 kg/ cây/ năm, Kali chlorua: 0,5 kg/ cây/ năm. Phun Canxi Bo và Siêu nuôi trái (50ml/ 25 lít nước) giúp trái to, đẹp màu, hạn chế hiện tượng nứt trái. - Cách bón phân: xới xáo nhẹ đất nơi hình chiếu tán cây, sau đó bón phân lấp đất lại và tưới nước cho cây. 8. XỬ LÝ RA HOA Xem bài Xử lý ra hoa xoài trái vụ: https://congtydelta.com/bai-viet/72/xu-ly-ra-hoa-xoai-trai-vu 9. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH - Xoài có nhiều sâu bệnh, gây thiệt hại nhiều nhất ở giai đoạn cây ra đọt non và lúc trổ bông, nhất là khi xoài trổ bông nghịch vụ trong mùa mưa. - Sâu hại quan trọng như: Rầy bông xoài, Bọ trĩ, Bọ cắt lá, Sâu ăn bông, Ruồi đục trái, Sâu đục trái,…và một số loại thuốc phòng trị như: Penalduc 145EC, Anh hung diệt sâu, Vua sâu,… Thuốc trừ sâu rầy: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray - Bệnh hại quan trọng như: Bệnh thán thư, bệnh phấn trắng, bệnh chết đọt, bệnh bồ hóng, bệnh đốm rong, Bệnh khô hoa, Đốm vi khuẩn, … và một số loại thuốc phòng trị như: Bio Rosamil 72WG, Amity Top 500SC, Pyramos 40SL,… Thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 10. BAO TRÁI Bao trái xoài là vấn đề cần thiết trong hệ thống sản xuất trái cây thương phẩm. Bao trái hạn chế tác động vật lý giữa các trái với nhau, giảm sâu bệnh hại trên trái xoài, tạo mẫu mã đẹp cho trái. Bao trái 11. THU HOẠCH Tùy hình thức tiêu thụ mà nhà vườn chọn thời điểm thu hoạch. Thường sẽ thu hoạch khi trái già tránh dập trái khi vận chuyển đi xa. Trái có thể thu hoạch Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan: Ruồi đục trái xoài: https://congtydelta.com/bai-viet/73/ruoi-duc-trai-xoai Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long: https://congtydelta.com/bai-viet/71/ky-thuat-trong-va-cham-soc-cay-thanh-long Kỹ thuật trồng mít thái: https://congtydelta.com/bai-viet/70/ky-thuat-trong-mit-thai          
Ruồi đục trái xoài
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Ruồi đục trái xoài
RUỒI ĐỤC TRÁI XOÀI Bactrocera sp. Loài này chủ yếu hiện diện ở các quốc gia trồng cây ăn tái vùng Đông Nam Á. Gây hại quan trọng trên nhiều loại cây ăn trái như xoài, nhãn , mận, ổi, chôm chôm, cam,…. 1. Đặc điểm hình thái - Ruồi có cơ thể dài từ 6 – 9 mm, sải cánh rộng khoảng 13mm. - Đầu màu vàng, có dạng hình bán cầu, mặt trước màu nâu đỏ với 6 chấm nhỏ màu đen, phía sau đầu có nhiều lông nhỏ. - Ngực màu nâu đỏ hoặc màu nâu tối. Hai bên ngực có 2 đốm màu vàng ở góc phía trước, kế đến là 2 vệt vàng dài đến đuôi ngực, phần ngực giáp với phần bụng có một vệt màu vàng to. - Bụng có 2 sọc ngang màu vàng, sọc phía trên nhỏ hơn sọc phía dưới, giữa 2 sọc này là một sọc màu đen, đồng thời cũng có một sọc dọc chạy từ sọc vàng cuối cùng đên cuối bụng giống như hình chữ T. - Cánh trong có màu khói,gần cạnh trước có màu đậm hơn. - Ruồi cái có cơ thể to hơn ruồi đực và có bộ phận đẻ trứng dài. Female (Con cái), Male (con đực) - Ruồi sống khoảng 20 – 40 ngày. Sau khi vũ hóa 7 – 14 ngày, ruồi bắt đầu đẻ trứng. Một ruồi cái có thể đẻ khoảng 150 – 200 trứng, trung bình 50 trứng trong vòng 30 ngày. - Trứng ruồi có hình hạt gạo, dài khoảng 1 mm, lúc mới đẻ màu trắng sữa, khi sắp nở chuyển sang màu vàng nhạt. Thời gian ủ trứng từ 1-2 ngày. Trứng ruồi đục trái - Dòi mới nở dài khoảng 1,5 mm, lớn đủ sức dài từ 6 – 8 mm, màu vàng nhạt, khi sắp vũ hóa chuyển sang màu nâu đỏ. Nhộng dài khoảng 5 -7 mm, thời gian nhộng kéo dài từ 10-14 ngày. Vòng đời ruồi đục trái 2. Tập quán sinh sống và cách gây hại - Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc thủng  vỏ trái cây và đẻ trứng vào chỗ tiếp giáp giữa vỏ và thịt, trứng được đẻ thành từng chùm trong một lỗ khoét trên trái. Ruồi cái đẻ trứng vào trái xoài - Dòi nở ra đục ăn thịt trái cây, tuổi càng lớn dòi càng đục sâu vào phía trong trái làm trái bị thối và rụng trái, nơi bị hại có vết thâm khi ấn nhẹ vào dịch nước sẽ rỉ ra (3 ngày sau khi ruồi đẻ trứng). Dòi làm nhộng dưới đất sâu khoảng 3 – 7 cm. Ấu trùng gây hại trái xoài 3. Biện pháp phòng trị - Thu lượm những trái bị ruồi gây hại đem xử lý để giết dòi trong trái. - Đặt bẫy Methyl eugenol để diệt ruồi trưởng thành. - Phun bã mỗi protein trộn thuốc hóa học để giết ruồi trưởng thành trước khi đẻ trứng, khi trái trưởng thành phun định kỳ một lần / tuần. - Sử dụng túi chuyên dùng để bao trái. - Phun thuốc xua đuổi. Bài viết nổi bật Sâu vẽ bùa: https://congtydelta.com/bai-viet/55/sau-ve-bua Sâu hại ớt: https://congtydelta.com/bai-viet/65/quan-ly-sau-hai-tren-ot Xử lý ra hoa xoài trái vụ: https://congtydelta.com/bai-viet/72/xu-ly-ra-hoa-xoai-trai-vu Công ty cổ phần BVTV Delta
Xử lý ra hoa xoài trái vụ
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Xử lý ra hoa xoài trái vụ
XỬ LÝ RA HOA XOÀI   1. Giới thiệu - Trong điều kiện tự nhiên ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cây xoài thường ra hoa tự nhiên vào tháng 12-1 và thu hoạch tập trung từ tháng 4-5. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu thị trường, thì việc cho cây xoài ra hoa trái vụ luôn được sự quan tâm của các nhà vườn. - Theo một số nghiên cứu các biên pháp kích thích ra hoa như: Xông khói (Gonzales, 1923 tại Philippines) ứng dụng tác động của khí CO và CO2 cùng với nhiệt gây ra bởi việc hun khói, kỹ thuật cắt rễ nhằm làm giảm sự sinh trưởng của cây, khấc thân hay khoanh cành, điều khiển sự ra hoa bằng hóa chất, các chất kích thích ra hoa: Paclobutrazol (PBZ), Uniconazol (UCZ), cycocel, ethephon, chlorate kali (KClO3),... - Trong đó, phương pháp xử lý ra hoa bằng chất kích thích Paclobutrazol (PBZ) được áp dụng phổ biến. Tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và sự nhạy cảm của giống, việc xử lý PBZ có thể tạo ra trái mùa nghịch, cho trái sớm, làm giảm hiện tượng cho trái cách năm cũng như những cây ra trái không ổn định. - Paclobutrazol là một chất làm chậm tăng trưởng thông qua sự ức chế quá trình sinh tổng hợp GA (Gibberellin) thuộc nhóm triazole có vòng 5 cạnh, trong đó có 2 nguyên tử Cacbon và 3 nguyên tử Nitơ có tên hóa học là (2RS, 3RS) -1- (4-chlorophenyl)-4,4-dimethylethyl- 2-(1H-1,2,4-triazol-l-yl) pentan-3-ol và có công thức hoá học tổng quát là C16H20ClN3O. PBZ có thể được hấp thu qua lá, tán cây, thân và rễ, được di chuyển qua mô xylem đến bên dưới chồi sinh mô. Ở đó nó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp GA và làm chậm tốc độ phân chia tế bào, làm cho thực vật trở nên già cỗi hơn làm gia tăng việc sản xuất hoa và nụ trái. 2. Quy trình xử lý xoài ra hoa 2.1 Giai đoạn sau khi thu hoạch Cây xoài ra hoa trên chồi tận cùng nên việc kích thích cho xoài ra đọt non là yếu tố quan trọng quyết định khả năng ra hoa của xoài. Do đó, sau khi thu hoạch xoài chính vụ vào tháng 4-5 cần tiến hành các biện pháp kỹ thuật để thúc đẩy cây ra đọt non tập trung để dễ phòng trừ sâu bệnh và kích thích ra hoa. Các biện pháp quan trọng cần thực hiện là: - Tỉa bỏ những phát hoa đã rụng trái, cành vô hiệu trong mình mẹ, cành ốm yếu, bị sâu bệnh hoặc che rợp lẫn nhau gây trở ngại cho việc chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch. Thông thường những phát hoa đã rụng bông và trái non phải mất 3-4 tháng mới rụng. Do đó, nếu cắt bỏ những phát hoa nầy sẽ kích thích cho cây ra đọt sớm hơn. - Bón phân: Giúp cho cây ra chồi mập, lá to, tích lũy nhiều chất dự trữ giúp cho cây có khả năng ra hoa và nuôi trái trong mùa sau. Đây là giai đoạn thúc đẩy sự sinh trưởng của cây nên công thức phân thường có đạm và lân cao hơn so với kali như 2:1:1, 2:2:1 hay 3:2:1. Lượng phân bón tùy theo tuổi cây, tình trạng sinh trưởng và năng suất mùa trước. Xới đất quanh gốc bón phân cho cây - Tưới nước: 2-3 ngày/ lần giúp cho cây xoài ra đọt tập trung. Đối với cây già (20-30 năm tuổi) khả năng ra đọt kém, cần kích thích cho cây ra đọt non bằng cách phun urê ở nồng độ 1,5-2,0% hoặc gibberellin ở nồng độ từ 5-10 ppm. 2.2 Giai đoạn ra đọt non - Sự phát triển của đọt non có ảnh hưởng rất quan trọng đến khả năng ra hoa và nuôi trái của cây xoài, do đó cần chú ý phòng trừ các loại sâu, bệnh để bảo vệ cho đọt non xoài phát triển tốt. - Các loại sâu bệnh cần chú ý phòng trừ trong giai đoạn này là: Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), Rầy bông xoài (Idiocerus spp.) hay một số lọai sâu ăn lá như câu cấu xanh (Hypomeces squamosus), bọ cắt lá (Deporaus marginatus Pascoe). - Trường hợp bón phân không đúng lúc hay lượng phân không đầy đủ chồi non xuất sẽ ngắn, ốm yếu. Có thể bổ sung bằng cách phun các lọai phân bón qua lá như phân vi lượng Ruby của công ty Delta (https://congtydelta.com/san-pham/568/ruby-chai-500-ml).   2.3 Xử lý paclobutrazol - Thời điểm xử lý: Khi lá non đã phát triển hoàn toàn, lá có màu đỏ đồng hay vàng nhạt (15-20 ngày tuổi) hay lá có màu đọt chuối đến màu xanh nhạt. Không nên xử lý hóa chất khi lá đã già (có màu xanh đậm). Lá non có màu đồng - Liều lượng: 1-2 g nguyên chất/ m đường kính tán hoặc sản phẩm thương mại Paclo 25 liều lượng 10g/ 10 lít nước cho 1 m đường kính tán. Liều lượng hóa chất tùy thuộc vào tuổi cây, tình trạng sinh trưởng của cây. Liều lượng paclobutrazol cũng tùy thuộc vào từng giống. Nồng độ quá cao có thể làm cho phát hoa ngắn hay chùn lại, không có khả năng đậu trái. - Cách xử lý tưới vào đất: Xới đất xung quanh theo hình chiếu của tán cây, sau đó pha hóa chất với 20-50 lít nước tưới đều vùng đất đã xới. Đối với vùng đất tơi, xốp, có nhiều cát nên tưới với lượng nước ít hơn để tránh cho dung dịch hóa chất bị thất thoát do bị thấm sâu qua khỏi tầng rễ. Một tuần sau khi xử lý hóa chất nên tưới nước đầy đủ để rễ cây xoài có thể hấp thụ hóa chất hoàn toàn. 2.5 Kích thích ra hoa - Sau khi xử lý PBZ khoảng 60-90 ngày, khi lá chồi ngọn có 2 mép dợn sóng phun thiourea ở nồng độ 0,3-0,5% hoặc KNO3 200 - 250g/ 10 lít nước hoặc PBZ 150g/ 25 lít nước. - Cần chú ý là điều kiện mưa dầm, ẩm độ đất cao có thể kích thích mầm lá phát triển thay vì mầm hoa. Do đó chỉ nên kích thích ra hoa khi trời khô ráo và rút nước trong mương khô kiệt cho đến khi mầm hoa xuất hiện. 2.6 Giai đoạn nhú mầm hoa (cựa gà) Khi nhú mầm hoa (cựa gà) (khoảng 8 ngày sau khi kích thích ra hoa), có thể phun ngừa bệnh thán thư bằng Amity Top 500SC, ngừa bọ trĩ bằng Penal Duc 145EC kết hợp vi khuẩn Pyramos 40SL. Bổ sung Canxi Bo liều lượng 50ml/ 25 lít nước giúp. Có thể phun lập lại sau khi mầm hoa ra khoảng 1 tấc. Link thuốc trừ sâu: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray Link thuốc trừ bệnh: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh 2.6  Giai đoạn nở hoa (bung chà) - Hoa xoài thụ phấn chéo, chủ yếu nhờ côn trùng như ruồi nên tuyệt đối không phun các loại thuốc trừ sâu bệnh, phân bón trong giai đoạn nầy để không làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn của hoa. 2.7 Giai đoạn phát triển trái - Giai đoạn 7-10 ngày sau khi đậu trái (khi thấy “trứng cá”): phun phân bón lá như: Ruby (50ml/ bình 25 lít nước) để giúp quá trình phân chia tế bào và làm giảm sự rụng trái non. - Giai đoạn 28-35 ngày sau khi đậu trái: Chú ý phòng ngừa sâu đục trái (hột) (Deandis albizonalis) bằng Vua sâu. Phun Dưỡng trái xoài - Giai đoạn 30-35 ngày sau khi đậu trái: Bón phân gốc với tỉ lệ 1:1:1 để giúp cho trái phát triển. Có thể phun canxi bo để hạn chế sự nứt trái. Có thể phun 2-3 lần cách nhau 10 ngày/lần để làm tăng phẩm chất trái. - Giai đoạn 55-60 ngày sau khi đậu trái: Nếu trái phát triển chậm nên bón thêm phân vào đất để giúp trái phát triển tốt. Phun Siêu to trái xoài. Bao trái để ngừa sâu, bệnh. Bao trái bằng túi lưới (bên trái) và túi giấy (bên phải) - Giai đoạn 70-75 ngày sau khi đậu trái: Phun phân vi lượng Ngọt trái lên trái để tăng phẩm chất trái như màu sắc, độ ngọt. - Giai đoạn 84-90 ngày sau khi đậu trái: Thu hoạch khi trái đã phát triển bề rộng, bề ngang, “lên màu” hoặc tỉ trọng bằng 1,02. Có thể xác định thời điểm thu hoạch thích hợp bằng cách cho trái xoài vào nuớc, nếu trái chìm dưới đáy từ từ thì vừa thu hoạch, nếu nổi lơ lửng là chưa thật già và nếu chìm quá nhanh tức là trái đã quá già. Trái già có thể thu hoach   Các sản phẩm phân bón lá bổ sung dinh dưỡng cho cây xoài: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon       Công ty cổ phần BVTV Delta
Bệnh héo rũ trên cây dưa hấu
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh héo rũ trên cây dưa hấu
BỆNH HÉO RŨ TRÊN DƯA HẤU Tác nhân do nấm Fusarium oxysporum f.sp niveum - Triệu chứng: + Bệnh gây hại ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây. Biểu hiện đầu tiên của cây thường xuất hiện ở các lá gần gốc bị héo, dần đến ngọn đều có hiện tượng héo rũ vào buổi trưa và tươi trở lại vào buổi chiều hay tối. Triệu chứng héo lá và héo từng phần của cây sẽ xảy ra trong vài ngày, sau đó triệu chứng héo sẽ lan ra cả cây, làm cho cây chết. Có sọc nâu theo mạch nhựa ở rễ hoặc cổ rễ.           Cây bị héo vào buổi trưa nắng Cây chết héo - Con đường lây truyền + Fusarium oxysporum f.sp niveum có thể lây qua hạt giống, động vật thảy phân, nông cụ, nước tưới, gió và mưa. + Thời gian ủ bệnh là 17 ngày sau khi tấn công và 30 ngày sau bệnh sẽ biểu hiện ra bên ngoài. Nhiệt độ thích hợp là 26-280C cần thiết cho sự lan truyền. - Lưu tồn + Mầm bệnh có thể lưu tồn qua hạt, đất hay xác bã thực vật dưới dạng bào tử áo. Khả năng lưu tồn trong đất của mầm bệnh là rất lâu (16 năm). - Sự xâm nhiễm + Nấm có thể xâm nhiễm vào rễ non hoặc qua vết thương bởi tuyến trùng và côn trùng, phát triển bệnh bên trong mạch dẫn nước và lan lên hệ thống mạch dẫn trong thân. Các bào tử hình thành đông đúc trong mạch dẫn, cản trở luồng nước di chuyển gây hiện tượng cây héo rồi chết. - Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh lên sự phát sinh bệnh + Bệnh thường gây hại nặng ở vùng có nhiều ánh sáng, đất cát, đất có tính axit, và nhiệt độ từ 25-27 0C. - Biện pháp phòng trị + Nhổ bỏ và tiêu hủy cây bị bệnh, sử dụng gốc ghép bầu. Cần phát hiện sớm để tránh lây lan cho cây khác, phun BioRosamil 72WG (pha 75g/ bình 25 lít nước), Unizebando 800WP (pha 75g/ bình 25 lít nước), Amity top 500SC  (15 – 25 ml/bình 25 lít nước), Siêu sạch bệnh(25ml/ bình 25 lít) để phòng trị bệnh.                Sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh     Công ty cổ phần BVTV Delta Bài viết liên quan Bệnh héo xanh trên ớt: https://congtydelta.com/bai-viet/67/benh-heo-xanh-tren-cay-ot Bệnh thán thư trên ớt: https://congtydelta.com/bai-viet/63/benh-than-thu-ot Phòng trừ bệnh do vi rút và vi khuẩn hại gừng: https://congtydelta.com/bai-viet/69/phong-tru-benh-do-vi-rut-va-vi-khuan-hai-gung  
Bệnh héo xanh trên cây ớt
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Bệnh héo xanh trên cây ớt
BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT Tác nhân: do vi khuẩn Ralstonia solanacearum Triệu chứng - Bệnh thường gây hại trong mùa mưa và xảy ra tất cả các giai đoạn phát triển của cây, nhưng thường giai đoạn ra hoa kết trái trở về sau. - Bệnh xảy ra rải rác trên từng cây hoặc từng khóm cây ở giữa ruộng. - Triệu chứng đầu tiên đọt non bị héo vào buổi trưa, tươi lại vào buổi chiều và sáng hôm sau. Sau vài ngày bất thình lình các lá già bên dưới héo nhanh nhưng lá không vàng ( vẫn giữ màu xanh nhưng khô). Triệu chứng héo vào buổi trưa nắng - Tách phần vỏ ở gốc thân ở phần gốc rễ ta thấy các mạch nhựa chuyển thành màu xám đen đến nâu đen. Nếu nhúng phần bị cắt trong ly nước trong sẽ thấy dòng vi khuẩn tuôn ra có màu trắng sữa. Mạch nhựa hóa nâu và dòng tuôn vi khuẩn Phòng trị - Lên liếp cao thoát nước tốt, bón hữu cơ đã ủ hoai mục. - Luân canh không trồng họ cà ớt trên ruộng bị nhiễm bệnh năng 2-3 năm. - Nhổ và tiêu hủy các cây bị bệnh nặng để tráng lây lan. Rải vôi bột và trộn đều vào chỗ gốc cây vừa nhổ. - Tưới thuốc đặc trị vi khuẩn như Kasuduc 3SL (35 - 40ml cho 1 bình 25 lít), Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) vào gốc cây mới bị bệnh.                   Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh Công ty cổ phần BVTV Delta  
Dinh dưỡng lúa
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Dinh dưỡng lúa
DINH DƯỠNG CÂY LÚA - Phân đa lượng: Đa lượng là số lượng nhiều. Phân NPK thuộc loại đa lượng vì cây lúa cần được bón với số lượng nhiều thường là hàng trăm kí trên hecta. - Phân trung lượng: Trung là trung bình, nằm giữa, do cây cần số lượng ít hơn phân NPK, các chất này gọi là trung lượng vì cây vẫn cần nhưng lượng hút vào ít hơn NPK; nếu có bị thiếu cũng không gây hậu quả nghiệm trọng như các yếu tố đa lượng. - Phân vi lượng: Các chất vi lượng thường chỉ bón từ 0,5-2kg trên ha là đủ. Do vậy không phải đất nào cũng thiếu vi lượng rõ rệt như các nguyên tố đa lượng. 1. Quy luật hấp thụ dinh dưỡng của cây lúa - Khi lúa đẻ nhánh hấp thụ ít. - Khi lúa trổ đòng là thời kỳ hấp thụ phân nhiều nhất và cường độ hấp thụ mạnh nhất. - Sau khi ra bông cho đến khi lúa chín lượng hấp thụ phân giảm. Cây lúa hấp thụ dinh dưỡng theo từng giai đoạn 3. DINH DƯỠNG ĐẠM - Vai trò: Là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân. - Triệu chứng thiếu: Cây lúa bị lùn, nở bụi ít, chồi nhỏ, lá ngắn hẹp, trở nên vàng và rụi sớm, cây lúa còi cọc không phát triển. Trong giai đoạn sinh sản bông lúa sẽ ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và có nhiều hạt thối hóa. Triệu chứng thiếu đạm - Triệu chứng dư: cây lúa phát triển thân lá quá mức, mô non mềm, dễ ngã, tán lá rậm rạp, lượng đạm tự do trong cây cao, nên cây dễ nhiễm bệnh, làm giảm năng suất rất nhiều.  Triệu chứng dư đạm 4. DINH DƯỠNG LÂN - Vai trò: Thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây, kích thích rễ phát triển, giúp cây lúa mau lại sức sau khi cấy, nở bụi mạnh, kết nhiều hạt chắc, tăng phẩm chất gạo, giúp lúa chín sớm và tập trung hơn. - Triệu chứng thiếu: + Cây lúa lùn, nở bụi kém, lá thẳng hẹp và màu sậm hơn bình thường hoặc ngã sang màu tím bầm, lúa sẽ trổ và chín muộn, hạt không no đầy và phẩm chất giảm. + Cây lúa cần lân nhất trong giai đoạn đầu. Khi cây lúa trổ, khoảng 37-83% chất lân được chuyển lên bông. Triệu chứng thiếu Lân 5. DINH DƯỠNG KALI - Vai trò: + Làm cứng cây, giúp cây quang hợp tốt, bông to, chắc hạt, chống rét, hạn chế sâu bệnh, Kali chủ yếu trong rơm rạ, chỉ khoảng 6-20% ở trên bông. Triệu chứng thiếu: + Chiều cao và số chồi bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh dốm nâu, lá già rụi sớm. + Cây cần Kali ở giai đoạn đầu sinh trưởng và giai đoạn cuối.            Triệu chứng thiếu Kali 6. DINH DƯỠNG SILIC - Vai trò: + Giúp cây lúa cứng cáp, chống đỗ ngã, kháng sự xâm nhập của mầm bệnh và sự tấn công của côn trùng, lá thẳng đứng, nhiều bông. + Giảm thoát hơi nước giúp cây chịu hạn khỏe hơn. - Triệu chứng thiếu: + Lá mềm, rũ xuống. + Cây thiếu Silic thường bị đỗ. Cây lúa thiếu Silic và lúa bị đỗ ngã do thiếu Silic 7. DINH DƯỠNG SẮT (Fe) - Vai trò: + Là thành phần cấu tạo của Chlorophyll (diệp lục tố) và một số phân hóa tố trong cây. + Sắt cần cho quang hợp. + Thiếu sắt hạn chế sự hấp thụ Kali. - Thiếu sắt: + Toàn bộ lá trở nên úa vàng và rất nhợt nhạt. + Toàn bộ cây lúa trở nên úa vàng và chết nếu thiếu sắt nghiêm trọng. Triệu chứng thiếu sắt - Ngộ độc sắt (Fe): + Các đốm nhỏ màu nâu ở các lá phía dưới bắt đầu từ ngọn lá hoặc toàn bộ lá có màu vàng da cam đến màu nâu. + Màng đen phủ lên bề mặt rễ. Giảm sức oxi hóa của rễ. Triệu chứng ngộ độc sắt               Công ty cổ phần BVTV Delta  
Kỹ thuật trồng dưa hấu
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng dưa hấu
KỸ THUẬT TRỒNG DƯA HẤU 1. Chọn giống Nhóm dưa ăn trái tươi - Thành Long TN 522 (vỏ trái có sọc lem), Bảo Long TN 467 (vỏ trái xanh đen, sọc mờ): Giống lại F1 của công ty giống cây Trang Nông, dạng trái hình oval, ruột đỏ, vỏ mỏng, chất lượng rất cao, độ ngọt 12-14%, chống chịu bệnh khá, thuận tiện chuyên chở đi xa, đang được người tiêu dung ưa chuộng. Thời gian sinh trưởng 58-60 ngày, trọng lượng trái 2,5-4kg, năng suất 2,5-3,2 tấn/1000m2. Được trồng phổ biến tại ĐB sông Cửu Long - Hắc Mỹ Nhân (công ty giống cây trồng Nông Hữu 1430 và Trang Nông TN 308, 386, 433): Trái hình bầu dục dài, vỏ màu xanh đậm, vỏ cứng thích hợp cho bảo quản và vận chuyển xa. Ruột màu đỏ đậm, đặc, chắc thịt, rất ít xơ, độ Brix cao (12-14%). Trọng lượng trái 2,5-3,5kg, có thể trồng được quanh năm. Thời gian sinh trưởng 56-60 ngày, thích hợp trên nhiều loại đất. Được trồng phổ biến tại ĐB sông Cửu Long - Xuân Lan TN 130 (công ty giống cây trồng Trang Nông): sọc thưa màu xanh đậm, ruột màu vàng tươi, chắc thịt và ngọt. Trọng lượng trái 3,5-4kg, kháng sâu bệnh tốt, có thể trồng được quanh năm. - Tiểu Hắc Long TN 736 (công ty giống cây trồng Trang Nông): Giống hạt lép trái tròn, vỏ trái màu xanh đen đậm và ruột đỏ đậm chắc thịt. - Mặt Trời Đỏ (công ty Syngenta): Dưa hấu không hạt, trái tròn, vỏ trái sọc xanh, ruột đỏ, độ Brix 13-14%, trọng lượng trái trung bình 4-5kg và thời gian sinh trưởng 65-67 ngày. ​Nhóm dưa chưng Tết - Sugar Baby: có bán trên thị trường là giống nhập từ Mỹ (Các hãng Sunblest, Harris Moran, Eagle) Thái Lan (Chia Tai, Trái Bầu). Trong nhiều năm qua giống Sugar Baby được trồng rất phổ biến, nhất là chưng Tết. Trái tròn, trung bình 4-6 kg, vỏ màu xanh đen, ruột đỏ, thời gian sinh trưởng 65-70 ngày, đây là giống thụ phấn tự do. - An Tiêm 95: Giống lai F1, trái to, tròn, nặng 7-8 kg, vỏ đen có gân đậm, ruột đỏ, ngon ngọt, thời gian sinh trưởng 70 ngày và năng suất vượt trội hơn giống Sugar Baby nhập khoảng 20%. Thích nghi rộng với điều kiện thời tiết, đất đai khác nhau, chỉ thích hợp canh tác trong mùa nắng (vụ Noel và dưa lạc hậu sau Tết). ​2. Thời vụ Dưa hấu trồng mùa nắng tốt hơn mùa mưa, vụ Xuân Hè thường bị bù lạch gây hại nặng, mùa mưa các giống dưa hấu lai (F1) cao sản mới trồng được, nhưng khó nhất là vụ Thu Đông (tháng 9-10 âl) mưa dầm dễ bị ngập úng và nhiều bệnh hại. 3. Chuẩn bị đất + Chọn đất ruộng luân canh với lúa, trồng dưa hấu cần có tầng canh tác dày, không nhiễm phèn mặn, đễ thoát nước, mực nước trong mương tưới phải thấp hơn mặt liếp ít nhất 10cm. Ngoài ra cũng có thể trồng dưa hấu trên đất giồng cát, đất liếp, bờ kênh miễn sao có đầy đủ nước tưới tiêu. + Kiểu liếp đôi là phổ biến nhất, trung bình 2 tim mương tưới cách nhau 3,2-4 m ( dưa hấu được trồng một hàng trên liếp đơn rộng 1,3-1,4 m), đậy màng phủ kín mặt đất ngay cả đường bò của dây dưa sau khi thu hoạch trái thu dọn sạch sẽ tàn dư của cây nên có thể trồng liên tục 2-3 vụ. Còn dưa chưng Tết, cần trái lớn nên làm liếp ruộng hơn, khoảng cách giữa 2 tim mương khoảng 6-7m. Mương tưới rộng 40-50cm, đất được đào từng lớp đất mỏng 3-4 cm xếp chồng mí lên nhau giúp cho đất mau khô và dễ tơi ra, liếp cao 15-20 cm nằm dọc chân liếp, bên dưới màng phủ, phía dây dưa bò để tưới nước và thoát nước. Liếp đôi 2 tim mương   4. Gieo trồng - Ngâm ủ hạt giống: Lượng hạt cần 50-60 g để trồng 1000 m2, ngâm hạt trong nước ấm 40-450C khoảng 2-3 giờ, chà rữa sạch nhớt. Ủ hạt bằng cách trái khăn bàn rồi rải hạt dưa lên trên, sau đó cuộn tròn khăn lại. Để nơi khô ráo thoáng mát, ủ khoảng 20-24 giờ sau hạt nhú mầm đem gieo. - Gieo cây con: hạt nảy mầm được gieo trong bầu trong khay ươm chuyên dùng, sử dụng tro trấu làm giá thể gieo cây con. Cần dự trù 10-15% bầu để trồng dặm. Không nên trồng dưa hấu liên tục nhiều vụ trên cùng nền đất vì sự tích lũy mầm bệnh héo rũ (do nấm Fusarium sp.), chỉ khắc phục được bằng phương pháp ghép dưa hấu trên gốc bầu, bí mà hiện nay được áp dụng rộng rãi trên thế giới và ở nước ta. - Cách ghép dưa hấu trên gốc bầu + Trước hết ủ hạt bầu cho lên mầm rồi gieo và bầu đất có kích thước 12x 8-9cm. Đặt bầu ở chỗ có nhiều nắng, hàng ngày tưới nhẹ (vừa đủ ẩm) để cây mọc đều, thân to, mập, khoẻ. Khi cây bầu có hai lá mầm, tiến hành ngâm ủ hạt dưa hấu, rồi cho trấu (đã đãi sạch, ngâm nước cho mềm) vào 2/3 chiều cao của rổ tre, rải hạt dưa đã nảy mầm lên trên và phủ thêm lớp trấu dày 2-5cm, để vào chỗ ít ánh sáng để thân mầm của dưa mọc dài và chậm mở lá mầm. Khi cây bầu ra được lá đầu tiên và cây dưa chưa mở hai lá mầm, tiến hành ghép: dùng lưỡi dao sắc, mỏng, cắt ngọn cây bầu, chừa lại hai lá mầm, dùng ghim tre nhỏ vót nhọn, ghim vào ngọn cây bầu, tạo lỗ sâu 5- 7mm. Sau đó dùng lưỡi lam cắt lấy ngọn cây dưa cách hai lá mầm khoảng 1cm về phía dưới. Rút ghim ra khỏi ngọn cây bầu rồi nhanh chóng gắn ngọn cây dưa vào. Ghép xong đặt bầu cây ở nơi kín gió, có mái che trong 2- 3 ngày. Tưới nhẹ giữ đủ ẩm cho cây để ngọn dưa không bị héo. Khi ngọn dưa đã gắn hoàn toàn với gốc bầu, đưa cây ra nắng. Khi cây dưa tháp bầu đã ra lá thật đem đi trồng. + Thời gian từ lúc ngâm ủ hạt đến khi bầu dưa đạt tiêu chuẩn đem trồng là khoảng 18- 22 ngày. Nên tiến hành ghép dưa vào lúc sáng sớm, hay chiều mát, những ngày mát trời, không mưa... Dưa tháp gốc bầu 5. Trồng cây Cây con có 1 lá nhám (lá thật) thì đem trồng (5-7 ngày sau khi gieo), sau khi đục lỗ màng phủ, đào hốc cách mé mương tưới 40cm, sâu 5-7cm, rộng 7-8cm, cho vào gốc một nắm tay hỗn hợp tro trấu và phân hữu cơ rồi đặt cây con hơi nghiêng về phía trong của liếp đôi, nếu trồng cây ghép nên cắm một que để cố định gốc thân, rãi thuốc có mùi hôi 1-2kg/1000 m2 xung quanh gốc để ngừa côn trùng cắn phá. Khoảng cách trồng giữa 2 cây trung bình 0,5m đối với dưa ăn trái tươi (mật độ 1000-1100 cây/1000 m2 đối với kiểu liếp 3,2-4m), nhưng muốn có dưa cặp để chưng trái to, mỗi trái từ 6-7 kg trở lên nên trồng thưa, khoảng cách giữa các cây khoảng 0,6-0,7 m (mật độ 500 cây/1000 m2, khoảng cách giữa 2 tim mương 6-7 m). 6. Chăm sóc + Bón phân: Lượng phân trung bình cho 1 ha dưa hấu khoảng 50-70 kg Urea + 50 kg KCl+ 800-1000 kg hỗn hợp 16-16-8, phân hữu cơ vi sinh 1000 kg + 500-700 kg vôi bột với công thức nguyên là 151 kg N – 128 kg P2O5 – 94 kg K2O. Bón phân Bảng: Lịch bón phân và lượng phân cho dưa hấu Loại phân (kg/ha) Tổng số Bón lót Ngày sau khi gieo 15-20 35-40 Vôi bột 500-700 500-700 - - Phân hữu cơ vi sinh 1000 1000 - - 16-16-8 800 300 300 200 Urea 50 - 30 20 KCl 50 - 30 20 + Bón lót: Rải toàn bộ vôi bột trước khi đào liếp 5-7 ngày, sau đó rãi một ít rơm cỏ và toàn bộ phân hữu cơ đều trên mặt liếp, tiếp theo rãi 300 kg 16-16-8 lên nửa liếp từ mé rãnh tuới trở vào trong khoảng 60-80 cm (nơi đặt cây con), xới trộn đều vào đất sau cùng.  * Lượng phân còn lại ngoài 2 lần bón thúc chia ra làm nhiều lần tưới, số lượng tăng dần theo nhu cầu của cây dưa (Urea tưới lúc 25-27 ngày và 42-50 ngày sau khi gieo).  * Phân bón rãi nên cách gốc 15-20 cm, bón tới đâu thì tưới nước rộng đến đó để kích thích rễ phát triển rộng khắp cả mặt liếp (bộ rễ dưa có thể ăn rộng 1,2 m). + Tưới nước: Trước khi đậy màng phủ (sau khi bón lót) cho nước vào vừa ngập mặt ruộng cũ, nước sẽ thấm lên đỉnh liếp giúp bộ rễ cây con mới trồng đầy đủ ẩm độ nên không cần thiết tưới trên bộ lá, cây sẽ phục hồi nhanh chóng. Tưới nước + Ngắt đọt: Khi cây có 4-6 lá thật (không tính 2 lá mầm) tiến hành ngắt bỏ đọt thân chính, sau đó cây đâm nhiều nhánh, tỉa chừa lại 2 nhánh tốt nhất, sau khi cây có trái (1 trái/cây), tiến hành ngắt bỏ đọt của 2 chồi (chỉ có 1 chồi mang trái), vị trí ngắt đọt ít nhất cách trái 5-6 lá. Cách làm này giúp tăng độ đồng đều của trái tăng năng suất trái mà không làm thay đổi kích thước và khối lượng trái. + Sửa dây: Khi dây dưa có 2 chồi (khoảng 25 ngày sau khi gieo) thì tiến hành sửa và cố định vị trí bò của dây (dùng lạc tre, hay que chuyên dùng cố định) giúp các dây bò song song khắp mặt liếp theo thứ tự, không quấn chồng lên nhau làm ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây và giảm nơi trú ngụ của nhiều loại sâu bệnh hại. + Tỉa nhánh: Tỉa nhánh sớm khi mới vừa nhú ra 5-7cm, chỉ chừa 2 nhánh/cây cho đến khi thu hoạch giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái đối với các giống dưa hấu F1 chất lượng cao, dưa chưng Tết tỉa chừa 1 thân chính (mang trái) và 2 thân nhánh. + Úp nụ (thụ phấn bổ sung): Đối với các giống dưa hấu lai F1 ngắn ngày chất lượng cao rất dễ đậu trái không cần phải thụ phấn bổ sung, nhưng giai đoạn hoa nở tập trung (33-35 ngày sau khi gieo) không nên sử dụng thuốc trừ sâu có mùi hôi mạnh, không sử dụng phân bón đất, bón lá hoặc chất kích thích thích vì làm giảm đậu trái. Đối với các giống dưa hấu Tết cần thụ phấn, tiến hành vào 6-8 giờ sáng trong thời kỳ hoa trổ rộ (35-40 ngày sau khi gieo), chọn hoa đực tốt úp vào nướm nhụy của hoa cái, thời gian úp nụ càng ngắn càng tốt (3-5 ngày) để các trái có cùng độ lớn, ruộng dưa đồng đều dễ chăm sóc. + Tuyển trái: để cho trái dưa to chỉ nên để 1 trái trên nhánh (1 cây 2 nhánh). Ngắt bỏ hoa thứ 1 và thứ 2 trước khi hoa cái thứ 3 nở (là nụ cho trái tốt nhất). Việc tuyển trái tiến hành khoảng 38-42 ngày sau khi gieo đối với dưa hấu chất lượng cao, 40-45 ngày sau khi gieo đối với dưa chưng Tết, khi trái non bằng trái chanh chọn trái thứ 3 trên dây chánh tức vị trí lá thứ 14-20, nếu dây dưa quá sung có thể chọn trái thứ 4 ở vị trí lá thứ 20-24 sẽ cho trái tốt hơn. Nếu trên dây chính không tuyển trái được thì chọn trái thứ 2 trên dây nhánh tức vị trí lá 8-14. Chọn trái đầy đặn, cuống to, dài, có nhiều lông tơ thẳng, không sâu bệnh… Đồng thời tỉa bỏ tất cả các trái ra sau. Để 1 trái tốt nhất trên 1 nhánh + Kê trái: Nếu dùng rơm kê trái nên phòng ngừa sâu bệnh gây hại trên trái, vì sâu trú ẩn trong rơm lên phá hoại trái, mùa mưa rơm giữ ẩm nên dễ gây bệnh cho trái. Khi trái dưa phát triển nên đặt nằm ngang, thỉnh thoảng trở bề trái tròn đẹp và màu vỏ trái xanh đều, nếu dạng trái tròn (chưng tết) hay oval chỉ đở trái đứng thẳng khoảng 1 tuần trước khi thu hoạch. - Phòng trừ sâu bệnh chính + Bù lạch (bọ trĩ), rầy mềm, rầy phấn trắng, dòi đục lòn lá,…kiễm tra ruộng thường xuyên để phát hiên sớm, phun thuốc trừ sâu thế hệ mới VDC PENALDUC 145EC + Bệnh héo cây con, thán thư, bệnh bả trầu, nứt thân chảy nhựa, héo rũ (chạy dây),…phun BioRosamil 72WG, Unizebando 800 WP. Đốm vi khuẩn trên lá và trái dùng Kasuduc 3SL, Beamy-Kasu 500SC nên phun giai đoạn 30 ngày sau khi gieo. Cần nhổ bỏ và tiêu hủy các bộ phận hoặc cây bệnh nặng để tránh lây lan. 7. Thu hoạch + Dưa hấu thu hoạch khi có độ chín 80-90 %, khoảng 58-60 ngày sau khi trồng đối với dưa hấu F1 chất lượng cao, 65-70 ngày sau khi trồng đối với dưa chưng tết. + Cần ngưng nước 4-5 ngày trước khi thu hoạch giúp dưa ngon ngọt và ít bị bể khi vận chuyển. Ngưng tưới phân thuốc 7-10 ngày để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. * Trong quá trình canh tác có thể sử dụng phân bón vi lượng bổ sung dinh dưỡng cho cây và dưỡng to trái giúp tăng năng suất  Một số sản phẩm nổi bật       Công ty cổ phần BVTV Delta
Kỹ thuật trồng Mít Thái
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng Mít Thái
KỸ THUẬT TRỒNG MÍT THÁI - Mít Thái siêu sớm là giống mít mới xuất hiện những năm gần đây, là giống cây dễ trồng, ít công chăm sóc, ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, đậu trái quanh năm. - Đặc điểm nổi bật của cây mít Thái là cho thu hoạch rất nhanh. Từ lúc trồng đến lúc cho thu hoạch lứa đầu tiên chỉ mất khoảng 12-15 tháng. Cây đậu trái quanh năm nhất là vào mùa hè. Trái mít khi chín có trọng lượng từ 10-15 kg, bên trong có múi khá to và mọng, ăn thơm ngọt đậm. Bên cạnh đó, mít Thái giàu chất dinh dưỡng như vitamin A, C, canxi, sắt, kali, ma-giê và nhiều dinh dưỡng khác, do đó rất có lợi cho sức khỏe người dùng. - Tuy mít Thái dễ trồng nhưng để trồng thành công cây mít Thái, cần lưu ý một số kỹ thuật sau: 1. Chọn đất và chuẩn bị đất trồng - Mít là cây dễ tính, có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, gồm: Đất đỏ bazan, phù sa, đất xám, đất đồi núi… - Tuy nhiên, đất trồng mít phải thoát nước tốt, có tầng canh tác sâu, mít chịu úng kém, ở các vùng đất thấp, khi trồng phải lên líp và đắp mô cao từ 50 – 70 cm. Đào hố trồng cây mỗi hố nên đào với kích thước khoảng 65x65x65 cm - Bón lót: 0,3 - 0,5kg vôi bột + 3kg phân chuồng hoai mục  + 400 g phân lân cao cấp/ hố.   - Ủ hố trồng khoảng 20 – 30 ngày sau đó tiến hành trồng cây giống. 2. Chọn giống Không nên nhân giống bằng hạt vì bị lai giống và cây lâu cho trái. Nên sử dụng cây ghép có đường kính gốc ghép từ 1 – 1,5 cm, cành ghép cao 20 – 30 cm (kể từ vết ghép), cây khỏe mạnh, sạch bệnh nhưng phải là dòng F1 thuần chủng thì mới đảm bảo về năng suất và chất lượng. Nên chọn cây có bộ rễ phát triển mạnh; lá đang giai đoạn già; vết ghép tiếp hợp tốt. Cây mít giống 3. Thời vụ và khoảng cách trồng: - Thời vụ trồng: để cây sinh trưởng và phát triển có hiệu quả nhất, nên trồng vào đầu mùa mưa, nghĩa là từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch. - Khoảng cách trồng: Do mít Thái có khả năng cho trái sớm nên có thể trồng theo mật độ dày, khoảng 3,5m x 3,5 m hoặc 4 m x 4 m. Sau khi thu hoạch mít từ 5 – 7 năm, có thể loại bỏ cây ở giữa, đảm bảo mật độ giữa các cây mít luôn thông thoáng, giúp cây phát triển và đậu trái tốt hơn. 4. Trồng và chăm sóc: - Cách trồng: Rút nhẹ túi đựng bầu ra bỏ, đặt bầu đất vào hố trồng và lấp đất lại, không làm vỡ bầu, đứt rễ. Nếu đất khô phải tưới cho cây ngay, dùng rơm, rạ, cỏ rác... đậy xung quanh bầu để giữ ẩm. Cây cao, ốm yếu dùng cọc cắm cố định cho cây khỏi ngã đổ. Trồng cây con vào hố - Tưới nước: Tháng đầu sau khi trồng, nếu khô hạn phải tưới thường xuyên 2-3 ngày/ lần. Sau đó, có thể tưới 4-5 ngày/ lần. Từ năm thứ hai về sau, tưới cho cây vào giai đoạn mới bón phân và những tháng quá khô hạn. Mít Thái rất sợ úng nên vào mùa mưa lũ, phải kiểm tra kênh mương cống rãnh và có kế hoạch chống úng. - Bón phân: a. Bón lót: 0,3 - 0,5kg vôi bột + 3kg phân chuồng hoai mục  + 400 g phân lân cao cấp/ hố. b. Thời kỳ kiến thiết cơ bản: + Năm thứ nhất: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One +20g NPK 20-10-15 /cây/ lần bón. + Năm thứ hai: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One + 70g NPK (16-16-8)/cây/ lần bón. + Năm thứ ba: Bón 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa: Bio One + 80g NPK (20-20-15)/cây/ lần bón. Đặc biệt, trong thời kỳ kiến thiết cơ bản có thể sử dụng thêm phân phun qua lá hoặc tưới gốc Bio Mít liều lượng 50ml/25 lít. c. Thời kỳ kinh doanh: + Bón lần 1 (sau thu hoạch): Bio One + 100g NPK (20-20-15)/ cây. + Bón lần 2 (khi cây phân hóa mầm hoa): Bio One + 400g NPK (20-20-15)/cây. + Bón lần 3 (khi cây nuôi trái): Bio One + 50g KCl/cây. Đặc biệt, trong khi cây nuôi trái phun thêm Amino Mít định kỳ 10 ngày 1 lần 50ml/25 lít. 5. Tỉa cành, tỉa trái: - Tỉa cành: Tỉa những cành sâu bệnh để cây thông thoáng nhằm tăng năng suất và mang tính thẩm mỹ. Tiến hành tỉa cành khi cây cao khoảng 1 m trở lên, cây còn nhỏ tỉa cành tạo tán 2-3 lần/năm. Cây lớn mỗi năm một lần khi thu hoạch trái xong. Cách tỉa cành mít như sau: + Cắt bỏ các cành gần sát mặt đất (từ 40 cm trở xuống). + Tỉa bỏ bớt các cành cấp 2, cấp 3... cho cây vừa đẹp vừa thoáng. + Giữ lại cành cấp 1 cách gốc khoảng 40 cm trở lên, chọn các cành mọc theo các hướng khác nhau, cành trên cách cành dưới khoảng 40 – 50 cm, tạo thành tầng không quá 5 cành cấp 1. - Tỉa trái: Tỉa bớt trái xấu, trái sâu bệnh, trái nhỏ và cả những trái bình thường cho mật độ trái phù hợp với từng cây. Tỉa trái +    Khi cây 1 năm tuổi: nên tỉa bỏ chỉ chừa một trái/lứa. +    Năm thứ hai: để 2 trái/lứa, thu hoạch được 4 trái/năm. +    Năm thứ ba: để 3 trái/lứa, một năm 2 lứa, sẽ được 6 trái và như thế tăng số trái/cây theo từng năm  tuổi. 6. Phòng trừ sâu, bệnh hại mít Thái:  6.1. Bệnh hại: a. Bệnh thối nhũn - Cây con ở vườn ươm có độ ẩm cao, quá rậm rạp dễ bị bệnh và bệnh lây lan rất nhanh. Bệnh có thể do nấm Rhizoctonia solani, Sclerotium, Pythium gây nên. - Trên thân gốc và bề mặt vật liệu nuôi cây có nhiều hạch nấm tròn to, nhỏ dầy đặc và lây lan nhanh. Bệnh làm teo gốc, thân lá có đoạn tươi xanh và phần non chết gục như bị luộc trong nước nóng. - Phòng bệnh: Sử dụng phân hoai mục. Tạo thông thoáng, khô ráo và thoát nước tốt. Xử lý nguyên vật liệu trong vườn ươm bằng các loại thuốc có chứa các hoạt chất như Metalaxyl  + Mancozeb  (BioRosamil 72WG),... - Trị bệnh bằng các loại thuốc có chứa các hoạt chất: Cyproconazole, Difenoconazole (Amity top 500SC). b. Bệnh thối gốc chảy nhựa - Bệnh xảy ra trên các vườn mít quá ẩm ướt và có nhiều loại sâu hại chích hút nhựa cây, gây những vết thương và là cơ hội tốt cho nấm Phytopthora xâm nhập. - Bệnh thể hiện ở vùng gốc có nhiều vết loét, nước dịch từ bên trong chảy rỉ ra, vỏ vùng gốc bị thối từng mảng to, bề mặt lớp gỗ ẩm ướt và thâm đen. Lá vàng, rụng và cây chết. Thường khi phát hiện được thì bệnh ở tình trạng nặng, khó chữa trị. - Cách phòng hữu hiệu nhất là trồng cây trên đất cao ráo, thoát nước tốt. Bảo vệ các thiên địch để hạn chế mật độ sâu rầy gây hại, khi cần thiết dùng các loại thuốc hóa học có chứa các hoạt chất để phun xịt như Metalaxyl  + Mancozeb  (BioRosamil 72WG) kết hợp với Pyramos 40SL. 6.2. Sâu hại: a. Sâu đục thân, đục cành Thành trùng đẻ trứng trên lá non, trái non sau đó đục vào thân cành. Phun Vua sâu vào giai đoạn ra lá non, trái non. b. Ruồi đục trái  Đẻ trứng vào trái già, gây thối nhũn trái. Nên dùng chất dẫn dụ sinh học để diệt ruồi đực. Bao trái Bao trái c. Sâu đục trái Gây hại nặng trên mít làm giảm chất lượng và sản lượng. Thường ở các phần tiếp giáp các trái hay giữa trái tiếp giáp với thân, bị gây hại nặng nhất. Trái có thể bị hư hỏng hay bị rụng sớm. Không nên dùng biện pháp xử lý thuốc hóa học mà dùng biện pháp sinh học để phòng trừ sự gây hại hay bao trái vào cuối giai đoạn trái rụng sinh lý. d. Rầy, rệp Có rất nhiều loài gây hại trên mít, chúng chích hút nhựa lá non, đọt non, trái làm lá quăn queo, cây chậm lớn, trái dị hình và kèm theo là nấm đốm bồ hóng tấn công làm giảm khả năng quang hợp của cây và trái không đẹp. Khi trồng ở nơi cao ráo thường bị rệp sáp tấn công ở phần gốc và rễ. Dùng các loại thuốc hóa học có các hoạt chất sau đây để trị rầy rệp khi điều tra có mật số cao: Pymetrozine (Chets 555),... 6.3. Phòng ngừa hiện tượng xơ đen: Giống cây mít Thái Lan thường bị xơ đen, da không bóng, hình dạng bên ngoài vẫn phát triển bình thường. Trên cùng một cây có thể có trái bệnh, trái không bệnh. Nguyên nhân có thể do thiếu canxi – do mưa quá nhiều khiến canxi trong đất bị hao hụt. Do đó, trước khi cây ra hoa và trong thời gian ra hoa, cần bổ sung canxi cho mít. Loại canxi tốt nhất là canxi lỏng, phun lá và tưới gốc giai đoạn mít ra nụ và cứ định kỳ 2 tháng phun lại 1 lần đến khi thu hoạch ( Canxi Bo Delta ). Trái mít bị sơ đen 7. Thu hoạch: Cây mít sau trồng 3 năm đã cho quả. Từ khi ra hoa đến trái già khoảng 5 tháng. Quả mít già các gai quả sẽ nở căng, vỏ quả chuyển từ màu xanh non sang xanh vàng, nhựa mủ lỏng và trong, vỗ tay vào mặt quả có tiếng bộp bộp. Nếu vận chuyển đi xa thì thu quả già. Nếu thu quả ăn ngay thì đợi cho quả có mùi thơm. Thu quả quá sớm, quả còn non sẽ kém chất lượng. Thu quá muộn dễ bị thối quả. Trái mít đã thu hoạch   Một số sản phẩm liên quan Thuốc trừ sâu, bệnh      Chi tiết sản phẩm: https://congtydelta.com/danh-muc/328/thuoc-tru-sau-ray Phân bón lá bổ sung vi lượng              Công ty cổ phần BVTV Delta    
Kỹ thuật trồng ớt
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Kỹ thuật trồng ớt
KỸ THUẬT TRỒNG ỚT 1. Chọn giống: - Giống Hiểm lai 207, số 1 và 131, Tên lửa: Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-5 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/ cây, chống chịu bệnh thán thư khá. - Giống TN 16: cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6 cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm. - Giống Sừng vàng Châu Phi: Bắt đầu thu hoạch 105 ngày sau khi gieo, trái to, dài 12-13 cm đường kính trái 1,2-1,4 cm, trọng lượng trung bình trái 15-16 g, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, đẹp, cứng, rất cay, mùi thơm, ít rụng trái non, năng suất trung bình 3-4 tấn/ 1000m2. 2. Thời vụ - Có thể trồng quanh năm, tuy nhiên mùa nắng tốt hơn mùa mưa. - Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1dl và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên bờ đất bờ liếp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài. - Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh. - Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5, trồng tháng 5-6 thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư. 3. Chuẩn bị đất - Chọn đất cao, thoát nước tốt. Cuốc đất, bón vôi, lên liếp rộng 1,0-1,2 m, mùa nắng cao 20 cm, lối đi 0,5 m, mùa mưa liếp cao hơn, dạng mui ghe vì ớt chịu úng kém, giữa liếp cao hai bên thấp dần. Bón phân lót, xới trộn đều, mặt liếp phải làm bằng phẳng để rễ dễ phát triển và màng phủ lâu hư. - Rảy phân lót: nên bón lót lượng phân khá nhiều vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại cạnh tranh. Có thể giảm bớt 30% lượng phân so với không dùng màng phủ. - Đậy màng phủ: Tưới thật đẫm nước khi đậy màng phủ, trên 1000 m2 dùng 1,5-2 cuộn màng phủ, chiều dài mỗi cuộn 400m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống. Nếu liếp trồng một hàng dùng màng phủ  khổ rộng 1,0-1,2 m, liếp trồng 2 hàng dùng màng phủ khổ 1,2-1,6 m, nên phủ kín chân liếp thì hiệu quả càng cao, dùng que ghim mé màng phủ tránh gió tốc. 4. Gieo trồng a. Chuẩn bị cây con - Lượng hạt giống đủ gieo cho 1000m2 từ 15-25 g (150-160 hạt/g). Giá thể ươm cây con gồm mụn xơ dừa + tro trấu + phân chuồng hoai + 10kg super lân, trộn đều cho nước đủ ẩm. - Dùng khay ươm lắp đầy giá thể, gieo hạt thẳng vào khay. Cây con đặt trên giàn cách mặt đất 0,5-1 m, đổ lên trên một lớp tro dày 5-10 cm để dễ chăm sóc và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại cây con. - Hạt ớt thường nảy mầm chậm 6-10 ngày sau khi gieo, cây con cấy vào lúc 25-35 ngày tuổi.     b. Trồng cây: - Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50 x (30-50) cm, mật độ 3000-4000 cây/ 1000m2, nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa 70 x (50-60) cm, mật độ 2000-2500 cây/ 1000m2. - Trồng buổi chiều mát, nhẹ nhàng để tránh vỡ đất xung quanh rễ, lắp đất vừa ngang miệng bầu đất, rãi thuốc có mùi hôi ngay lỗ trồng nhằm tránh dế hay sâu ăn tạp hại cây con c. Chăm sóc - Bón phân: Loại lượng và thời kỳ phân bón có thể gia giảm tùy sự sinh trưởng cây ớt với lượng phân nguyên chất khuyến cáo cho 1ha là 220,3 kg N – 180 kg P2O5 – 240 kg K2O. Bảng: Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho cây ớt (kg/ha) Loại phân Tổng số Bón lót Các giai đoạn bón thúc 20-25 NSKT 55-60 NSKT 80-85 NSKT 100-110 NSKT Vôi bột 1500 1500 -       Phân hữu cơ vi sinh 2000 2000 -       NPK (20-20-15) 900 300 150 150 200 100 KCl 175 - 35 52,5 52.5 35 Calcium nitrate 135 - 27 40,5 40,5 27 Canxi Bo   - - Chia làm nhiều lần phun Ghi chú: NSKT: ngày sau khi trồng - Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân mỗi lần một bên hàng ớt hoặc đục lỗ màng phủ giữa 2 gốc ớt. - Phun bổ sung phân bón lá: Canxi Bo (50ml/ bình 25 lít) định kỳ khoảng 10 ngày/ lần để hạn chế thối chóp đuôi trái do tiếu canxi. d. Tươi nước: Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh. Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít. Nếu trồng trên nền đất lúa thì tưới thấm là phương pháp hiệu quả nhất, khoảng 3-5 ngày tưới/ lần, mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để ứ đọng lâu. e. Làm giàn: Giàn giữ cho cây đứng vững, cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái. Giai đoạn cây ớt khoảng 40-45 ngày tuổi dùng cọc cắm dọc theo hàng ớt khoảng 3 m/cọc, sau đó dùng dây gân căng dọc theo hàng ớt. f. Tỉa nhánh: Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành (chán ba) đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng, các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng. 5. Phòng trị sâu bệnh - Bọ trĩ, rầy phấn trắng, rầy mềm, sâu đục trái …. phun VDC PENALDUC 145EC và  ruồi đục trái, sâu đục trái phun Vua sâu          - Bệnh do vi khuẩn : đốm lá vi khuẩn, bệnh héo xanh phun Pyramos 40SL ( 35 - 40ml cho 1 bình 25 lít). - Bệnh do nấm: bệnh thán thư, bệnh héo vàng, bệnh phấn trắng phun BioRosamil 72WG (75 g/ bình 25 lít), Unizebando 800WP (75 g/ bình 25 lít), Amity top 500SC  (15 – 25 ml/bình 25 lít), Avinduc 50SC (50ml/ bình 25 lít)             6. Thu hoạch Thu hoach khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ớt cay cho thu hoạch khoảng 35-40 ngày sau khi trổ hoa (khoảng 85 ngày sau khi gieo đối với ớt hiểm và 100-110 ngày sau khi gieo đối với ớt sừng), ở các lứa rộ thu hoạch thường cách 3-5 ngày thu 1 lần.   Công ty cố phần BVTV Delta
Phân bón acid humic
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Phân bón acid humic
PHÂN BÓN ACID HUMIC 1. THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT CỦA ACID HUMIC - Acid humic là một loại hợp chất hữu cơ từ di cốt động thực vật (chủ yếu là thực vật) trải qua quá trình phân giải và chuyển hóa của vi sinh vật và 1 loạt quá trình hóa học mà hình thành. - Nguyên tố cấu thành acid humic gồm có: Hydro, oxy, nitơ, lưu huỳnh. - Acid humic màu nâu đen hoặc đen, dạng bột không định hình, trong điều kiện chất lỏng giống như nước không kết dính. - Acid humic có thể tan chảy trong 1 số dung dịch acid kiềm, muối, nước, phân giải thành một số chất tính kiềm như: KOH, NH4OH, NaCO3, Na4P2O2 và muối trung tính (NaF, Na2C2O4) và chất acid yếu: oxalic acid, acid chanh, benzoic acid, 1 số hữu cơ lan: ancohol, aceton, và dung dịch hỗn hợn 5 loại NaOH. - Acid humic là 1 loại thể keo thân thiện với nước, ở nồng độ thấp là dung dịch không dính, ở nồng độ cao là 1 loại dung dịch keo. - Kết cấu của acid humic có: acrboxy và phenolic-carboxyl khiến nó có tính acid yếu. - Acid humic còn có khả năng kết hợp với 1 số ion kim loại Al3+, Fe2+, Cu2+, Cr3+ làm thành hợp chất có lợi cho cây trồng. - Hoạt tính sinh lý của acid humic là kích thích cây trồng sinh trưởng và trao đổi chất, cải thiện thực chất cây quả và khả năng kháng bệnh. 2. ỨNG DỤNG ACID HUMIC TRONG NÔNG NGHIỆP a. Cải thiện đất đai, kích thích cây trồng sinh trưởng. - Acid humic là loại vật chất xốp có thể cải thiện loại đất kết cấu hạt, điều tiết tính trạng nước phân, khí nhiệt, nâng cao dung lượng trao đổi của đất, điều tiết độ kiềm acid của của đất để đạt sự cân bằng. Sự hấp thụ acid humic làm giảm thiểu vật chất có hại trong đất ( bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng và các chất độc hại khác) nâng cao năng lực tự làm sạch của đất, giảm thiểu ô nhiễm. Đồng thời acid humic còn có tính keo, có thể cải thiện được quần thể vi sinh trong đất, thích nghi với vi khuẩn có ích sinh sôi nảy nở. - Kích thích cây trồng trao đổi chất, kích thích hạt giống nảy mầm, cây non phát triển nhanh, rễ phát triển gốc cành khỏe, tác dụng quang hợp được tăng cường, tăng nhanh hấp thụ vận chuyển chất dinh dưỡng. - Có năng lực trao đổi và hấp thụ rất mạnh làm giảm tổn thất đạm amon, nâng cao tỷ lệ sử dụng đạm có tác dụng điều tiết ure, làm chậm sự phân gải ure giảm thiểu ure bốc hơi. - Tăng hiệu quả đối với phân lân, kali. - Nâng cao hoạt tính của các nguyên tố trung vi lượng như boron, canxi, kẽm, mangan, đồng. b. Nâng cao hiệu suất thuốc bảo vệ thực vật giảm thiểu độc hại của thuốc, bảo vệ môi trường. MỘT SỐ ẢN PHẨM NỔI BẬT https://congtydelta.com/san-pham/536/humic-9999-dang-bot-tan-80-dt https://congtydelta.com/san-pham/533/bio-one-dt-goi-12kg-x-20-goi-1-thung https://congtydelta.com/san-pham/574/khoang-nui-lua-tui-1-kg Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/330/phan-bon     Công ty cổ phần BVTV Delta  
Phòng trừ bệnh do vi rút và vi khuẩn hại gừng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Phòng trừ bệnh do vi rút và vi khuẩn hại gừng
PHÒNG TRỪ BỆNH DO VI RÚT VÀ VI KHUẨN HẠI GỪNG Tên khoa học: Zingiber officinale Hiện nay, việc sản xuất gừng đang bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây hại như vi rút, vi khuẩn, nấm và tuyến trùng. Trong số đó, vi khuẩn là tác nhân gây hại quan trọng nhất, gây héo và thối mềm ở gừng từ đó làm giảm sản lượng và chất lượng của củ gừng. 1. Bệnh khảm do virus  Tác nhân: do virus CMV (Cucumber Mosaic Virus ) được truyền bệnh qua môi giới là Rầy mềm. - Triệu chứng + Ở giai đoạn đầu với các vết khảm màu vàng và xanh đen song song với gân lá, cây còi cọc ở giai đoạn cuối nhiễm bệnh. + Sự xâm nhiễm của virus này trên gừng làm giảm năng suất củ nghiêm trọng. Lá gừng bị khảm - Quá trình lây nhiễm: qua các dụng cụ nông nghiệp, côn trùng chích hút, đặc biệt do rầy mềm chích hút. - Phòng trừ → Thăm ruộng thường xuyên để phát hiện sớm và tiêu hủy các cây bị nhiễm bệnh. → Phòng trừ rầy mềm. 2. Bệnh héo do vi khuẩn - Tác nhân: do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra + Là bệnh gây hại nghiêm trọng nhất trên cây gừng, bệnh truyền qua đất và hom giống.  Gây hại nặng và cực kỳ nguy hiểm đối với gừng trồng ở các vùng nhiệt đới. + Bệnh lây lan nhanh chóng trong điều kiện mưa nhiều và thời tiết ấm áp. - Triệu chứng + Đầu tiên lá tóp lại nhưng vẫn còn xanh, các lá ở dưới bị trước và lan dần lên trên. Bệnh nặng làm lá bị vàng (lá vàng từ dưới lên trên), sau đó cây héo cụp xuống, có thể quan sát thấy những vùng mọng nước xuất hiện ở cổ rễ nơi tiếp giáp giữa thân giả và củ. + Mổ dọc thân cây bệnh có những sọc đen chạy dài, củ sậm màu hơn và xuất hiện các vùng nhũn nước chứa các túi dịch vi khuẩn. + Khi cắt củ gừng bị bệnh ngâm vào ly nước trong sẽ xuất hiện dòng tuôn vi khuẩn màu trắng sữa. + Ở cây bị bệnh nặng, khi nhổ bụi gừng lên gần như cả củ đều bị thối, phần non bị thối trước trong 5-7 ngày, phần già bị thối chậm hơn. a. Triệu chứng cây héo xanh, b. Củ gừng bị thối, c. Dòng tuôn vi khuẩn - Quá trình lây nhễm + Bệnh tồn tại trong đất, hom giống và xác bã thực vật xâm nhiễm qua các vết thương cơ học hoặc do tuyến trùng. + Bệnh lây lan qua dụng cụ nông nghiệp, nước tưới, nước mưa và xác bã thực vật nhiễm bệnh. - Phòng trị → Biện pháp vật lý: Xử lý giống bằng nước ấm có nhiệt độ 500C trong 30 phút trước khi trồng. → Biện pháp hóa học: 30 ngày sau khi trồng phun ngừa thuốc đặc trị vi khuẩn như Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) hoặc Kasuduc 3SL (35-40ml/ bình 25 lít), những lần sau phun cách nhau 15 ngày. 3. Bệnh thối củ do vi khuẩn Tác nhân: do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi. - Triệu chứng: Bệnh làm củ gừng mềm dần và thối, có mùi thối đặc trưng. Triệu chứng thối củ - Quá trình lây nhiễm + Bệnh gây hại nghiệm trọng ở các vùng thường xuyên ngập nước, qua các vết thương có sẵn hoặc qua giống nhiễm bệnh. + Vi khuẩn bắt đầu ăn chất lỏng tiết ra từ các tế bào bị thương và sinh sôi. Vi khuẩn tiết ra enzym pectolytic làm phân hủy và phá vỡ các tế bào cung cấp thêm thức ăn cho vi khuẩn. Thường thì phần vỏ ngoài không bị thối, cho đến khi bị nứt ra phần thối bên trong lây lan cho các củ gừng bên cạnh. - Phòng trị + Biện pháp vật lý → Xử lý giống bằng nước ấm có nhiệt độ 500C trong 30 phút trước khi trồng. → Vệ sinh đồng ruộng, dọn dẹp tàn dư thực vật. → Xử lý đất bằng vôi. → Trồng trên đất thoát nước tốt. → Tiêu huỷ cây bệnh tránh lây lan. → Bảo quản nơi thoáng mát sau thu hoạch. + Biện pháp hóa học: xử lý với thuốc đặc trị vi khuẩn như Pyramos 40SL (25ml/ bình 25 lít) hoặc Kasuduc 3SL (35-40ml/ bình 25 lít).            Các sản phẩm liên quan: https://congtydelta.com/danh-muc/329/thuoc-tru-benh   Công ty cổ phần BVTV Delta    
Rầy lưng trắng
KIẾN THỨC NHÀ NÔNG Rầy lưng trắng
RẦY LƯNG TRẮNG Tên khoa học: Sogatella furcifera, còn có tên khác là Sogata furcifera Họ rầy thân (Dephacidae), bộ cánh đều (Homoptera) 1. TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI  Rầy lưng trắng chích hút cây lúa tạo hiện tượng cháy rầy tương tự như rầy nâu nhưng không truyền bệnh virus cho cây lúa       2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC - Thành trùng có kích thước cơ thể dài từ 3 – 4 mm, thân màu nâu đen. Giữa ngực trước có một vệt màu vàng lợt. Cánh trong suốt và có một đốm đen ở ngay giữa cạnh sạu của cánh trước, khi cánh xếp lại tạo thành một đốm đen to trên lưng. - Thành trùng cái vừa có dạng cánh ngắn và dạng cánh dài, trong khi rầy đực chỉ có một dạng cánh dài. - Tuổi thọ của thành trùng từ 15 – 20 ngày. - Rầy cái dùng bộ phận đẻ trứng bén nhọn ở cuối bụng rạch bẹ lá hoặc gân lá đẻ thành từng hàng trứng vào trong bẹ cây lúa, mỗi ô từ 5 – 20 cái, một rầy cái có thể đẻ từ 300 – 350 trứng trong vòng hai tuần. - Trứng tương tự trứng rầy nâu nhưng nấp nhọn hơn và dài hơn. - Trứng được đẻ vào trong bẹ lá hay gân chính của lá, gần cổ lá. Thời gian ủ trứng từ 5 – 7 ngày. - Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 15 – 20 ngày. Khi mới nở màu trắng sữa, trông rất giống ấu trùng rầy nâu, nhưng bắt đầu sang tuổi 2 toàn thân rầy có màu xám, giữa bụng ở mặt lưng có một đốm trắng, cuối bụng nhọn hơn phần cuối bụng của rầy nâu 3. TẬP QUÁN SINH SỐNG VÀ CÁCH GÂY HẠI - Thành trùng rất thích ánh sáng đèn, nhất là lúc trăng tròn và rầy cánh dài di chuyển đến ruộng lúa rất sớm. Rầy đực thường vũ hóa trước rầy cái từ 2 – 3 ngày. Rầy cái cánh ngắn thường vũ hóa trước rầy cánh dài. Rầy cái của cả 2 dạng cánh đều bắt đầu đẻ trứng từ 3 – 4 ngày sau khi bắt cặp. Các vết đẻ chung quanh ổ trứng bị hư và ngả sang màu nâu đậm lúc trứng gần nở. - Rầy non mới nở tập trung chích hút tại ổ trứng, vài ngày sau phân tán đến hầu hết các bộ phận của cây. Cả thành trùng và ấu trùng đều thích chích hút cây lúa còn non từ giai đoạn mạ đến nhảy chồi, sau đó mật số giảm dần và đến lúc lúa trổ không còn gây hại nhiều cho cây lúa. Rầy lưng trắng chích hút cây lúa tạo hiện tượng cháy rầy tương tự như rầy nâu nhưng không truyền bệnh virus cho cây lúa. 4. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ  Có thể sử dụng các loại thuốc đặc trị rầy như: VDC PENALDUC 145EC, CHETS DUC 555WG        https://congtydelta.com/vdc-penalduc-145ec   https://congtydelta.com/chets-duc-555-wg-7827.html  Bà con cần thăm đồng thường xuyên để có biện pháp phòng trị kịp thời và hiệu quả                                                                                                                 Công ty cổ phần BVTV Delta
Sản phẩm chất lượng
Sản phẩm chất lượng
Cam kết người tiêu dùng nhận được sản phẩm tốt nhất
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo nguồn cung
Đảm bảo cung cấp sản phẩm đầy đủ theo nhu cầu sử dụng của khách hàng
Miễn phí Vận chuyển
Miễn phí Vận chuyển
Cho các đơn hàng thuộc tỉnh miền Tây
Giao hàng siêu tốc
Giao hàng siêu tốc
Giao tận nhà hoặc nhận tại cửa hàng
Giỏ hàng
Giỏ hàng của bạn đang trống.
Zalo -  CÔNG TY CP BẢO VỆ THỰC VẬT DELTA